không phải là có nên công nghiệp hoá hay không, mà chính là tiến hành công
nghiệp hoá như thế nào? hay nói một cách khác làm thế nào để thực hiện công
nghiệp hoá một cách có hiệu quả.
1.1.1.2. "Công nghiệp hoá" và "hiện đại hoá"
Công nghiệp hoá là quá trình trang bị công nghệ và thiết bị cơ khí hoá
cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí
quan trọng. Công nghiệp hoá đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất
với kỹ thuật, công nghệ và tổ chức sản xuất truyền thống. Hiện đại hoá là quá
trình thường xuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới
nhất trong quá trình công nghiệp hoá. Đa số các ý kiến của các nhà nghiên
cứu cho rằng hiện đại hoá là quá trình liên tục hiện đại nền kinh tế, thay đổi
công nghệ cũ bằng công nghệ mới tiên tiến hơn. Thực chất, hiện đại hoá là cái
đích cần vươn tới trong quá trình công nghiệp hoá. Cái đích này không cố
định hay duy nhất đối với một quốc gia hay một ngành nghề mà nó luôn thay
đổi theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ văn minh chung của
nhân loại. Nó còn phụ thuộc cả và loại ngành nghề, từng khu vực khác nhau
ngay trong một nước. Xu thế chung của thế giới ngày nay là thực hiện đổi
mới công nghệ nhanh chóng, rút ngắn chu kỳ sống của mỗi loại công nghệ.
Điều cần phấn đấu là đưa trình độ khoa học - công nghệ của đất nước theo kịp
với trình độ hiện đại chung của thế giới. Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi ngành,
mỗi lĩnh vực hoạt động mà xác định trình độ công nghệ thích ứng. Quan niệm
một cách giản đơn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá dẫn tới việc tiếp thu công
nghệ không chọn lọc. Do sự thiếu hiểu biết và thiếu thông tin đã dẫn nhiều
nước đang phát triển phải trả giá quá lớn và tốc độ hiện đại hoá không được
đẩy nhanh.
Vào cuối thế kỷ 20, với những thay đổi nhanh chóng của cách mạng
khoa học kỹ thuật và công nghệ thì việc hiện đại hoá đối với các nước rất khó
đạt được. Ngay cả những nước phát triển cũng dễ dàng bị tụt hậu. Vì vậy, các
nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá buộc phải chia quá
trình này thành nhiều giai đoạn với mục tiêu của giai đoạn sau là hiện đại hoá
những gì mà giai đoạn trước đã đạt được. Đối với mỗi giai đoạn phát triển,
người ta thường dùng một số chỉ tiêu nhằm đánh giá kết quả công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, ví dụ như mức đóng góp của công nghiệp trong GDP, tỷ trọng
lao động trong công nghiệp trong tổng lao động xã hội…
Thực hiện công nghiệp hoá trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ
thuật ngày nay, quá trình trang bị công nghệ cho các ngành phải gắn liền với
quá trình hiện đại hoá ở cả phần cứng và phần mềm của công nghệ. Quá trình
này cũng đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải
biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp
lớn hiện đại. Quá trình ấy phải tác động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế -
xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng
lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế - xã hội của đất nước với
các nước phát triển. Trong đó những nước đi sau đã có một số ít nước (trong
đó có Hàn Quốc) thực hiện được hiện đại hoá tương đối cao trong thời gian
ngắn.
1.1.2. Bản chất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong điều kiện ngày nay, quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
dù trên góc độ nào đó cũng có phần khác với quá trình phát triển công nghiệp.
tuy quá trình công nghiệp hoá có những đặc điểm riêng đối với từng nước,
nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình có tính phổ biến cho phù hợp với
điều kiện cụ thể của từng nước. Công nghiệp hoá, là quá trình có tác động
rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau
đây:
• Thứ nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một phương thức có tính
chất phổ biến để thực hiện mục tiêu trong phát triển của hầu hết các quốc gia
trên thế giới. Mỗi nước vì có hệ thống mục tiêu riêng của mình mà lựa chọn
phương thức công nghiệp hoá phù hợp. Nhưng mục tiêu chung nhất của mọi
quốc gia là nhằm tăng nhanh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật
chất mọi mặt của mọi tầng lớp dân cư thông qua việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ
thuật ngày càng hiện đại, huy động và sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực
của đất nước.
• Thứ hai, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá. Trong lịch sử
công nghiệp hoá đã diễn ra hàng trăm năm ở các nước trên thế giới, công
nghiệp hoá và hiện đại hoá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì hiện
đại hoá để đạt tới trình độ kỹ thuật hiện đại nhất là một yêu cầu cơ bản của
quá trình công nghiệp hoá. Thực tễ kỹ thuật hiện đại nhất đối với mỗi giai
đoạn lịch sử có giới hạn nhất định và luôn luôn thay đổi theo thời gian. Chính
vì vậy, hiện đại hoá không phải là một quá trình độc lập mà là một hoạt động
có tính liên tục của công nghiệp hoá gắn liền với sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, hay là một quá trình kế tiếp để đạt được mục tiêu của công nghiệp hoá.
Vào thế kỷ 18-19 ở Anh và Tây Âu thì hiện đại hoá là việc áp dụng máy móc
với hệ thống động lực máy hơi nước thay thế cho lao động cơ bắp. Đến thế kỷ
20 có điện năng thì hiện đại hoá chính là dựa trên điện khí hoá như khẩu hiệu
V.Lênin đã vạch ra cho nước Nga. Ngày nay, với những tiến bộ khoa học kỹ
thuật mới thì hiện đại hoá gắn liền với tự động hoá, tin học hó và nền kinh tế
tri thức. Nói chung, hiện đại hoá chính là chỉ phương tiện, điều kiện để đạt tới
mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá, vì vậy nó không thể tách rời công
nghiệp hoá.
• Thứ ba, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình tác động đến tất cả
các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nền kinh tế. Vì trong một chỉnh thể
kinh tế của một quốc gia, các ngành các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội có
quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau. Sự thay đổi ở ngành, lĩnh vực
này sẽ dẫn tới sự thay đổi ở các ngành, các lĩnh vực khác. Quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế quốc dân và cơ cấu lao động. Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
chuyển dịch cơ cấu làm cho vị trí của ba khu vực kinh tế: công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ luôn luôn thay đổi.
- Giai đoạn đầu: nông nghiệp giữ vị trí quan trọng nhất vì nó tạo ra
lương thực, thực phẩm nuôi sống con người hàng ngày và những hàng hoá
tiêu dùng thiết yếu nhất. Đồng thời nông nghiệp cũng tạo ra những điều kiện
tiền để quan trọng ban đầu cho phát triển công nghiệp.
- Đến khi nhu cầu cơ bản của người dân cư được bảo đảm thì tỷ trọng
lao động nông nghiệp và giá trị sản lượng nông nghiệp trong nền kinh tế sẽ
giảm đi để nhường chỗ cho sự phát triển tăng dần của khu vực công nghiệp và
dịch vụ.
- Công nghiệp luôn được coi là ngành mấu chốt tạo ra sự phát triển xã
hội. Vì vậy, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, công nghiệp được
mọi quốc gia ưu tiên đầu tư phát triển. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không
đồng nhất với phát triển công nghiệp, nhưng không thể tiến hành quá trình
này nếu không chú trọng phát triển mạnh công nghiệp. Vì vậy, vai trò, vị trí
của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân ngày càng tăng lên trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Hoạt động dịch vụ cả phục vụ sản xuất và phục vụ đời sống là điều
kiện không thể thiếu để phát triển kinh tế và nâng cao đời sống dân cư. Không
thể công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh trên cơ sở hệ thống dịch vụ và kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém. Để tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện
đại hoá cần chú trọng đầu tư thoả đáng phát triển dịch vụ kết cấu hạ tầng để
phát triển sản xuất và thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Trong các giai đoạn của
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vị trí của khu vực dịch vụ sẽ có sự
thay đổi căn bản trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Hiện nay ở các nước phát
triển như Mỹ, Nhật, Tây Âu, khu vực dịch vụ chiếm trên 60% trong GDP
[103].
• Thứ tư, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự kết hợp chặt chẽ của các
quá trình kinh tế - kỹ thuật - xã hội - môi trường. Quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là sẽ đe lại cho đất nước trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng
hiện đại, kinh tế ngày càng vững mạnh. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng
nâng cao dân trí, mức sống dân cư và phát triển xã hội ngày càng văn minh.
Như vậy, trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình kinh tế - kỹ thuật xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện mục tiêu của quá trình kinh
tế- xã hội. Trong khi đó, quá trình kinh tế - xã hội mang lại động lực quan
trọng cho thực hiện mục tiêu của quá trình kinh tế - kỹ thuật.
• Thứ năm, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là quá trình mở
rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế. Ngày nay, mở rộng phân công lao động
quốc tế và xu thế toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra như một tất yếu. Mỗi quốc
gia là một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới, chịu ảnh hưởng của biến
động kinh tế thế giới và có tác động ở mức độ khác nhau đến kinh tế của các
nước khác. Vì vậy, việc xác định mục tiêu, phương thức công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở mỗi nước cần dựa trên cơ sở phân tích và dự báo những biến
động kinh tế - xã hội chung của khu vực và toàn cầu. Việc xây dựng hệ thống
kinh tế quốc gia mở và tăng cường hợp tác kinh tế và phân công lao động
quốc tế là xu hướng không cưỡng lại được của mọi quốc gia trên thế giới hiện
nay.
Để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết phải dựa
vào các nguồn lực trong nước, nhưng tranh thủ nguồn lực bên ngoài về vốn,
công nghệ và quản lý là một điều đặc biệt quan trọng. Đối với các nước đang
phát triển, người ta thường lấy thuyết phát triển của Marat Tchechkov [31] để
nói đến "lợi thế" của các nước đi sau so với các nước đi tiên phong trong công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là thừa kế kinh nghiệm, tranh thủ sự hỗ trợ về
vốn, kỹ thuật và kỹ năng quản lý của các nước tiên tiến. Nhưng những lợi thế
đó không phải dễ tận dụng được, chỉ rất ít nước thành công nhờ kế thừa
những kinh nghiệm và sự trợ giúp từ bên ngoài. Bối cảnh kinh tế chính trị
quốc tế và thực trạng của mỗi nước rất khác nhau, nên việc áp dụng kinh
nghiệm nước khác phải sáng tạo phù hợp với cụ thể từng nước.
Ngày nay, trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong khai thác các
nguồn lực tự nhiên để phát huy lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế,
các nước cần kết hợp giữa việc sử dụng có hiệu quả với việc tiết kiệm, bảo
tồn và tái tạo chúng. Do vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đạt được
mục tiêu tăng trưởng nhanh trong phát triển kinh tế, nhưng nó phải gắn với sự
bền vững trong phát triển. Điều đó được hiểu trên các giác độ kinh tế - kỹ
thuật - xã hội - môi trường.
Từ những phân tích trên đây có thể tóm tắt: Công nghiệp hoá và hiện
đại hoá gắn kết chặt chẽ trong một quá trình lịch sử tất yếu khách quan nhằm
tạo nên những chuyển biến căn bản về kinh tế - xã hội của đất nước, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế đất nước, xây dựng cơ
cấu kinh tế đa dạng với khu vực công nghiệp là then chốt và trình độ khoa học
- công nghệ ngày càng hiện đại, đồng thời không ngừng mở rộng quan hệ hợp
tác và hội nhập kinh tế quốc tế.
Giữa công nghiệp hoá ở các nước đi theo con đường TBCN và ở nước
ta và các nước theo con đường XHCN có những khác nhau về nhiều mặt,
quan trọng nhất là về bản chất xã hội [4, tr516]. Tuy cùng mục đích là biến
một nền kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp, nhưng do chế độ
chính trị- xã hội nên mục tiêu của công nghiệp hoá của các nước khác nhau
căn bản. Công nghiệp hoá ở các nước TBCN nhằm thay đổi và đưa đến thắng
lợi của phương thức sản xuất TBCN mang lại lợi ích cho giai cấp tư sản, công
nghiệp hoá ở nước ta nhằm mục tiêu nâng cao phúc lợi xã hội, đời sống mọi
mặt của nhân dân giữ bền vững môi trường. Công nghiệp hoá ở các nước
TBCN đem lại phương tiện ngày càng tinh vi để giai cấp tư sản bóc lột nhân
dân lao động và càng gây thêm phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng và mâu
thuẫn sâu sắc trong xã hội; còn ở nước ta nó sẽ tạo ra tiền đề cơ sở vật chất
ngày càng hiện đại trong một nền kinh tế mà người chủ đích thực là nhân dân
lao động, nó gắn liền với công bằng xã hội và tiến bộ xã hội. Vì vậy, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta có thể tham khảo và vận dụng sáng tạo các
kinh nghiệm về lựa chọn chiến lược, các giải pháp huy động vốn, giải pháp
khoa học công nghệ, giải pháp kinh tế xã hội… của các nước đi trước nhằm
mục tiêu hiện đại hoá nhanh và giữ vững bản chất xã hội của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá theo định hưỡng XHCN.
1.1.3. Các mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước đang
phát triển
Trong lịch sử công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra trên thế giới hàng
trăm năm qua có sự đa dạng về mô hình. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu mô
hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước đang phát triển trong những
thập kỷ gần đây. Đó là những nước trước đây vốn là thuộc địa hoặc nửa thuộc
địa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, đã giành được độc lập dân tộc, nền kinh
tế trong tình trạng thấp kém. Do điều kiện kinh tế - xã hội như vậy, các nước
có những điểm tương đồng với nước ta về xuất phát điểm trong tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.1.3.1. Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu (chiến lược
hướng nội)
Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được áp dụng ở các nước
đang phát triển sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Nó được tiến hành trong
bối cảnh quốc tế đặc biệt. Hệ thống thuộc địa tan rã, các quốc gia đang phát
triển lần lượt giành được độc lập về chính trị, còn về kinh tế họ vẫn bị lệ
thuộc vào hệ thống kinh tế tư bản ở mức độ khác nhau. Các nước này thường
phải nhập khẩu từ các nước tư bản phát triển hầu hết các mặt hàng công
nghiệp, thậm chí cả lương thực, nguyên nhiên liệu. Họ cũng bị lệ thuộc cả về
tài chính do phải vay nợ. Các quốc gia nghèo lúc đó cho rằng họ phải tiến
hành một cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế, nghĩa là xây dựng cho
mình một nền kinh tế độc lập tự chủ, có khả năng tự đảm bảo lấy hầu hết các
nhu cầu trong nước, ít lệ thuộc vào bên ngoài. Bên cạnh đó, các nước phương
Tây tuy đã buộc phải trao trả quyền độc lập cho các nước đang phát triển,
nhưng họ chưa từ bỏ ý đồ thực dân đối với các nước đó, không chịu chuyển
nhượng công nghệ, không chịu mở cửa thị trường cho các nước đang phát
triển và muốn kìm hãm các nước đang phát triển trong vòng lạc hậu, phụ
thuộc. Trong bối cảnh quốc tế đó, mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập
khẩu đã ra đời như một tất yếu lịch sử.
Ở các nước đang phát triển, chiến lược thay thế nhập khẩu được thử
nghiệm đầu tiên ở các nước Mỹ La tinh. Một số nước Châu Á như Ấn Độ và
Thổ Nhĩ Kỳ, các nước ASEAN cũng đã bắt đầu thực hiện chiến lược này trên
con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá vào thập kỷ 50-60 [36]. Mục đích
xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ là động lực khiến các nước đó bước
vào con đường phát triển thay thế hàng nhập khẩu.
• Mục tiêu của chiến lược thay thế nhập khẩu
Các nước đang phát triển trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá,
hiện đại hoá theo chiến lược thay thế nhập khẩu, do điều kiện kinh tế - xã hội
của mình và những tác động khách quan của điều kiện kinh tế quốc tế, nên
việc xác định mục tiêu cụ thể trong chiến lược này có những điểm khác nhau.
Tuy vậy, về cơ bản các mục tiêu của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập
khẩu có thể được khái quát như sau:
- Khai thác nguồn lực tại chỗ để đáp ứng nhu cầu cơ bản, cấp bách của
thị trường trong nước;
- Giảm thiểu ngoại tệ chi tiêu cho nhập hàng hoá từ nước ngoài;
- Khai thác thị trường nội địa để phát triển các ngành nghề sẵn có;
- Tạo nhiều việc làm, giảm bớt lạm phát và thất nghiệp.
Thực chất mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu là mỗi nước cần
phát triển mạnh mẽ việc sản xuất hàng tiêu dùng để thay thế các hàng hoá vẫn
phải nhập khẩu từ các nước tư bản. Sự phát triển như vậy sẽ mang lại tác
dụng nhiều mặt: khai thác các nguồn lực sẵn có để thoả mãn các nhu cầu cơ
bản và cấp thiết trong nước, mở rộng thị trường nội địa, phát triển sản xuất
hàng hoá, tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc
và tiết kiệm ngoại tệ.
• Chính sách và biện pháp triển khai mô hình công nghiệp hoá thay thế
nhập khẩu
Xuất phát từ mục tiêu trên, nội dung cơ bản của chiến lược công nghiệp
hoá thay thế nhập khẩu nhằm xác định được tổng cầu mỗi loại hàng hoá trong
nước qua phân tích và tính toán lượng hàng hoá thực tế phải nhập khẩu trước
đây, dựa vào tổng số và cơ cấu dân cư, mức sống. Nhìn chung, chiến lược
hướng nội lấy trọng tâm là thị trường trong nước để phát triển sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Thực tế, chiến lược này về cơ bản không đồng nghĩa với việc
bế quan toả cảng" hay "đóng cửa" nền kinh tế, mà các quan hệ kinh tế đối
ngoại vẫn được chú ý, đặc biệt là nhập khẩu các tư liệu sản xuất để sản xuất
hàng thay thế hàng nhập khẩu hay kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các mục tiêu
thay thế nhập khẩu. Chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã được
thực hiện thông qua hàng loạt chính sách và biện pháp sau:
* Bảo hộ sản xuất và thị trường trong nước
Để trợ giúp sản xuất trong nước có thể tồn tại và phát triển, kích thích
đầu tư vào các ngành thuộc mục tiêu ưu tiên, nhà nước thiết lập hàng rào bảo
hộ sản xuất trong nước bằng chính sách thuế quan, bằng hàng rào phi thuế
quan, bằng chính sách hạn chế nhập khẩu v.v để bảo vệ những ngành công
nghiệp trong nước non trẻ, giữ cho những ngành công nghiệp này được đặc
quyền tiêu thụ hàng hoá trên thị trường nội địa. Phong trào bài trừ hàng ngoại
xuất hiện rất mạnh ở các nước trong thời kỳ thực hiện chiến lược này.
* Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp thay thế hàng nhập
khẩu
Các nước đang phát triển đi từ điểm xuất phát thấp, nên phải nhập khẩu
nhiều hàng công nghiệp từ các quốc gia đã công nghiệp hoá cao, đặc biệt là
máy móc thiết bị. Các nước đang phát triển chỉ là nơi cung cấp nông phẩm, tài
nguyên và là thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp cho các nước phát triển.
Đây là quan hệ phụ thuộc một chiều gây nhiều bất lợi cho các nước nghèo. Để
giảm sự lệ thuộc này, các nước đang phát triển đã tìm cách xây dựng cho
mình các ngành công nghiệp tự đáp ứng nhu cầu trong nước, thay thế dần
nhập khẩu. Các nước phấn đấu dần dần hình thành một cơ cấu ngành công
nghiệp hoàn chỉnh (Ấn Độ, Inđônêxia…) hoặc là tương đối hoàn chỉnh
(Myanma, Malaysia…). Nhiều quốc gia đặt cho mình mục tiêu xây dựng
những ngành công nghiệp thiết yếu, có thể đảm bảo được những nhu cầu cơ
bản của đất nước như năng lượng, luyện kim, cơ khí, hoá chất… Họ xem
những ngành công nghiệp trên đây là cơ sở đảm bảo nên độc lập tự chủ nhằm
trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân và thoát khỏi sự lệ
thuộc vò bên ngoài. Do vậy, nhà nước chủ trương khuyến khích các nhà sản
xuất trong nước đầu tư và dần dần làm chủ được kỹ thuật sản xuất. Đồng thời
còn khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào sản xuất hoặc cung
cấp công nghệ, vốn, kỹ năng quản lý. Trong quá trình ấy, những chính sách
như cố định tỷ giá đồng nội tệ thường được giữ ở mức cao để khuyến khích
thay thế nhập khẩu; mức lãi suất rất thấp và bao cấp rộng rãi cho các doanh
nghiệp nhà nước; nhà nước kiểm soát giá cả và thương mại, đặc biệt là ngoại
thương chặt chẽ.
Nhìn chung, hầu hết các nước khi theo đuổi mô hình công nghiệp hoá
thay thế nhập khẩu đều chú trọng nhiều đến việc xây dựng hệ thống các
doanh nghiệp nhà nước. Do vậy, trong thời kỳ công nghiệp theo hướng thay
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét