kinh tế, đáng chú ý là luật ĐTNN tại Việt nam, Luật Đất Đai, Luật Công ty, các
Luật về Thuế, Luật Hàng Hải, Bộ Luật Lao Động nhiều Luật và Pháp Lệnh đợc
sửa đổi để phù hợp với yêu cầu thực tế từng thời kỳ. Luật pháp đã và đang tích cực
đi vào khuôn khổ, môi trờng pháp lý về đầu t đợc cải thiện rõ rệt.
Luật ĐTNN ra đời đã đánh dấu một bớc ngặt mới trong hợp tác quốc tế của
Việt nam với các khu vực và đợc đánh giá là một trong những chế độ về ĐTNN
tiến bộ và thuận lợi ở Châu á, đáp ứng đợc yêu cầu của phần lớn các nhà đầu t
trong và ngoài nớc. Trong phơng thức hoạt động kinh tế của mình, Việt nam có
thêm một phơng thức hoạt động hiệu quả. Luật ĐTNN tại Việt nam ra đời bớc đầu
đã tạo ra một môi trờng pháp lý thuận lợi cho các hoạt động ĐTNN tại Việt nam.
Đây là văn bản pháp lý có đủ hiệu lực tạo sự an tâm tin tởng cho các nhà ĐTNN,
bảo đảm khả năng thực hiện trong thực tế. Trên cơ sở quy định của luật ĐTNN
này chúng ta có điều kiện để mở rộng hợp tác kinh tế với nớc ngoài, phát triển
kinh tế quốc dân, đẩy mạnh các hoạt động thơng mại, đầu t Việt nam hơn nữa.
II. Vài nét về quá trình hoàn thiện chế độ pháp lý về ĐTNN tại
Việt nam
Có thể nói về cơ bản Việt nam đã có những đạo luật và văn bản cần thiết tạo
thành một khung pháp luật phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Riêng ĐTNN
năm 1987 đã đợc nghiên cứu, bổ sung và sửa đổi nhiều lần vào những năm 1990,
1992 và tháng 11/1996 Quốc hội đã thông qua luật ĐTNN sửa đổi để kịp với yêu
cầu của tình hình, có cân nhắc đến ý kiến của các nhà đầu t trong nớc và ngoài nớc
làm cho Luật ngày càng phù hợp với tập quán kinh tế vẫn có đợc tính hấp dẫn
riêng của nó.
Ngay từ lời mở đầu, Luật ĐTNN đã chỉ rõ: " Để mở rộng hợp tác kinh tế với
nớc ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế
quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nớc".
Và theo từng thời kỳ nhất định, Luật ĐTNN đã có những sửa đổi bổ sung cho phù
hợp với điều kiện nền kinh tế trong nớc, tạo đà phát triển cho các doanh nghiệp.
Khái quát về quá trình hoàn thiện chế độ pháp lý về ĐTNN tại Việt nam để
tạo sự nhận thức về sự thay đổi tất yếu khách quan về hệ thống, dần tạo đợc nề nếp
trong thực hiện, chấp hành luật:
5
1. Điều lệ về đầu t nớc ngoài ngày 10/08/1977
Căn cứ vào nghị quyết của Hội Đồng Chính phủ tại phiên họp hội nghị th-
ờng vụ ngày 16/3/1977, Hội Đồng Chính phủ đã ra nghị định 115/CP ngày
18/04/1977 ban hành về điều lệ về ĐTNN tại Việt nam. Qua bản điều lệ này, nhà
nớc Việt nam cho phép đầu t nớc ngoài tại Việt nam, sẵn sàng tham gia, mở rộng
các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế với các nớc không phân biệt chế độ chính trị,
kinh tế, xã hội. Nhà nớc Việt nam hoan nghênh việc ĐTNN tại Việt nam trên
nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt nam và hai bên cùng có lợi.
Điều quan trọng của hoạt động đầu t, đã đợc điều lệ xác định, là cơ sở để bảo vệ
lợi ích quốc gia và lợi ích của các nhà ĐTNN, cũng là một trong những nguyên tắc
cơ bản chủ yếu trong quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và nhà nớc ta.
Điều lệ về đầu t đã phần nào thể hiện đợc sự tiến bộ và tính thời sự của nó
bằng việc quy định các hình thức hợp tác đầu t ( hợp tác sản xuất chia sản phẩm,
Xí nghiệp, Công ty hỗn hợp, Xí nghiệp t doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu).
Và điều này đã tạo cơ sở cho các nhà đầu t có điều kiện để lựa chọn hình thức đầu
t thích hợp đáp ứng đợc nhu cầu và mục đích của cả nhà đầu t lẫn nhà nớc, nền
kinh tế Việt nam. Điều lệ còn quy định chính sách u đãi nhằm khuyến khích các
tổ chức, cá nhân nớc ngoài đầu t vào Việt Nam nh: Bảo đảm quyền kinh doanh,
bảo hộ vốn trong một thời gia nhất định; nếu quốc hữu hoá Xí nghiệp thì Chính
phủ Việt nam sẽ mua lại với giá hợp lý; đợc chuyển nhợng về nớc lợi nhuận, vốn
thu hồi; miễn giảm thuế lợi thức trong những năm đầu kinh doanh tuỳ địa bàn hoạt
động; miễn giảm thuế nhập khẩu một lần, nhiều lần nhằm trang bị cho máy móc
thiết bị cho Xí nghiệp.
Điều lệ đầu t năm 1977 đã thu hút đợc sự chú ý của giới kinh doanh và các
tập đoàn t bản nớc ngoài. Nhng qua một thời gian thực hiện, điều lệ cũng đã bộc lộ
nhiều nhợc điểm nh: lợi ích giành cho các nhà ĐTNN, quyền của các bên nớc
ngoài trong việc quản lý, điều hành hoạt động Công ty cha đủ sức hấp dẫn của các
nhà đầu t nớc ngoài. Hoặc nh việc quy định về thời hạn, điều kiện đợc giảm thuế
lợi tức, ngành nghề, khu vực đợc nhà nớc khuyến khích u đãi cha rõ ràng chính
sách quản lý đầu t, cha chặt chẽ gây tổn thất cho nhà nớc, thủ tục cấp phép rờm rà,
công tác quản lý đầu t cha tập chung vào một mối, hoạt động chậm chạp điều lệ
6
còn mang tính hành chính, thủ tục, mệnh lệnh Ngoài ra, trong thời gian này
Việt nam còn bị Mỹ cấm vận, sự kiện Camphuchia, biên giới phía Bắc nên thực
tế kết quả thu đợc do hoạt động ĐTNN thời kỳ này hầu nh chẳng đợc gì.
Ngày 17/7/1984, bộ chính trị ra Nghị quyết số 19 về quan hệ kinh tế giữa n-
ớc ta với nớc ngoài: " Cần bổ sung và hoàn thiện điều lệ đầu t đã ban hành để có
tính hấp dẫn hơn ". Và trong phơng hớng nhiệm vụ kế hoạch kinh tế, xã hội năm
1985 cũng nêu " Nghiên cứu ban hành luật đầu t mới để mở rộng hợp tác, tranh
thủ tín dụng của các nớc xã hội chủ nghĩa và các nớc khác cũng nh các tổ chức
quốc tế, có chính sách rộng hơn để thu hút nguồn vốn từ bên ngoài vào".
2. Luật đầu t nớc ngoài năm 1987
Luật đầu t nớc ngoài năm 1987 và một loạt các văn bản khác đợc ban hành
sau đó nhằm cụ thể hoá việc thực hiện luật đầu t nớc ngoài, đặc biệt là nghị định
139/HĐBT ngày 5/9/1988 đã thực sự mang lại màu sắc mới cho hoạt động ĐTNN
tại Việt nam. So với điều lệ năm 1977 thì nó là một bớc phát triển lớn của chế độ
pháp lý về ĐTNN cả hình thức lẫn nội dung.
Về hình thức đầu t, trên cơ sở các hình thức hợp tác đợc ghi nhận ở điều lệ
năm 1977, luật đầu t nớc ngoài đã quy định lại các hình thức đầu t hoàn thiện hơn
(hợp tác kinh tế trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, Xí nghiệp hoặc Công ty
liên doanh, Xí nghiệp 10% vốn nớc ngoài ).
Về nội dung, tiếp thu đợc những điểm tích cực, tiến bộ cũng nh khắc phục,
hạn chế đợc những điểm nhợc điểm, thiếu sót của luật ĐTNN trong việc khuyến
khích đợc các tổ chức cá nhân nớc ngoài đầu t vào Việt nam qua đó nhà nớc ta đã
tạo điều kiện dễ dàng cho các nhà đầu t nớc ngoài có khả năng định hớng đợc
chiến lợc đầu t của mình từ đó có kế hoạch, chính sách ổn định. Vì thế nó có ý
nghĩa quan trọng đối với chủ đầu t và nớc tiếp nhận đầu t là chúng ta.
Điểm nổi bật của luật ĐTNN năm 1987 là đã ghi nhận các biện pháp bảo hộ
đầu t cho thấy nhà nớc ta đã thực sự tôn trọng và bắt đầu quan tâm đến việc bảo
vệ lợi ích cho các chủ doanh nghiệp nớc ngoài. Quy định này là đúng đắn, phù hợp
với thông lệ quốc tế nên đã từng bớc lôi kéo, hấp dẫn đợc nhiều nhà đầu t nớc
ngoài. Luật đầu t năm 1987 cũng đợc coi là thông thoáng hơn so với các nớc cùng
khu vực, nhng hiệu quả thu hút lại rất hạn chế. Từ khi ban hành cho đến tháng 6
7
năm 1990, chúng ta chỉ cấp giấy phép đầu t cho 165 dự án với tổng số vốn trên 1
tỷ USD. Các dự án chủ yếu tập trung vào khu công nghiệp khai khoáng, công
nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến, vận tải, du lịch với quy
mô nhỏ (trừ các dự án thăm dò khai thác dầu khí) và chủ yếu tập chung ở các tình
phía Nam (80% tổng số dự án), ở phía Bắc có rất ít dự án, còn vùng cao, vùng sâu
không có dự án nào. Sở dĩ dẫn đến tình trạng nh vậy là vì hoạt động đầu t nớc
ngoài ở nớc ta phát triển và thay đổi khá nhanh chóng, một phần là do luật đầu t n-
ớc ngoài ra đời mới đợc gần 3 năm, một khoảng thời gian quá ngắn ngủi để có thể
hoà nhập với tất cả các thay đổi và biến động của nền kinh tế thị trờng với đặc tính
là sự cạnh tranh khốc liệt mà chúng ta vừa mới chuyển sang. Thêm vào đó là sự
tan rã của hệ thống XHCN, sự an rã của khối SEV làm cho nền kinh tế Việt nam
đang đứng trớc nguy cơ bị suy thoái. Trong khi đó đời sống quốc tế lại nổi lên
những xu hớng.
* Ưu tiên cho sự phát triển chạy đua về kinh tế, cạnh tranh kinh tế vừa là bài
học vừa là thách thức lớn đối với mỗi quốc gia.
* Đa dạng hoá các mối quan hệ đối ngoại, muốn làm bạn với các nớc có chế
độ chính trị khác nhau, đặc biệt là các tổ chức kinh tế có quy mô toàn cầu (IMF,
WB).
* Tăng cờng hợp tác khu vực nh khu vực ASEAN, NAFTA.
Vì vậy một đạo luật mới trong thời kỳ này không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều nhà đầu t muốn đầu t vào Việt nam nhng vẫn
còn nghi ngại một số vấn đề gây ảnh hởng đến dự án của họ.
Xuất phát từ những lý do trên, ngày 30/6/1990 luật sửa đổi bổ sung lần 1 ra
đời, phù hợp với tình hình thực tế, tạo môi trờng thuận lợi nhằm thu hút đợc vốn
ĐTNN.
3. Luật sửa đổi bổ sung một số điều năm 1990
Sau hơn hai năm thực hiện luật ĐTNN đã mang lại nhiều kết quả khá quan
trọng, tạo điều kiện cho sự tăng trởng kinh tế của đất nớc. Điển hhình là tổng số
vốn đầu t nớc ngoài năm 1991 bằng cả 3năm trớc đó. Sang năm 1992, kết quả thu
đợc còn khả quan hơn nhiều: gấp 1.7 lần năm 1991. Quy mô đầu t của dự án cũng
8
vì thế mà tăng lên từ 3,5 triệu USD/ dự án năm 1990 lên 7.5 triệu USD năm 1991,
7.6 triệu USD năm 1992.
Tuy nhiên trong tình hình mới, sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh
tế, một số điều hạn chế và bất hợp lý của luật ĐTNN 1987 lại đặt Đảng và nhà nớc
ta trớc một yêu cầu mới, cần bổ sung, sửa đổi sao cho phù hợp. Nhiều khái niệm
và quan điểm ở đây cần xem xét lại và đánh giá một cách khoa học. Chẳng hạn
nh các vấn đề đối tợng điều chỉnh, cơ chế trong liên doanh, tài chính, có nh thế ta
mới có điều kiện cạnh tranh với các nớc trong khu vực nhằm tạo sự hấp dẫn hơn
đối với nhà ĐTNN. Chính vì vậy Nghị định 28/HĐBT ngày 6/2/1991 cũng mang
một nội dung mới nh: quy định về tỷ lệ vốn, kế hoạch góp vốn pháp định Xí
nghiệp liên doanh
Cùng với việc sửa đổi một số nội dung còn có những sửa đổi mang tính văn
phòng, kỹ thuật pháp lý đòi hỏi các Bộ, các ngành có liên quan cần xem xét, rà
soát lại, sửa đổi bổ sung hàng loạt các thông t hớng dẫn có liên quan nhằm làm
cho chế độ pháp lý về ĐTNN ngày càng hoàn thiện hơn, dần dần đi vào cuộc sống
và phù hợp với thực tiễn.
Tuy nhiên, một số dự án lẫn số vốn đầu t giữa các tỉnh, thành phố trong cả
nớc phân bổ không đồng đều, 75% dự án tập trung ở phía Nam, phía Bắc chỉ đạt
25% tổng số dự án, còn miền núi, vùng sâu số dự án chỉ đếm đợc trên đầu ngón
tay.
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học công nghệ, sự gia tăng mạnh mẽ
của xu hớng khu vực hoá, toàn cầu hoá đã cuốn hút nền kinh tế quốc gia vào quá
trình hợp tác hoá và phân công lao động quốc tế. Những nhu cầu mới lại xuất hiện
đã làm cho một số quy định của Luật đầu t 1990 không còn phù hợp nữa và kết
quả là luật sửa đổi bổ sung 1992 ra đời.
4. Luật sửa đổi bổ sung lần II 1992
Luật sửa đổi bổ sung này có bản giải quyết đợc những hạn chế, vớng mắc
mà lần sửa đổi bổ sung trớc cha làm đợc, góp phần thực hiện những mục tiêu kinh
tế xã hội đặt ra trớc mắt, đáp ứng những nhu cầu mới nảy sinh.
Dù quy định rất chi tiết nhng để hớng dẫn cụ thể luật ĐTNN, ngày
16/3/1993 chính phủ đã ban hành nghị định 18/CP nhằm quy định chi tiết và hớng
9
dẫn thi hành luật ĐTNN. Tiếp theo Nghị định này là Nghị định 29/CP ngày
27/5/1993 của chính phủ quy định những biện pháp khuyến khích ngời Việt Nam
định c ở nớc ngoài đầu t về nớc, đã tạo nên một thống văn bản về ĐTNN khá hoàn
chỉnh, có tác dụng lớn trong việc thể chế hoá đờng lối, chính sách của Đảng và
nhà nớc ta.
Cũng thời gian này, các văn bản về ĐTNN cũng đợc ban hành, điều đó
chứng tỏ những cố gắng của nhà nớc ta trong việc tạo ra môi trờng pháp lý thuận
lợi cho các hoạt động đầu t nớc ngoài. Thiện chí đó đã đợc các nhà ĐTNN nghi
nhận và hởng ứng. Luật ĐTNN đã trở thành một công cụ pháp lý quan trọng
khuyến khích các nhà ĐTNN bởi vì các hình thức đầu t, những bảo đảm về mặt
pháp lý, những lĩnh vực mà nhà nớc khuyến khích, u đãi đợc quy định trong luật
ĐTNN đã chứng minh điều đấy. Cụ thể là những năm 1988 - 1990 nhịp độ thu hút
vốn đầu t tăng trung bình hàng năm là 51.6% thì đến năm 1992, con số này đã
tăng lên xấp xỉ 70% của cả 4 năm đó cộng lại. Với việc bổ sung hợp đồng BOT và
khu chế xuất góp phần tạo nên sự phong phú cho hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài tại Việt nam. Đặc biệt là đến tháng 11/1995 số vốn đầu t tăng 80% so với
năm trớc và bằng 30% của tất cả các năm trớc cộng lại, lớn hơn số vốn đợc đa vào
năm 1993 - 1994, tăng 92% so với cùng kỳ năm 1994.
Và theo thời gian, nó cũng đã bộc lộ những hạn chế nhất định, để tránh
nguy cơ bị tụt hậu trong khu vực, đạt đợc mục tiêu chiến lợc đến năm 2000, phải
tạo ra sự thông thoáng hơn nữa về môi trờng đầu t, hệ thống pháp luật phải thống
nhất và đồng bộ. Vì lẽ đó, để hoàn thiện hơn, lần sửa đổi tiếp theo của Luật ĐTNN
vào ngày 12/1/1996.
III. Giới thiệu sơ lợc luật ĐTNN tại Việt nam 1996
Luật ĐTNN tại Việt nam đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá IX kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 12/11/1996 bao gồn 6 chơng, 68
điều đợc bố cục nh sau:
Chơng I: Những quy định cung
Chơng II: Hình thức đầu t
Chơng III: Biện pháp đảm bảo đầu t
10
Chơng IV: Quyền lợi và nghĩa vụ của các nhà ĐTNN và doanh nghiệp có
vốn ĐTNN.
Chơng V: Cơ quan nhà nớc quản lý đầu t Việt nam
Chơng VI: Điều khoản thi hành.
Với mục đích chiến lợc đợc nêu rõ trong lời mở đầu " để mở rộng hợp tác
kinh tế với đất nớc, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phát triển
kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất
nớc".
Tiếp liền sau đó là nghị định 12/CP ngày 18/02/1997 do Chính phủ ban
hành nhằm quy định chi tiết thi hành luật ĐTNN 1996. Nghị định 12/CP gồn 15
chơng, 104 Điều.
Ngoài ra còn rất nhiều văn bản pháp luật của cơ quan nhà nớc khác nh: cơ
quan nhà nớc về hợp tác đầu t của các Bộ, Cơ quan Ngang bộ để quy định cụ thể
việc thi hành luật ĐTNN năm 1996. Phạm vi điều chỉnh của luật ĐTNN là các
quan hệ đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Theo Nghị định 12/CP ngày 18/2/1997 của chính phủ, đối tợng điều chỉnh
của Luật ĐTNN tại Việt Nam bao gồm:
1. Doanh nghiệp Việt nam: gồm các thành phầm kinh tế
- Doanh nghiệp nhà nớc đợc thành lập theo luật doanh nghiệp nhà nớc
- Hợp tác xã đợc thành lập theo Luật hợp tác xã
- Doanh nghiệp đợc thành lập theo luật Công ty
- Doanh nghiệp đợc thành lập theo Luật doanh nghiệp t nhân.
2. Các tổ chức của Việt nam: Thuộc đối tợng nêu tại điều 65 Luật ĐTNN
đáp ứng đợc các điều kiện do Chính phủ quy định gồm bệnh viện, trờng học, viện
nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ, khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên hợp tác
đầu t với nớc ngoài.
3. Doanh nghiệp có vốn ĐTNN: là các doanh nghiệp liên doanh giữa bên
Việt Nam với bên ngoài và các doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài.
4. Ngời Việt nam định c ở nớc ngoài: đầu t trực tiếp về nớc hoặc chung vốn
với tổ chức kinh tế Việt nam để hợp tác đầu t với nớc ngoài, trong cả hai trờng hợp
11
này, họ đều hởng những điều kiện thuận lợi theo quy định tại nghị định 29/CP
ngày 27/5/1993 nh sau:
- Đợc giảm 20% số thuế lợi tức phải nộp
- Đợc nộp thuế lợi nhuận chuyển ra nớc ngoài ở mức thấp nhất là 5%
- Đợc uỷ quyền cho thân nhân ở trong nớc hoặc định c ở nớc ngoài tham gia
hoạt động quốc tế.
- Đợc tạo điều kiện dễ dàng khi xuất nhập cảnh, lu trú, đi lại và đặt văn
phòng đại diện tại Việt nam để xúc tiến đầu t kinh doanh.
5. Cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ký kết hợp đồng BOT, BTO, BT: đây là
trờng hợp đặc biệt, nhà nớc cho phép 1 pháp nhân công pháp nh UBND tỉnh, cơ
quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cấp bộ đợc ký các loại hợp đồng đặc biệt nh:
xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao -
kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT).
Ngoài ra, có một số lĩnh vực và địa bàn đợc nhà nớc Việt nam khuyến khích
nh:
- Lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu
- Nuôi trồng chế biến nông lâm thuỷ sản
- Sử dụng công nghệ cao, kinh tế hiện đại, bảo vệ môi trờng sinh thái, đầu t
vào nghiên cứu và phát triển.
- Sử dụng nhiều lao động, chế biến nguyên liệu và sử dụng có hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên ở Việt nam.
Địa bàn gồm:
* Miền núi, vùng sâu, vùng xa.
* Những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Và nhà nớc Việt nam sản xuất không cấp giấy phép ĐTNN vào các lĩnh vực
gây thiệt hại đến quốc phòn, an ninh quốc gia, di tích lịch sử, văn hoá, thuần
phong mỹ tục và môi trờng sinh thái.
Về hình thức đầu t thì luật ĐTNN quy địnhcác hình thức nh sau:
* Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Hai bên hoặc nhiều bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác
kinh doanh nh hợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm.
12
Đặc điểm của hình thức này:
Các bên trong nớc và nớc ngoài hợp tác thực hiện một hoạt động sản xuất
kinh doanh nào đó trong một thời gian, không gian nhất định theo hợp đồng quy
định. Sự hợp tác này không tạo nên một pháp nhân t pháp. Trớc pháp luật các bên
tự chịu trách nhiệm về phần việc của mình.
Bên nớc ngoài thực hiện nghĩa vụ về thuế theo luật ĐTNN tại Việt nam. Bên
Việt nam thực hiện nghĩa vụ đóng thuế theo các quy định áp dụng đối với các
doanh nghiệp trong nớc.
* Doanh nghiệp liên doanh.
Hai bên hoặc nhiều bên hợp tác với nhau để thành lập doanh nghiệp liên
doanh tại Việt nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp liên doanh đợc
hợp tác với nhà ĐTNN hoặc với doanh nghiệp Việt nam để thành doanh nghiệp
liên doanh mới tại Việt nam. Doanh nghiệp này đợc thành lập theo hình thức Công
ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) có t cách pháp nhân theo pháp luật Việt nam.
Một hoặc nhiều bên nớc ngoài tham gia là liên doanh góp vốn pháp định ít nhất
phải là 30% tổng số vốn đầu t của doanh nghiệp.
* Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài
Đợc thành lập theo hình thức Công ty TNHH, có t cách pháp nhân theo
pháp luật Việt nam. Tổ chức hoặc cá nhân ở nớc ngoài đợc tự mình quản lý doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật Việt nam. Doanh nghiệp này còn đợc hợp tác
với doanh nghiệp Việt nam để thành lập doanh nghiệp liên doanh.
Ngoài ra luật ĐTNN 1996 còn đề cập đến quyền và nghĩa vụ của nhà
ĐTNN và doanh nghiệp có vốn ĐTNN quy định ở chơng IV.
Chơng này thể hiện rõ các chính sách khuyến khích ĐTNN tại Việt nam
qua việc miễn giảm thuế nhập khẩu, thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức trong quá
trình hoạt động. Doanh nghiệp liên doanh còn đợc chuyển khoản lỗ của bất kỳ
năm thuế nào sang năm kế tiếp và đợc bù khoản lỗ đó bằng lợi nhuận của các năm
tiếp theo. Nếu tái đầu t vào các dự án khuyến khích đầu t, doanh nghiệp sẽ đợc
hoàn lại một phần hay toàn bộ thuế lợi tức đã nộp cho số lợi nhuận tái đầu t. Nếu
nhà đầu t nớc ngoài là ngời Việt nam định c ở nớc ngoài còn đợc giảm 20% thuế
lợi tức so với các dự án cùng loại.
13
Trong quá trình thực hiện dự án đầu t nếu có thay đổi về điều kiện đầu t thì
việc miễn giảm thuế cho doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và bên ngoài tham
gia hợp đồng hợp tác kinh doanh do bộ Tài chính quyết định.
Các doanh nghiệp chế xuất đợc miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối
với hàng hoá từ khu chế xuất khẩu ra nớc ngoài và từ nớc ngoài nhập khẩu vào khu
chế xuất. Doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong khu công
nghiệp đợc hởng các u đãi về thuế đối với trờng hợp khuyến khích, đặc biệt
khuyến khích đầu t.
IV. Luật sửa đổi bổ sung ngày 9/6/2000
Để mở rộng hợp tác kinh tế với nớc ngoài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực của đất nớc.
Căn cứ vào Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
Luật nay sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ĐTNN tại Việt nam đợc
Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12 tháng 11
năm 1996.
Luật sửa đổi bổ sung này có một số điểm mới nh sau:
Theo điều 19a " doanh nghiệp có vốn ĐTNN các bên tham gia hợp đồng
hợp tác kinh doanh trong quá trình hoạt động đợc phép chuyển đổi hình thức đầu
t, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp.
Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục chuyển đổi hình thức đầu t chia, sáp
nhập, hợp nhất doanh nghiệp".
Ngoài ra, luật ĐTNN còn sửa đổi bổ sung một số điều tạo điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp có vốn ĐTNN về thủ tục hành chính, chính sách thuế Bên
cạnh đó một số quy định khuyến khích đầu t ngoài nớc từ ngời Việt nam ở nớc
ngoài, nhằm thu hút nguồn vốn ĐTNN khá phong phú mà lâu nay cha khai thác
đúng mức. Điều 44 sửa đổi nh sau:
" Ngời Việt nam định c ở nớc ngoài đầu t về nớc theo quy định của luật này
đợc giảm 20% thuế thu nhập doanh nghiệp so với các dự án cùng loại, trừ trờng
hợp áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10%; đợc áp dụng mức
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét