Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
này chúng ta thấy hoạt động chăn nuôi tạo ra các sản phẩm (thịt, chứng, sữa,
lông, da…) phục vụ cho nhu cầu con người, ngoài ra nó còn cung cấp nguyên
liệu cho các ngành chế biến công nghiệp khác, cung cấp phân bón cho ngành
trồng trọt. Do đó, khi mà chăn nuôi phát triển sẽ kéo theo nhiều ngành kinh tế
khác phát triển.
3. Các hệ phụ của hệ thống nông nghiệp
3.1. Hệ thống chăn nuôi
Hệ thống chăn nuôi bao gồm toàn bộ kỹ thuật và thực tiễn do một cộng
đồng sử dụng để khai thác một khoảng không gian nhất định, các nguồn tài
nguyên thực vật, động vật trong điều kiện tự nhiên tướng ứng với mục tiêu
của cộng đồng và các cản trở của môi trường.
Có thể hiểu rằng hệ thống chăn nuôi là một hoạt động dựa trên gia súc,
gia cầm, sử dụng nguồn thức ăn là tài nguyên thực vật. Gia súc, gia cầm đã
gắn bó với con người từ xa xưa, nó là một loại vật nuôi hữu ích và có một tầm
quan trọng rất lớn trong xã hội – nó có thể sản xuất ra các sản phẩm có giá trị
như : thịt, trứng sữa, lông da,…) vật nuôi có thể thu nhận các chất dinh dưỡng
mà con người không thể sử dụng được hoặc các chất thải của con người hoặc
các phụ phẩm trong các ngành sản xuất khác.
Từ xa xưa, tổ tiên của chúng ta đã thuần hoá vật nuôi hoang dại thành
vật nuôi trong gia đình và từ đó các phướng thức chăn nuôi cũng bắt đầu được
hoàn thiện. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều dạng chăn nuôi khác nhau, mỗi
dạng phù hợp với một phương thức chăn nuôi cụ thể mà chủ yếu là phụ thuộc
vào trình độ thâm canh, loại vật nuôi, môi trường tự nhiên, nguồn lợi từ các
sản phẩm chăn nuôi ấy, sản phẩm chăn nuôi có thể sản xuất theo phương
hướng sau:
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Phương hướng chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và các sản phẩm của chúng.
Sản phẩm Gia súc, gia cầm Phương thức chăn nuôi
Thịt Trâu, bò, gia cầm… Nuôi thả, nuôi nhốt
Trứng Gia cầm Nuôi thả, nuôi nhốt
Sữa Bò sữa Nuôi gia đình, nuôi trang trại
Thuỷ sản Cá, tôm, cua… Nuôi ao, hồ
Lông, len, da Cừu, dê, cá sấu… Nuôi chăn thả, nuôi nhốt
Tơ Tằm Nuôi gia đình
Mật Ong Nuôi trong gia đình
3.2. Hệ thống trồng trọt
Hệ thống trồng trọt là hệ thống con trong hệ thống nông nghiệp, nó ảnh
hưởng rất lớn tới sự phát triển của hệ thống chăn nuôi và các hệ phụ khác.
Hệ thống trồng trọt là toàn bộ các thửa ruộng được cây trồng như nhau
và có cùng một diễn thế cây trồng. Như vậy hệ thống trồng trọt là một hệ
thống trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng, được bố trí trong
một khoảng không gian nhất định. Vì vậy, nghiên cứu hệ thống trồng trọt cần
xem xét các vấn đề.
- Các phương thức trồng trọt.
- Cơ cấu cây trồng, diện tích cây trồng.
- Kỹ thuật trồng trọt cho các hệ thống.
Hệ thống trồng trọt có những chức năng khác nhau như : cung cấp
lương thực cho con người và gia súc, chống sói mòn, giữ nước cải tạo đất,
điều hoà sinh thái, và nó còn là nguồn nguyên liệu dồi dào cho nhiều ngành
công nghiệp khác.
Với chăn nuôi thì hệ thống trồng trọt tạo nguồn thức ăn chính cho gia
súc, gia cầm như : hái, củ, quả, thân, lá… nó tạo nên sự cân bằng trong hệ
thống sinh thái.
Có thể nói rằng trồng trọt có tầm quan trọng bậc nhất trọng sự phát
triển của ngành chăn nuôi, nó là nguồn kích thích thúc đẩy chăn nuôi.
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống chăn nuôi
Muốn chăn nuôi đạt hiệu quả cao phải biết kết hợp hài hoà giữa các yếu
tố : con giống, thức ăn, môi trường và công tác quản lý, chăm sóc, thú y.
4.1. Yếu tố con giống
Đây là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả Sản xuất nó ảnh
hưởng đến tốc độ phát triển cũng như chất lượng sản phẩm chăn nuôi – Do
vậy cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng như nhau mà con giống khác nhau
sẽ cho kết quả hoàn toàn khác nhau kéo theo hiệu quả chăn nuôi cũng hoàn
toàn khác nhau. Chính sự khác biệt này nói nên tầm quan trọng của giống vật
nuôi.
Đó là lý do này hay công tác giống được quan tâm đên nhiều, điều này
được thể hiện thông qua những việc làm như : Lai tạo giống mới đột biến
gen…để tạo ra các giống có tính năng sản xuất như mong muốn.
Hiện nay nước ta có chủ trương cải tạo đàn bò Vàng Việt Nam bằng bò
Lai Sind, phát triển đàn bò sữa vùng trung du miền núi, đàn lợn : các giống
lợn, Lanchace, Duroc, Yorkshire…đang được nuôi thuần hay lai tạo để phát
triển rộng rãi tại các trang trại nông hộ. Đàn gia cầm, các giống gà : Tam
Hoàng, lương Phượng, giống vịt siêu trứng, ngan Pháp … cũng được nhập
vào nước ta và nuôi khá nhiều.
Như vậy giống vật nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hệ thống
chăn nuôi, con giống được chọn để nuôi không chỉ phù hợp với điều kiện khí
hậu, thổ nhưỡng, chống chịu bệnh tật tốt, mà còn phải có ưu thế Sản xuất ra
các sản phẩm như : thịt, trứng, sữa … đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng. Ngày
nay chúng ta có thể áp dụng những tiến bộ khoa học di truyền tác động vào
giống gia súc, gia cầm để tạo ra ưu thế lai tạo ra được những giống gia súc,
gia cầm có những tính trạng mong muốn.
7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
4 2.Thức ăn
Thức ăn có một vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi, nó ảnh hưởng
rất lớn đến năng xuất vật nuôi, cùng một loại giống, loại vật nuôi những điều
kiện dinh dưỡng khác nhau thì hiệu quả kinh tế sẽ khác nhau. Vật nuôi nào
được sử dụng chế độ dinh dưỡng tốt, phù hợp sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
hơn và ngược lại.
Thức ăn chăn nuôi có nhiều loại những thức ăn được người dân sử
dụng phổ biến là : gạo, ngô, sắn, đỗ tương, rau… ngoài ra còn có nhiều loại
thức ăn gia súc Sản xuất. Tuỳ thuộc vào từng loại vật nuôi mà chúng đòi hỏi
phải cung cấp các loại thức ăn với tỷ lệ khác nhau. Trong chăn nuôi chi phí
cho thức ăn chiếm khoảng 60 – 70%, đây là chi phí đơn thuần trong chăn
nuôi, nó tác động trực tiếp đến lợi nhuận của người Sản xuất. Muốn giảm giá
thành trong chăn nuôi phải phối hợp các loại thức ăn hợp lý tránh lãng phí, sự
phối hợp khẩu phần này phải phù hợp với từng loại thức ăn là một điều đáng
lưu tâm, giá các loại thức ăn quá cao mà giá thành sản phẩm chăn nuôi lại
thấp hoặc chất lượng thức ăn đảm bảo yêu cầu dinh dưỡng thì nó sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới hiệu quả chăn nuôi.
4.3.Yếu tố môi trường
Điều kiện môi trường tự nhiên là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu
quả kinh tế trong chăn nuôi nông hộ, các yếu tố môi trường bao gôm.
* Môi trường tự nhiên
- Điều kiện khí hậu : nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa…
- Đất đai : Địa hình, độ màu mỡ …
- Nước : số lượng và chất lượng nước ( độ sạch, bẩn).
* Môi trường kinh tế – xã hội.
- Quyền sở hữu đất đai.
- Vốn, lao động.
- Năng lượng, cơ sở hạ tầng.
- Thị trường.
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
- Tôn giáo.
4.4. Công tác quản lý, chăm sóc, thú y
Trong chăn nuôi việc quản lý, chăm sóc, thú y mang một tầm quan
trọng rất lớn nó ảnh hưởng không nhỏ tới thành công trong chăn nuôi.
Quản lí, chăm sóc là việc tạo cho gia súc, gia cầm một chế độ ăn uống,
nghỉ ngới thích hợp, giúp cho con vật tránh được những Stress không đáng
có, đồng thời giúp cho người chăn nuôi phát hiện sớm những con bị bệnh, loại
thải hay điều trị kịp thời tránh được những thiệt hại đáng tiếc trong chăn nuôi.
Thực chất của công tác này là nâng cao sức đề kháng của con vật nhằm hạn
chế khả năng nhiễm bệnh và lây lan dịch bệnh.
Thú y có một vai trò không thể thiếu trong chăn nuôi nhất là trong giai
đoạn hiện nay. Thực tế cho thấy ở những nơi chăn nuôi phát triển mà lại coi
nhẹ công tác thú y thì ở nơi đó rất dễ tránh được những thiệt hại trong chăn
nuôi thì người chăn nuôi phải tuân thủ các quy trình phòng bệnh vệ sinh, bằng
vacxin, tiêu độc khử trùng chuồng trại đúng định kỳ. Bên cạnh đó phải chẩn
đoán nhanh chính xác, kịp thời để phát hiện ra những con bị bệnh bằng các
phương pháp chẩn đoán lâm sàng ( sờ, nắm, gõ, nghe,… ) và phi lâm sàng
( xét nghiệm phân, nước tiểu, dịch tiết…) thực tế trong chăn nuôi nông hộ thì
công tác thú y nhiều khi vẫn chưa được coi trọng nên dịch bệnh rất dễ xảy ra
trên một vùng lớn.
5. Dịch bệnh
Dịch bệnh trong chăn nuôi luôn là vấn đề rất được quan tâm, cùng với
việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lí tốt thì vấn đề dịch bệnh cũng phải được
phòng, chống tốt, có vậy chăn nuôi mới đạt hiệu quả kinh tế cao. Thực tế
trong chăn nuôi hay gặp những bệnh truyền nhiễm, nội khoa, bệnh ký sinh
trùng bệnh ngoại khoa, bệnh sinh sản.
5.1. Bệnh truyền nhiễm
9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Bệnh truyền nhiễm là một bệnh do vi sinh vật gây nên, có tính chất lây
lan và có thể phát thành dịch ở một khu vực hay nhiều khu vực khác nhau, do
đó nó là vấn đề rất quan trọng bởi hàng năm nó làm thất thu rất nhiều đối với
các nhà chăn nuôi nhất là đối với quy mô ngày càng lớn ( Nguyễn Vĩnh
Phước, 1978 .
5.1.1. Quá trình sinh dịch
Quá trình sinh dịch là quá trình bệnh truyền nhiễm lây lan liên tục từ
con vật ốm sang con vật khoẻ.
Quá trình sinh dịch gồm 3 khâu : Nguồn bệnh, nhân tố trung gian
truyền bệnh và súc vật thụ cảm. Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và chủ yếu, là
điểm xuất phát của quá trình sinh dịch nhân tố trung gian truyền bệnh nối
liền giữa nguồn bệnh với súc vật thụ cảm làm cho quá trình sinh dịch thực
hiện thuận lợi súc vật thụ cảm là yếu tố làm cho dịch biểu hiện ra đồng thời
nó lại trở thành nguồn bệnh làm cho quá trình sinh dịch được nhân lên, được
thúc đẩy mạnh hơn.
5.1.1.1. Nguồn bệnh
Đây là khâu đầu tiên và là khâu chủ yếu của quá trình sinh dịch.
( Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 2001) cho rằng nguồn bệnh là nơi mầm
bệnh khu trú và sinh sản thuận lợi và từ đó trong những điều kiện nhất dịnh sẽ
xâm nhập vào cơ thể bằng cách nay hay cách khác để gây bệnh.
Nguồn bệnh là nơi tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn tại và gây bệnh.
Như vậy nguồn bệnh là những vi sinh vật sống mà ở đó có những điều kiện
thuận lợi, đầy đủ cho mầm bệnh tồn tại và sinh sản lâu dài.
Nguồn bệnh biểu hiện dưới hai dạng.
+ Con vật ốm ở các thể bệnh khác nhau:
Thể quá cấp tính
Thể cấp tính
Thể mãn tính
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Thể ẩn tính
Thể mang trùng
+ Con vật nghi mắc bệnh.
Hiện tượng mang trùng rất nguy hiểm về mặt dịch tễ học, súc vật mang
trùng thường làm lây lan bệnh lớn hơn cả bản thân súc vật ốm, vì những con
vật đang ốm thì con người có thể nhận biết được và có các biện pháp xử lí kịp
thời. Còn ở các dạng mang trùng khó phát hiện và ít được để ý vì thế bệnh
này dễ dàng phát thành dịch.
Ngoài ra, các loại gặm nhấm, dã thú là nguồn bệnh rất nguy hiểm
trong thiên nhiên chúng là ổ vi khuẩn của rất nhiều bệnh truyền nhiễm.
Như vậy, muốn hạn chế dịch bệnh xảy ra phải phát hiện kịp thời những
con bệnh để cách ly kịp thời, quản lí chặt chẽ tối đa quá trình lây lan dịch
bệnh.
5.1.1.2. Nhân tố trung gian truyền bệnh
Bệnh có thể lây lan trực tiếp từ súc vật ốm sang súc vật khỏe do chúng
tiếp xúc với nhau như : khi cọ xát, bú, liếm, ăn nhưng có rất nhiều bệnh lây
lan gián tiếp thông qua các nhân tố trung gian truyền bệnh như : không khí,
thức ăn, đất, nước Nhân tố trung gian truyền bệnh là khâu thứ hai của quá
trình sinh dịch có vai trò chuyền mầm bệnh tới súc vật thụ cảm mầm bệnh
muốn lan truyền từ cơ thể ốm sang cơ thể khoẻ thì nó phải sống một khoảng
thời gian nhất định ở ngoại cảnh trên các nhân tố trung gian truyền bệnh.
Khoảng thời gian đó dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng loại mầm bệnh, nhân tố
trung gian truyền bệnh có nhiều loại và được chia làm 2 loại chính :
Nhân tố trung gian là sinh vật.
Nhân tố trung gian không phải là sinh vật.
Nhân tố trung gian truyền bệnh là sinh vật bao gồm : côn trùng các loại
động vật cảm thụ với bệnh, con người
+ Côn trùng : có nhiều loại như : ve, rận ruồi muỗi
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Đây là các nhân tố sống đóng vai trò rất quan trọng trong việc truyền
bệnh từ con này sang con khác, từ nơi này sang nơi khác.
Động vật : Từ động vật hoang dã đến động vật thuần hoá đều có thể
truyền các bệnh như : nhiệt thân, dịch tả lợn, dai, lở mồm long móng, sảy thai
truyền nhiễm, đóng dấu lợn Các loại dã thú, gặm nhấm không những là
nguồn tàng trữ các ổ dịch thiên nhiên mà còn là nhân tố trung gian truyền
bênh, mầm bệnh được dính vào thân thể của các loại động vật trên và được
truyền đi và có thể truyền qua phân, qua nước tiểu hay qua dịch tiết.
Ngoài ra con người cũng là nhân tố trung gian truyền bệnh, nhất là
những người trực tiếp như : công nhân chăn nuôi, công nhân vắt sữa, cán bộ
thú y mầm bệnh dịch và quần áo, tay chân, giầy dép hoặc ở bên trong cơ
thể con người.
Nhân tố trung gian không phải là sinh vật.
Thức ăn, nước uống là nhân tố phổ biến nhất vidf đa số bệnh truyền
lây bằng đường tiêu hoá qua thức ăn nước uống. Đây là môi trường thuận lợi
cho sự tồn tại của vi sinh vật cũng như bao tử, nha bào của nó.
Qua thực nghiệm cho thấy những vi sinh vật gây bệnh đường ruột như
(salmonella) có thể sống được hàng tuần trong nước (Bùi Đai, 1996 ; Nguyễn
Như Thanh, 2002. Nhờ dòng chảy của nước mà mầm bệnh được mang từ nơi
này sang nơi khác, do nhu cầu sử dụng nước hàng ngày của con vật do đó mà
có thể phát sinh ồ ạt bệnh truyền nhiễm. Mức độ ô nhiễm của nước phụ thuộc
vào thành phần của đất và điều kiện vệ sinh của đất nơi đó. Nguồn nước trong
thiên nhiên luôn bị ô nhiễm và có khả năng tự làm sạch, vi sinh vật trong
nước có thể bị tiêu diệt bằng ánh sáng mặt trời, cạnh tranh sinh tồn giữa
chúng, do thuỷ sinh vật ăn hay do các phage ( thực bào) làm tan. Vì thế mà số
lượng vi sinh vật trong nước bị giảm bớt.
Tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới WHO ( Word Health O:ganisation)
về vi sinh vật của nước uống như sau :
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Nước uống được sau khi lọc và sát khuẩn thông thường 0 – 5 Vi
khuẩn/ 100 ml.
Nước uống được sau khi sau khi đã diệt khuẩn theo các phương thức
cổ điển ( lọc, làm sạch, khử trùng). 50 – 5.000 vi khuẩn / 100 ml.
Nước ô nhiễm chỉ dùng được sau khi đã diệt khuẩn rất cẩn thận và
đúng mức 5.000 – 10.000 vi khuẩn/ 100 ml.
Nước rất ô nhiễm, không dùng nên tìm nguồn nước khác > 50.000 vi
khuẩn/ 100 ml.
Đất : Đất đóng vai trò quan trọng trong việc lây lan dịch bệnh, đặc biệt
là đất bị ô nhiễm. Đất ẩm chứa đất hữu cơ rất thuận lợi cho vi sinh vật tồn tại
và phát triển. Để đánh giá vệ sinh của đất về mặt vi sinh vật người ta sử dụng
một số chỉ tiêu:
Colira ( chuẩn độ E.coli) : số mg đất phát hiện thấy một số vi khuẩn
dạng Colifonm.
Chlostridium pefrigens titrals : Số mg đất phát hiện thấy một vi khuẩn
có nha bào.
Loại đất Colitra Chlostridinm pefrigens titrals
Sạch 1.000 100
Bẩn nhẹ 50 100 – 10
Bẩn nặng 1-2 < 10
Không khí : Mầm bệnh cũng có thể tồn tại trong không khí và truyền
bệnh. Nguyên nhân là do quét dọn chuồng trại chải cọ gia súc hay do cac giọt
nước nhỏ do gia súc ho bắn ra và bám vào bụi giọt niứơc trong không khí.
Mầm bệnh nhập vào súc vật qua đường hô hấp để gây bệnh theo hai phương
thức : truyền bệnh bằng giọt và truyền bệnh bằng hạt bụi.
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Trần Văn Chuyển – Thú y B - K34
Mức độ tác hại của giọt và bụi phụ thuộc vào độ lớn của chúng, và số
lượng mầm bệnh bám vào giọt vào bụi. Ngoài ra tác hại còn phụ thuộc vào độ
ẩm, nhiệt độ cũng như chuyển động của không khí.
Safir đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá độ sạch, bẩn của không khí
như sau:
Loại không khí sạch
Số lượng vi sinh vật trong 1m
2
không khí
Mùa hè Mùa đông
Sạch < 1.500 < 4.500
Bẩn > 2.500 > 7.000
Ngoài ra dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển và nhân tố trung
gian truyền bệnh – nếu các dụng cụ, phương tiện này không được vệ sinh sạch
sẽ thường xuyên thì mầm bệnh có thể tồn tại ở đó và có cơ hội xâm nhập vào
con vật.
Vì vậy để phòng chống dịch bệnh có hiệu quả thì biện pháp quan trọng
là phải vệ sinh sạch sẽ, hạn chế, ngăn chặn không cho vật nuôi tiếp xúc với
nhân tố trung gian tryền bệnh, cụ thể là: vệ sinh thức ăn, nước uống, tiêu độc
chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và nâng cao ý thức, trách nhiệm của con người.
5.1.1.3. Súc vật thụ cảm.
Súc vật thụ cảm là khâu thứ 3 không thể thiếu trong quá trình sinh dịch,
đây là khâu cần thiết để dịch phát sinh và phát triển. Có nguồn bệnh và nhân
tố trung gian truyền bệnh thuận lợi những nếu cơ thể súc vật không cảm thụ
với mầm bệnh thì dịch không thể phát sinh. Vì vậy ta phải chú ý tới việc
chăm sóc, nuôi dưỡng súc vật để nâng cao sức đề kháng của con vật, từ đó
hạn chế được dịch bệnh xảy ra.
Ba nhân tố : Nguồn bệnh, nhân tố trung gian truyền bệnh và súc vật
cảm thụ của quá trình sinh dịch xảy ra một trình tự nếu thiếu một trong ba
nhân tố đó thì bệnh không thể phát thành dịch. Ngoài ra vấn đề kiểm dịch
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét