này cần có sự tham gia của Ngân hàng, lúc này Ngân hàng đóng vai trò trung
gian, tạo sự tin tởng, thuận lợi cho cả hai bên.
Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng thơng mại hiện đại đã góp phần thúc
đẩy hoạt động thanh toán quốc tế giữa các nớc diễn ra nhanh chóng, thuận lợi
chính xác và đảm bảo đợc quyền lợi của các bên tham gia thanh toán quốc tế.
Ngân hàng là một tổ chúc trung gian tài chính, có bề dày kinh nghiệm hoạt
động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, đồng thời Ngân hàng có mạng lới và quan
hệ đại lý với các Ngân hàng khác rất rộng. Ngoài ra, Ngân hàng là tổ chức tiếp
cận và ứng dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến bậc nhất nên có thể sử dụng vào
các hoạt dộng thanh toán một cách nhanh chóng, chính xác. Chính những điều
trên mà hầu hết mọi hoạt động thanh toán quốc tế đều diễn ra cần có sự tham
gia của các Ngân hàng.
3.Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng.
- Đối với nền kinh tế mà đặc biệt là đối với hoạt động kinh tế đối ngoại:
Thanh toán quốc tế có vị trí quan trọng đặc biệt trong hoạt động kinh tế
đối ngoại nói chung và trong hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng, đặc biệt trong
bối cảnh hiện nay khi mỗi quốc gia đều đặt kinh tế đối ngoại lên vị trí hàng đầu,
coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đờng tất yếu trong chiến lợc phát triển
kinh tế của mình.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi
hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu
không có hoạt động thanh toán quốc tế thì không có hoạt động kinh tế đối
ngoại.
Thanh toán quốc tế là chiếc cầu nối liền giữa các quốc gia quan hệ kinh tế
đối ngoại. Khi thiết lập mối quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ thơng mại với
các nớc thì điều kiện quan trọng không thể thiếu đựơc là phải thiết lập quan hệ
thanh toán quốc tế.
Thanh toan quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, nếu
việc tổ chức thanh toán quốc tế đợc tiến hành nhanh chóng, an toàn chính xác
5
sẽ làm cho các nhà sản xuất kinh doanh sẽ yên tâm và đẩy mạnh hoạt động xuất
nhập khẩu của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển,
đặc biệt là hoạt động ngoại thơng.
Thanh toán quốc tế hạn chế rủi ro trong qúa trình thực hiện hợp đồng kinh
tế đối ngoại: Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý của bạn hàng
cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng thanh toán
của ngời mua, của con nợ, đồng thời trong điều kiện tiền tệ thờng xuyên biến
động, khả năng thanh toán của con nợ là rất bấp bênh, hơn nữa trong cơ chế thị
trờng tình trạng lừa đảo ngày càng nhiều vì vậy rủi trong việc thực hiện hợp
đồng kinh tế đối ngoại ngày càng lớn. Nếu tổ chức tốt hoạt động thanh toán
quốc tế sẽ giúp cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu hạn chế đợc rủi ro trong
quá trình thực hiện hợp đồng, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát
triển.
- Đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: Việc hoàn thiện để phát
triển hoạt động thanh toán quốc tế có một ý nghĩa hết sức thiết thực, hoạt động
thanh toán quốc tế là một dịch vụ thuần tuý làm tăng khả năng cạnh tranh của
Ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác của Ngân hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng thu hút thêm nhiều
khách hàng, trên cơ sở đó Ngân hàng tăng đợc quy mô hoạt động của mình,
giúp cho Ngân hàng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó tạo đợc
niền tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể khai thác
đợc nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng nớc ngoài về nguồn vốn trên thị trờng tài
chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng phát triển đợc nghiệp
vụ bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ và các dịch vụ khác. Nếu hoạt động thanh toán
quốc tế đợc đẩy mạnh thì sẽ đẩy mạnh đợc hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập
khẩu cũng nh tăng cờng đợc nguồn vốn huy động do tạm thời quản lý đợc
nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế qua
Ngân hàng.
6
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng tăng thu nhập và tăng c-
ờng khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong cơ chế thị trờng, đồng thời nó
giúp cho hoạt động Ngân hàng vợt ra khỏi phạm vi quốc gia và hoà nhập với hệ
thống Ngân hàng thế giới.
II- Các phơng thức thanh toán quốc tế.
Phơng thức chuyển tiền.
Phơng thức chuyển tiền là phơng thức mà trong đó khách hàng (ngời trả
tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một ngời
khác (ngời hởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phơng thức chuyển tiền do
khách hàng yêu cầu.
Phơng thức này có thể mô tả khái quát theo sơ đồ sau:
(1) (3)
(2)
(1). Ngời chuyển tiền yêu cầu Ngân hàng nớc mình chuyển một số tiền
nhất định cho ngời đợc hởng ở nớc ngoài.
(2). Ngân hàng phục vụ ngời chuyển tiền nhận thực hiện yêu cầu của ngời
chuyển tiền, làm thủ tục chuyển tiền ra nứơc ngoài.
(3). Ngân hàng nớc ngoài nhận đựơc chuyển tiền sau khi đã nhận tiền
chuyển đến, thực hiện trả tiền cho ngời nhận.
Thanh toán chuyển tiền bao gồm các loại:
7
Người chuyển tiền
Người nhận chuyển tiền
Ngân hàng nước nhận
chuyển tiền
Ngân hàng nước
người chuyển tiền
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer T/T).
Chuyển tiền bằng điện tốc độ nhanh, nhng chi phí cao. Ngày nay khi tham
gia mạng SWITF thì hầu hết chuyển tiền đợc thực hiện trên mạng SWITF.
- Chuyển tiền bằng th (Mail Transfer M/T).
Chuyển tiền bằng th chi phí thấp hơn chuyển tiền bằng điện, song tốc độ
lại chậm hơn. Chuyển tiền bằng điện thì ngời chuyển tiền không bị động vốn
lâu ngày, nhng tỷ giá ngoại tệ áp dụng trong điện hối cao hơn tỷ giá ngoại tệ
trong th hối.
Chuyển tiền là một phơng thức thanh toán trực tiếp giữa hai bên. Phơng
thức này rất đơn giản, ở đây Ngân hàng chỉ là ngời trung gian thực hiện việc
thanh toán theo uỷ nhiệm hởng hoa hồng, không bị ràng buộc gì về tránh
nhiệm. Khi áp dụng phơng thức này thì giữa hai bên mua bán phải có tín nhiệm
rất cao, việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của ngời mua. Vì vậy chuyển
tiền ít đợc sử dụng trong thánh toán hàng hoá ngoại thơng mà thờng đợc sử
dụng trong quan hệ trả nợ, tiền đặt cọc, tiền ứng trớc, trả tiền thừa, thanh toán
những khoản chi phí phi mậu dịch hay tiền bồi thờng.
Phơng thức ghi sổ (Open account).
Là phơng thức thanh toán mà ngời bán mở một tài khoản (hoặc một
quyển sổ) để ghi nợ ngời mua sau khi ngời bán đã hoàn thành giao hàng hoá
hay dịch vụ, đến từng định kỳ (tháng, quý, nửa năm) ngời mua trả tiền cho ngời
bán.
Đặc điểm của phơng thức này là một phơng thức thanh toán không có sự
tham gia của Ngân hàng với chức năng là ngời mở tài khoản và thực thi thanh
toán. Chỉ mở tài khoản đặc biệt, không mở tài khoản song biên. Nếu ngời mua
mở tài khoản để ghi thì tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị
quyết toán giữa hai bên, chỉ có hai bên tham gia thanh toán: ngời bán và ngời
mua. Trình tự tiến hành:
(1). Giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hoá.
(2). Báo nợ trực tiếp.
8
(3). Ngời mua dùng phơng thức chuyển tiền để trả tiền khi đến định kỳ
thanh toán.
(3)
(3) (3)
(2)
(1)
Phơng thức này thờng đợc dùng cho thanh toán nội địa, hai bên mua bán
phải thực sự tin cậy lẫn nhau. Dùng cho thanh toán tiền gửi bán hàng ở nớc
ngoài, hay dùng trong thanh toán phi mậu dịch nh: tiền cớc phí vận tải, tiền phí
bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi cho vay và
đầu t. Dùng cho phơng thức hàng đổi hàng, nhiều lần thờng xuyên trong một
thời kỳ nhất định. Phơng thức này chỉ có lợi cho ngời mua.
Phơng thức thanh toán nhờ thu( Collection of payment).
Phơng thức thanh toán nhờ thu là một phơng thức thanh toán quốc tế
trong đó ngời xuất khẩu (ngời bán) sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng,
hoặc cung ứng dịch vụ cho ngời nhập khẩu (ngời mua), uỷ thác cho Ngân hàng
phục vụ mình thu hộ số tiền ở ngời nhập khẩu nớc ngoài, trên cơ sở hối phiếu
do ngời xuất khẩu ký phát.
Trong thanh toán quốc tế, khi sử dụng phơng thức này các nớc thờng vận
dụng Bản quy tắc thông nhất về nhờ thu chứng từ thơng mại ICC 522 do
phòng thơng mại quốc tế Paris ban hành, bản sửa đổi năm 1995.
* Quy trình thanh toán uỷ thác thu:
Khi việc chi trả đợc tiến hành theo phơng thức uỷ thác thu, thì có thể mô tả
khái quát quy trình đó nh sau:
9
Ngân hàng bên bán
Ngân hàng bên mua
Người bán
Người mua
(1). Căn cứ vào hợp đông mua bán ngoại thơng, ngời xuất khẩu tiến hành
gửi hàng cho ngời nhập.
(2). Ngay sau khi đã gửi hàng ra nớc ngoài, ngời xuất khẩu lập bộ chứng
từ, phát hành hối phiếu và gửi cho Ngân hàng phục vụ mình để nhờ Ngân hàng
thu hộ tiền.
(3). Nhận đựơc bộ chứng từ hàng hoá, hối phiếu do ngời xuất khẩu gửi tới,
Ngân hàng xuất khẩu tiến hành kiểm tra chứng từ và lập th uỷ nhiệm, rồi gửi
các chứng từ ấy cho Ngân hàng nớc ngời nhập khẩu.
(4). Nhận đợc các chứng từ từ Ngân hàng xuất khẩu, Ngân hàng nhập khẩu
phải kiểm tra những nội dung trên các chứng từ đó, rồi thông báo cho ngời nhập
khẩu biết.
(5). Sau khi đựơc thông báo về bộ chứng từ do ngời xuất khẩu gửi tới. Nếu
nhất trí, thì ngời nhập khẩu phải chấp nhận trả tiền hối phiếu hoặc trả tiền ngay
bộ chứng từ đó.
(6). Sau khi đã đợc ngời nhập khẩu trả tiền, Ngân hàng nhập khẩu làm thủ
tục chuyển trả số tiền ấy cho ngời xuất khẩu thông qua Ngân hàng xuất khẩu.
(7). Khi đã nhận đợc tiền do Ngân hàng nhập khẩu chuyển tiền đến, Ngân
hàng xuất khẩu trả số tiền đó cho ngời xuất khẩu.
(1)
(2) (7) (4) (5)
(3)
(6)
10
Người xuất khẩu
Người nhập khẩu
Ngân hàng nước
xuất khẩu
Ngân hàng nước nhập
khẩu
Trong thanh toán uỷ thác thu, nếu ngời xuất khẩu không thực hiện trọn vẹn
và đầy đủ các cam kết với ngời nhập khẩu trong hợp đồng mua bán ngoại thơng
thì ngời nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán (một phần hay toàn bộ) số tiền
trên giấy đòi tiền của ngời xuất khẩu.
Trong thanh toán uỷ thác thu, ngời xuất khẩu thông qua Ngân hàng chỉ
khống chế đợc quyền định đoạt hàng hoá, mà cha khống chế đợc việc trả tiền
của ngời nhập khẩu. Ngời nhập khẩu có thể bằng cách cha nhận bộ chứng từ
hàng hoá, để kéo dài việc trả tiền cho ngời xuất khẩu, hoặc có thể không trả tiền
khi tình hình thị trờng bất lợi cho họ.
Đối với hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu, Ngân hàng chỉ là ngời trung
gian thu hộ tiền cho ngời xuất khẩu, còn không có trách nhiệm với việc trả tiền
của ngời nhập khẩu. Hình thức này tuy về thủ tục có phần đơn giản song việc
trả tiền còn chậm.
Trong thanh toán ngoại thơng, nhờ thu đợc chia làm hai loại:
a. Nhờ thu phiếu trơn (nhờ thu không kèm chứng từ Clean collection):
Khi việc đòi tiền chỉ dựa trên chứng từ đòi tiền là hối phiếu do ngời xuất khẩu
ký phát, mà không kèm theo các chứng từ hàng hoá, thì đợc gọi là nhờ thu
phiếu trơn.
Loại này thờng đợc dùng trong thanh toán tiền chi trả về dịch vụ, cớc phí
bảo hiểm, tiền phạt, tiền bồi thờng,
b. Uỷ thác thu kèm chứng từ (Documentary collectttion). Khi việc đòi tiền,
ngoài hối phiếu do ngời xuất khẩu ký phát, còn phải kèm theo các chứng từ về
hàng hoá, gọi là uỷ thác thu kèm chứng từ.
Tuỳ theo cách thức trả tiền của ngời nhập khẩu, mà uỷ thác thu kèm chứng
từ có thể là chấp nhận trả tiền trao chứng từ (Documents against acceptance
D/A) hoặc trả tiền trao chứng từ (Documents against payment D/P).
Nếu là D/A thì ngời nhập khẩu phải ký tên chấp nhận trả tiền trên hối
phiếu do ngời xuất khẩu ký phát, thì mới đợc nhận hàng trao cho bộ chứng từ
hàng hoá.
11
Nếu là D/P thì ngời nhập khẩu phải trả ngay số tiền theo tờ phiếu trả tiền
ngay do ngời xuất khẩu lập, thì mới đuợc quyền lấy bộ chứng từ hàng hoá từ
Ngân hàng.
Phơng thức tín dụng chứng từ (Letter of credit L/C).
Trong thanh toán quốc tế nói chung, đặc biệt trong thanh toán ngoại thơng
hình thức thanh toán bằng L/C đợc sử dụng rất phổ biến. Khi vận dụng vào hình
thức thanh toán này, các nớc dựa vào Bản điều lệ và cách thức thực hành
thống nhất về tín dụng chứng từ UCP 500 do phòng thơng mại quốc tế Paris
ban hành năm 1993.
Theo Bản điều lệ và cách thức thực hành thống nhất về tín dụng chứng
từ thì tín dụng chứng từ đợc hiểu nh sau:
Th tín dụng (L/C) là một bản cam kết dùng trong thanh toán, trong đó
một Ngân hàng (Ngân hàng phục vụ ngời nhập khẩu) theo yêu cầu của ngời
nhập khẩu tiến hành mở và chuyển đến chi nhánh hay đại lý của ngân hàng này
ở nớc ngoài (Ngân hàng phục vụ ngời xuất khẩu) một L/C cho ngời đợc hởng
(Ngời xuất khẩu) một số tiền nhất định trong thời hạn qui định, với điều kiện
ngời đợc hởng phải xuất trình đầy đủ các chứng từ phù hợp với những nội dung,
điều kiện ghi trong th tín dụng .
Tham gia nghịệp vụ thanh toán bằng th tín dụng có thể gồm nhiều bên,
thông thờng có các bên sau:
- Ngời yêu cầu mở th tín dụng (The applicant for the credit) là ngời nhập
khẩu (Ngời mua).
- Ngời hởng th tín dụng (The benifitciary) là ngời xuất khẩu (Ngời bán).
Các ngân hàng liên quan: ít nhất có hai Ngân hàng tham gia: Ngân hàng
mở L/C còn gọi là Ngân hàng phát hành L/C (The issuing bank), Ngân hàng
này có trách nhiệm trích trả tiền cho ngời xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng
từ phù hợp với L/C; Ngân hàng thông báo L/C (Advising Bank) là Chi nhánh
Ngân hàng hoặc đại lý của Ngân hàng phát hành L/C hoặc Ngân hàng phục vụ
ngời xuất khẩu.
12
Tuỳ theo từng L/C cụ thể, mà còn có các Ngân hàng khác tham gia nh:
- Ngân hàng thanh toán, chiết khấu (The Negotiating Bank) : Ngân hàng
này trực tiếp trả tiền cho L/C. Trên thực tế Ngân hàng thanh toán L/C chính là
Ngân hàng L/C hoặc Ngân hành thông báo, hoặc một ngân hàng nào đó do
Ngân hàng phát hành L/C chỉ định.
- Ngân hàng xác nhận L/C (The confirming Bank). Theo yêu cầu của ngời
hởng lợi, một Ngân hàng đứng ra xác nhân L/C sẽ cùng với Ngân hàng phát
hành L/C có trách nhiệm trả tiền đối với L/C.
* Qui trình thanh toán L/C:
(1). Ngời nhập khẩu dựa vào hợp đồng mua bán ngoại thơng ký với ngời
xuất khẩu làm đơn xin mở L/C gửi đến ngân hàng của mình, yêu cầu Ngân hàng
này mở L/C cho ngời xuất khẩu hởng.
(2). Theo đơn xin mở L/C, Ngân hàng phục vụ ngời nhập khẩu mở một
L/C (phát hành L/C) cho ngời xuất khẩu hởng. Ngân hàng này chuyển bản
chính L/C cho ngời xuất khẩu (Ngân hàng thông báo).
(3). Ngân hàng xuất khẩu xác nhận L/C bằng văn bản và gửi bản chính
L/C cho ngời xuất khẩu.
(4). Căn cứ vào nội dung của L/C, Ngời xuất khẩu thực hiện giao hàng cho
ngời nhập khẩu.
(5). Sau khi hoàn tất việc giao hàng, ngời xuất khẩu phải hoàn chỉnh ngay
bộ các chứng từ hàng hoá và hối phiếu gửi về ngân hàng phục vụ mình, yêu cầu
ngân hàng này trả tiền cho bộ chứng từ đó.
(6). Ngân hàng thông báo nhận đợc bộ chứng từ. Kiểm tra kỹ nội dung các
chứng từ đó nếu thấy phù hợp thì ngân hàng thanh toán (hoặc chấp nhận chiết
khấu theo những điều khoản của L/C).
(7). Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng
phục vụ ngời nhập khẩu.
13
(8). Ngân hàng phục vụ ngời nhập khẩu (Ngân hàng phát hành L/C) sau
khi nhận đựơc bộ các chứng từ từ Ngân hàng thông báo chuyển đến, tiến hành
kiểm tra kỹ các chứng từ này, nếu thấy đáp ứng đợc những yêu cầu của L/C, thì
chuyển tiền trả cho Ngân hàng thông báo.
(9). Ngân hàng phát hành L/C thông báo cho ngời nhập khẩu biết đã trả
tiền cho ngời xuất khẩu, đồng thời yêu cầu ngời nhập khẩu hoàn lại số tiền này,
sau đó Ngân hàng phát hành L/C trao ngời nhập khẩu bộ chứng từ để làm căn
cứ nhận hàng.
(2)
(7)
(8)
(3) (5) (6) (1) (9)
(4)
Nét đặc thù trong thanh toán L/C là việc trả tiền của Ngân hàng chỉ căn cứ
vào sự phù hợp của các chứng từ hàng hoá với những điều kiện nêu trong th tín
dụng mà không trực tiếp dựa vào hợp đồng mua bán ngoại thơng. Do vây, Ngân
hàng không bị ràng buộc bởi những điều khoản trong hợp đồng mua bán ngoại
thơng, mà chỉ bị ràng buộc các điều kiện trong nội dung của L/C khi nó đã đợc
mở.
Thanh toán bằng L/C tuy có phức tạp về mặt thủ tục, song các nguyên tắc
thanh toán rất chặt chẽ, rõ ràng, nên việc nhận hàng và trả tiền luôn luôn đợc
đảm bảo. Vì thế, hình thức này đợc sử dụng rất rộng rãi trong thơng mại quốc
tế.
Hiện nay trong thanh toán quốc tế có nhiều loại th tín dụng đợc sử dụng:
14
Ngân hàng xuất
khẩu(Ngân hàng thông
báo L/C)
Ngân hàng nhập khẩu
(Ngân hàng mở L/C)
Người xuất khẩu
Người nhập khẩu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét