Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Giải phát năng cao hiệu quả tín dụng ở DNNN tại Sở giao dịch NHNo & PTNT

chủ trơng, chính sách của Nhà nớc đối với thành phần kinh tế này để có quyết
định kịp thời, đúng đắn.
1.2.2. Đặc điểm về sản xuất.
Trong những năm quann, kinh tế quốc doanh không ngứng phát triển,
thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN ở
Việt Nam. Các DNNN có mức tăng trởng khá, đảm bảo đợc cân đối chủ yếu
của nền kinh tế, đáp ứng các yêu cầu dịch vụ công cộng, giải quyết việc làm,
thúc đẩy phát triển văn hoá giáo dục và hình thành các trung tâm kinh tế mới.
Đó là những thành quả khá rõ.
Bên cạnh đó trong thời gian qua các DNNN còn có những tồn tại và còn
có không ít những khó khăn, đó là:
Về máy móc, thiết bị công nghệ dùng cho sản xuất kinh doanh còn thiếu
thốn, dây chuyền sản xuất công nghệ còn lạc hậu, do vậy hàng hoá sản xuất ra
chất lợng còn cha cao, mẫu mã không phù hợp, sản phẩm sản xuất ra cha đáp
ứng yêu cầu thị hiếu ngời tiêu dùng, khả năng cạnh tranh không cao. Một số
doanh nghiệp khi có vấn đầu t, những việc xây dựng phơng án sản xuất kinh
doanh không hợp lý thiếu tính toán đến hiệu quả kinh doanh và khả năng thu
hồi vốn.
Về thị trờng: các DNNN hiện nay đang gặp nhiều khó khăn trong khai
thác thị trờng trong và ngoài nớc.
Thị trờng trong nớc bị sức ép của hàng ngoại, hàng nhập lậu và sự lũng
loạn của việc làm hàng giả, trốn thuế của t nhân làm cho hàng hoá của DNNN
giảm sức cạnh tranh. Do phải chấp hành nghiêm chỉnh các khoản nộp vào ngân
sách nnn, chi phí quản lý cao, nên nó cũng là một trong những yếu tố làm giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp cao, không đợc thị trờng chấp nhân. Mặc dù
phải bỏ ra đầu t một số vốn lớn để đổi mới công nghệ những sản phẩm mới ra đ-
ợc thời gian ngắn, cha kịp thu hồi vốn thì hàng ngoại nhập tràn vào, có chất l-
ợng cao hơn và có giá cả lại thấp hơn. Lúc này các sản phẩm của doanh nghiệp
5
sẽ gặp khó khăn trong tiêu thụ, tồn kho sản phẩm cao nên kinh doanh dễ thua
lỗ. Đồng thời các DNNN còn bị cạnh tranh ngay cả với các doanh nghiệp nớc
ngoài đang kinh doanh tại Việt Nam. Chính vì vậy sức ép với các DNNN là rất
lớn.
Các DNNN làm háng xuất khẩu cũng gặp không ít những thăng trầm qua
khủng hoảng kinh tế thời gian vừa qua. Bớc sang thiên niên kỷ mới, nền kinh tế
Việt Nam đợc tiếp thêm sức bật mới, quá trình hội nhập khu vực thế giới cùng
nhiều hiệp định trớc tiên là hiệp định thơng mại Việt - Mỹ, sau đó là gia nhập
AFTA, APEC, WTO đang xúc tiến khẩn trơng. Các doanh nghiệp trong nớc
đồng thời phải đối mặt với những thách thức lớn, khốc liệt.
1.2.3. Khả năng tài chính
Nguồn vấn kinh doanh: Mặc dù Nhà nớc đã sắp xếp, chấn chỉnh các
DNNN theo hớng thu hẹp nhằm nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh của
DNNN: năng xuất - chất lợng - hiệu quả nhng thực thế vẫn còn có DNNN có
mức vốn điều lệ thấp hơn vốn pháp định. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê
hiện vẫn còn 25% DNNN có quy mô vốn ít hơn 1 tỷ đồng nên năng lực sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn trong khi kinh doanh cỡ nhỏ của
các nớc trong khu vực cũng có số vốn trên dới 1 triệu USD. Do thiếu vốn để
hoạt động nên các DNNN phải vay để sản xuất kinh doanh và qua thực tế cho
thầy 80% vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là do vay
ngân hàng. Còn vốn tự có của doanh nghiệp ít ỏi, vốn ngân sách cấp thì nhỏ
giọt, kể cả các công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nớc.
Hiệu quả sử dụng vốn của DNNN còn thấp. Tài sản cố định trong khu vực quốc
doanh chiếm 70-80% nhng chỉ cung cấp 44% tổng sản phẩm trong nớc. Nhiều
doanh nghiệp cha bảo toàn đợc vốn. Vốn bị chiếm dụng trong khâu thanh tón
ngày càng gia tăng nhất là công nợ phải trả phát sinh từ vài năm nay vẫn cha đ-
ợc giải quyết và tiếp tục tái diễn. Đành rằng quan hệ nợ nần giữa các doanh
nghiệp là tất yếu và cấn thiết nhng chỉ nên giới hạn ở mức độ nhất định vì khi v-
6
ợt qua giới hạn đó sẽ làm cho tài chính của doanh nghiệp xấu đi, vốn bị kẹt
không quay vòng đợc trong khi vẫn phải trả lãi ngân hàng.
1.2.4. Đặc điểm về quản lý
Bên cạnh những giám đốc làm việc quên mình, đầy năng lực và trách
nhiệm, trong các DNNN còn có rất nhiều nhà quản lý điều hành non kém về
trình độ, cha đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trờng, không đủ sức đa doanh
nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gắt gao.
Một điểm yếu hiện nay nữa là DNNN chịu sự chi phối của nhiều cơ quan, nhiều
cấp, nhiều ngời nên khó có thể quuy trách nhiệm cho một ngời, trách nhiệm vật
chất của giám đốc đối với DNNN cha đủ độ chặt, cơ chế quản lý, giám sát lỏng
lẻo, kém hiệu lực. Đây là kẽ hở lớn để cho những hiện tợng tham nhũng và tiêu
cực nảy sinh và phát triển.
Có thể nói những yếu kém hiện nay của DNNN không thuộc về bản chất
của loại hình doanh nghiệp này. Chúng ta hy vọng với sự hỗ trợ về vốn của ngân
hàng và nỗ lực của bản thân trong tơng lại không xa các DNNN hoàn toàn xứng
đáng với vai trò, nhiệm vụ và vị trí của nó trong xã hội.
2. Phân loại doanh nghiệp nhà nớc.
Nếu dự vào mục đích hoạt động của chúng thì sẽ có DNNN hoạt động
kinh doanh và DNNN hoạt động công ích. DNNN hoạt động công ích là DNNN
hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của nhà n-
ớc hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Đây là những lĩnh
vực kinh doanh có lãi hoặc nhà nớc không khuyến khích kinh doanh do đó nhà
nớc phải đầu t vào để đảm bảo lợi ích chung cho toàn xã hội. Còn các DNNN
hoạt động kinh doanh thì phải hạch toán kinh doanh lâýy thu bù chi và đảm bảo
có lãi.
Nếu dựa vào quy mô và hình thức cảu doanh nghiệp thì có DNNN độc
lập, doanh nghiệp thành viên và Tổng Công ty Nhà nớc. DNNN độc lập là
doanh nghiệp không ở trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp khác. Doanh
7
nghiệp thành viên là doanh nghiệp nằm trong cơ cấu tổ chức cảu doanh nghiệp
lớn hơn. Tổng Công ty Nhà nớc có quy mô lớn bao gồm các đơn vị thành viên
có quan hệ gắn bó với nhau vì mục đích kinh tế, tài chính, công nghệ thông tin,
đào tạo nghiên cứu tiếp thị hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh
tế kỹ thuật do Nhà nớc thành lập nhằm tăng cờng tích tụ, tập trung, phân công,
chuyên môn hoá và hợp tác hoá để thực hiện nhiệm vụ Nhà nớc giao, nâng cao
khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và toàn Tổng Công
ty, đáp ứng nhu cầu của toàn ngành kinh tế.
Nếu dựa vào cơ cấu quản lý nội bộ doanh nghiệp thì DNNN đợc phân
chia thành DNNN có Hội đồng quản trị DNNN không có hội đồng quản trị.
DNNN có hội đồng quản trị thực hiện chức năng quản lý hoạt động của doanh
nghiệp chịu trách nhiệm trớc Chính phủ hoặc cơ quan quản lý Nhà nớc đợc
Chính phủ uỷ quyền về sự phát triển của doanh nghiệp. DNNN không có hội
đồng quản trị là DNNN mà ở đó chỉ có giám đốc quản lý hoạt động của doanh
nghiệp theo chế độ một thủ trởng.
Việc phân loại DNNN theo các tiêu thức khác nhau có ý nghĩa rất quan
trọng đối với hoạt động tín dụng cuả ngân hàng bởi lẽ đối với các loại hình
DNNN khác nhau ngân hàng sẽ có các yêu cầu khác nhau về thủ tục pháp lý
cũng nh kinh tế khi xét duyệt một dự án xin vay. Từ đó ngân sách xác định hình
thức cho vay, lãi xuất, thời hạn cho vay cũng nh các yêu cầu về đảm bảo một
cách hợp lý nhất đảm bảo hiệu quả cao cho món vay về phía ngân hàng và
doanh nghiệp.
3. Vai trò của doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng
DNNN là đơn vị kinh doanh thuộc khu vực kinh tế quốc doanh. Kinh tế
quốc doanh thực ra không phải là thành phần riêng có của chủ nghĩa xã hội. ở
hầu hết các nớc trên thế giới hiện nay đều có kinh tế quốc doanh. Khu vực này
ở các nớc cố tỷ trọng khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nớc.
8
ở nớc ta sự hình thành thành phần kinh tế này do chính sách quốc hữu
hoá và đợc u tiên phát triển trong 40 năm qua ở miền Bắc và 20 năm trong cả n-
ớc. Trong thời gian qua DNNN có mặt ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của
nền kinh tế và giữ vai trò quan trọng thể hiện cụ thể ở những mặt sau:
Thứ nhất, DNNN chiếm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, nắm
giữ những ngành then chốt, có những ngành độc quyền. Hiện nay chúng ta đang
xây dựng và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng
có điêù tiết của Nhà nớc, các thành phần kinh tế đều đợc khuyến khích phát
triển, bình đẳng với nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh và trớc pháp luật.
Sự bình đẳng này không có nghĩa là chúng có vị trí nh nhau trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phạm vi hoạt động của kinh tế
quốc doanh sẽ thu hẹp nhng nó vẫn giữ vai trò chủ đạo bởi nó vẫn sẽ đợc tồn tại
và phát triển ở những ngành, những lĩnh vực then chốn của nền kinh tế. Các
DNNN giúp nhà nớc đủ sức thực hiện chức năng điều tiến vĩ mô, can thiệp vào
thị trờng, khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trờng. DNNN chính là
công cụ vật chất của nhà nớc để can thiệp vào nên kinh tế.
Thứ hai, DNNN bảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội.
Trong nền kinh tế thị trờng mục tiêu cảu các doanh nghiệp là lợi nhuận,
chính vì vậy cõn ngành, những lĩnh vực kinh doanh mang lại ít lợi nhuận hoặc
không có lợi nhuận thì các thành phân kinh tế khác không đầu t vào. Lúc này
DNNN với t cách là công cụ của nhà nớc sẽ đầu t tham gia vào các ngành này
để đảm bảo nhu caàu của nền kinh tế, bảo đảm lợi ích công cộng.
DNNN còn góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội thông qua việc hớng dẫn
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác thực hiện tốt nghĩa vụ đối
với nhà nớc. DNNN luôn là ngời đi đầu trong lĩnh vực này là tấm gơng để các
doanh nghiệp khác noi theo.
Thứ ba, DNNN là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nớc, là đòn bẩy kinh tế
để thông qua đó thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội nh đảm bảo công bằng
9
xã hội, giải quyết công ăn việc làm và tăng trởng. DNNN với vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế sẽ góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hớng có lợi để hoà
nhập với khu vực và thế giới, từng bớc công nghiệp hoá, hiệnn đại hoá đất nớc,
rút ngắn khoảng cách so với các nớc. DNNN với đội ngũ cán bộ công nhân đợc
đào tạo rèn luyện thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh sẽ
đảm bảo cho nền kinh tế Việt Nam không bị chệch hớng mà đi đúng theo con
đờng xã hội chủ nghĩa đã chọn.
DNNN cũng tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà
các thành phần kinh tế khác không đủ sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong n-
ớc. Chính vì những lý do trên mà đánh giá của DNNN không thể chỉ dựa vào lỗ
lãi trớc mắt mà phải tính đến hiệu quả kinh tế lâu dài.
II. Tín dụng nâng hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNN.
1. Tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng
Tín dụng với đặc trng cơ bản của nó tồn tại và phát triển trong nền kinh
tế là một tất yếu khách quan. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì các quan
hệ tín dụng ngày càng đợc mở rộng. Bên cạnh việc mở rộng các quan hệ tín
dụng thơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nớc. Tuy nhiên với những u
việt của mình phục vụ cho sự phát triển sản xuất kinh doanh thì tín dụng ngân
hàng đóng vai trò quan trọng hơn cả.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín
dụng khác với các doanh nghiệm và cá nhân. Trong nền kinh tế ngân hàng đóng
vai trò tổ chức trung gian. Vì vậy trong quan hệ tín dụng với các doanh nghiệp
và cá nhân, ngân hàng vừa là ngời đi vay, vừa là ngời cho vay. Đối với cho vay
trong tín dụng ngân hàng là tiền tệ. Vì vậy tín dụng ngân hàng ra đời đã khác
phục đợc những hạn chế của tín dụng thơng mại về qui mô, thời gian và phơng
hớng vận động. Nền kinh tế càng phát triển thì khối lợng tín dụng ngân hàng đ-
ợc thực hiện càng lớn và chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng số khối lợng tín
dụng thực hiện trong nền kinh tế. Sở dĩ nh vậy là do tín dụng ngân hàng đóng
10
một vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trờng đối voới lĩnh vực sản xuất, lu
thông hàng hoá cũng nh lĩnh vực lu thông tiền tệ.
1.1. Tín dụng ngân hàng đáp ứng đủ nhu cầu vốn để duy trì quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh đợc liên tục và ngày càng mở rộng.
Sự thiếu vốn là quá trình xảy ra thờng xuyên ở các doanh nghiệp. Chính
trong quá trình tập trung và phân phối vốn, tín dụng ngân hàng đã biến các bộ
phận vốn lẻ tẻ nằm trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng nh bộ phận tiền để
dành trong dân thành nguồn vốn để cho vay, đã góp phần điều hoà vốn cho nền
kinh tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bù đắp đợc nhu cầu thiếu vốn tạm
thời, giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh đợc liên tục.
1.2. Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp đo phát triển, thúc đẩy
cạnh tranh trong nền kinh tế và góp phần tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Trong môi trờng cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh luôn phải chủ đọng
tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp nh ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật
mới, đổi mới công nghệ, hoàn thiện nghệ thuật quản trị kinh doanh, tìm kiếm
thị trờng mới. Chính tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn tài trợ cho các nhu cầu
này. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trờng để tránh trừng phạt kinh tế do không
hoàn trả đợc nợ vay ngân hàng đồng thời để tạo khả năng nắm phần thắng các
chủ thể kinh doanh phải lao vào cuộc cạnh tranh quyết liệt. Trong bối cảnh đó
tín dụng ngân hàng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển hoạt động
sản xuất kinh doanh từ ngành này sang ngành khác và chỉ có tín dụng ngân
hàng mới đáp ứng đợc nhu cầu vốn lớn nh vậy cho việc thay đổi cơ cấu sản xuất
kinh doanh. Các nhà kinh doanh sẽ dễ dàng chuyển từ những ngành có lợi
nhuận thấp sang những ngành có lợi nhuận cao tạo điêù kiện cho việc bình quân
hoá tỷ suất lợi nhận trong nền kinh tế nhằm hình thành nên một cơ cấu kinh tế
hợp lý.
1.3.Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ đắc lực cho các ngành kinh tế kém
phát triển và những ngành kinh tế mũi nhọn.
11
Bằng việc sử dụng lãi suất u đãi đối với những ngành kinh tế mũi nhọn
cũng nh những ngành kinh tế kém phát triển nhng cần thiết và có lợi cho quốc
tế dân sinh, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đầy những ngành kinh tế này
phát triển. Mặt khác với đặc trng phải hoàn trả cả vốn lẫn lãi của tín dụng ngân
hàng đã giúp cho việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp có hiệu quả. Chính
điều này đã thể hiện sự u việt hơn của tín dụng ngân hàng so với việc cấp vốn
ngân sách đầu t vào những lĩnh vực này, vì khi đợc cấp bốn ngân sách ngời sử
dụng vốn thờng ít quan tâm đến việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả vì lẽ
nguồn vốn này đợc cấp phát và không phải hoàn trả.
1.4. Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đầy quá trình mở
rộng mối quan hệ giao lu quốc tế.
Hiện nay trong điều kiện phát triển kinh tế của một quốc gia luôn gắn
liền với thị trờng thế giới. Kinh tế đóng đã nhờng bớc cho kinh tế mở vì vậy
tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phơng tiện để nối liền các nền
kinh tế các quốc gia với nhau. Đặc biệt đối với những nớc đang phát triển thì tín
dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá
đồng thời cũng nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nớc.
1.5. Tín dụng ngân hàng có vai trò quuyết định đến sự ổn định của lu thông
tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trờng thì việc chú trọng phát triển sản xuất lu thông
hàng hoá phải luôn đi đồng thoì với việc ổn định lu thông tiền tệ. Do những nét
u việt của mình mà tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng quyết định đến
sự ổn định của lu thông tiền tệ. Trớc hết ngân hàng là kênh duy nhất để đa tiền
vào lu thông, không những chỉ đa tiền vào mà còn có khả năng kiểm soát hàng
hoá. Nếu tín dụng ngân hàng đwocj thực hiện một cách có hiệu quả nó sẽ đảm
bảo có khối lợng tiền cung ứng phù hợp vì khi cho vay là ngân hàng đã đa tiền
vào lu thông và khi thu nợ là ngân hàng đã rút tiền ra khỏi lu thông. Mặt khác
với chức năng tạo tiền các ngân hàng thơng mại có khả năng mở rộng tiền gửi
12
làm tăng khối lợng tiền lu thông. Vì vậy Ngân hàng Trung ơng phải sử dụng các
công cụ cảu chính sách tiền tệ để thực hiện việc đieèu tiết hoạt động tín dụng
của các ngân hàng thơng mại nh: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu,
hạn mức tín dụng
1.6. Tín dụng ngân hàng có vai trò kiểm soát đối với nền kinh tế.
Xuất phát từ chức năng phân phối vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng có thể
kiểm soát đợc các hoạt động kinh tế trong quá trình huy động mọi nguồn vốn
nhàn rỗi để cho vay. Thông qua việc huy động vốn tạm thời nhà rỗi của các
doanh nghiệp và các tầng lớp dân c trong xã hội và việc tổ chức thanh toán cho
khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình
sản xuất cũng nh khả năng chi trả của khách hàng qua biến động số d trên tài
khoản. Trong quá trình cho vay, ngân hàng phải luân đề phòng đến nguy cơ rủi
ro có thể xảy ra và vì vậy phải thờng xuyên phân tích khả năng tài chính của
khách hàng và thờng xuyên giám sát, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh
của họ để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết. Từ đó ngân hàng có
khả năng tổng hợp đợc tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và
có thể đánh giá mcs độ phát triển của từng ngành kinh tế, đồng thời đóng gíp
những ý kiến góp ý để thực hiện điều chỉnh kịp thời khi có sự mất cân đối trong
cơ cấu kinh tế.
Tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Tuy
nhiênnó phát huy đợc vai trò tích cực đó hay không còn tuỳ thuộc vào các ngân
hàng thơng mại thực hiện các nghiệp vụ tín dụng nh thế nào. Nếu hoạt động tín
dụng có hiệu quả sẽ thúc đầy sản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời tạo ra sự
ổn định của lu thông tiền tệ. Ngợc lại nếu tín dụng ngân hàng không có hiệu
quả thì những vai trò tích cực của nó chỉ là trên lý thuyết và hơn thế nữa nó còn
để lại những hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế.
Thật vậy, ở nớc ta trong giai đoạn trớc đây cấp tín dụng của ngân hàng
thật kém hiệu quả. Các khách hàng vay vốn sử dụng không có hiệu quả dẫn đến
phát sinh nợ quá hạn, nợ khê đọng khó đòi chiếm tỷ trọng lớn. Nhiều trờng hợp
13
ngân hàng cho vay ra không thu hồi đợc cả gốc và lãi. Tình trạng cấp tín dụng
tràn lan, không có hiệu quả đã dẫn đến sản xuất lu thông hàng hoá trì trệ không
phát triển, thêm vào đó là lu thông tiền tệ mất ổn định, lạm pháp cao. Những
hậu quả đó đến nay chúng ta vẫn còn phải khắc phục. Chính vì vậy chất lợng
hiệu quả tín dụng là vấn đề cốt lõi mà hơn ai hết trách nhiệm thuộc về các ngân
hàng thơng mại.
2. Vai trò và hiệu quả cảu tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhà n-
ớc ở nớc ta.
2.1. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhà nớc.
2.1.1. Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối u cho doanh
nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trờng hiếm có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng vốn tự
có để hoạt động kinh doanh. Việc này không những hạn chế khả năng mở rộng
sản xuất kinh doanh mà còn làm tăng gia vốn của doanh nghiệp đó. Hiện nay để
thực hiện các quyết định đầu t, một doanh nghiệp có thể sử dụng từ hai nhóm
nguồn vốn: vốn tự có và vốn đi vay. Nhng không phải doanh nghiệp muốn vay
bao nhiêu cũng đợc mà còn tuỳ thuộc điều kiện và yêu cầu theo qy định, luật
định. Nếu vốn vay quá lớn thì chi phí vào giá thành sẽ tăng. Chính vì vậy buộc
doanh nghiệp phải xây dựng cơ cấu vốn tối u. Cơ cấu vốn tối u là sự két hợp hợp
lý nhất các nguồn vốn tài trọ cho kinh doanh của một doanh nghiệp nhằm mục
đích tối đa hó giá trị thị trờng của doanh nghiệp tại mức giá vốn bình quân rẻ
nhất.
2.1.2. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản
xuất kinh doanh.
Tín dụng ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động của mình thông qua việc
huy đọng vốn tạm thời nhàn rỗi trong toàn nền kinh tế để tài trợ cho các thành
phần kinh tế nói chung và các DNNN nói riêng. Để đảm bảo cho các DNNN
không chỉ duy trì sản xuất mà còn tái sản xuất mở rộng, đặc biệt trong những
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét