Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
Chơng I
CƠ Sở Lý LUậN, THựC TIễN Và CƠ Sở PHáP Lý Về PHáT
TRIểN Đội ngũ giảng viên
1.1. Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên.
1.1.1. Khái niệm quản lý giáo dục
Có thể hiểu một cách tổng quát: Quản lý giáo dục là hoạt động điều
hành phối hợp các lực lợng nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục- đào tạo
theo yêu cầu phát triển xã hội.
Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trờng học nói riêng là những tác
động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể
quản lý giáo dục đến hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục
vận hành theo đờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện đợc
các tính chất của nhà trờng XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình dạy học - giáo dục (thế hệ trẻ), đa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự
kiên, tiến lên trạng thái mới về chất.
1.1.2. Khái niệm nhà giáo, vai trò của giảng viên ở trờng Cao đẳng, Đại học
Theo quy định của Điều 70 Luật Giáo dục năm 2005, nhà giáo là ngời
làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trờng và cơ sở giáo dục
khác,. Hoặc, nhà giáo là ngời có đủ tiêu chuẩn theo quy định (hoặc
có chứng chỉ hành nghề) và đang làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
trong các cơ sở giáo dục
Theo quy định của Điều 79 Luật Giáo dục năm 2005: Nhà giáo của
trờng cao đẳng, trờng đại học đợc tuyển dụng theo phơng thức u tiên
đối với sinh viên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi, có phẩm chất tốt và
ngời có trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, có kinh
nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành nhà giáo. Trớc
khi đợc giao nhiệm vụ giảng dạy, giảng viên cao đẳng, đại học phải
đợc bồi dỡng về nghiệp vụ s phạm.
5
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
Một giảng viên đại học giỏi đợc định nghĩa trong ba chức năng chính: (1)
nhà giáo, (2) nhà khoa học và (3) nhà cung ứng dịch vụ cho cộng đồng.
Giảng viên - nhà giáo
Đây là vai trò truyền thống nhng quan trọng và tiên quyết đối với một
giảng viên. Một giảng viên giỏi trớc hết phải là một ngời thầy giỏi. Một ngời
thầy giảo không chỉ giỏi về chuyên môn là đủ. Theo các nhà giáo dục thế
giới, một giảng viên toàn diện là ngời có bốn nhóm kiến thức và kỹ năng sau:
+ Kiến thức chuyên ngành: kiến thức chuyên sâu về chuyên
ngành và các môn học mà mình giảng dạy.
+ Kiến thức về chơng trình đào tạo: để đảm bảo tính liên thông,
gắn kết giữa các môn học, đa ngành , đa lĩnh vực và phong phú
về văn hoá để giúp cho ngời học thích nghi và hợp tác tốt trong
các bối cảnh khác nhau.
+ Kiến thức và kỹ năng về dạy và học: Bao gồm các kiến thức về
phơng pháp luận kĩ thuật dạy và học nói chunghoc, kỹ thuật dạy
và học theo chuyên ngành cụ thể tuỳ thuộc hoàn cảnh và điều
kiện tiếp cận
+ Kiến thức về môi trờng GD, hệ thống giáo dục, mục tiêu, sứ
mệnh, giá trị GD bao gồm cả những hiểu biết chung về KH
TN ,XH, KH NV và liên kết tri thức.
Giảng viên - nhà khoa học
Giảng viên thực hiện vai trò nhà khoa học là giải thích và dự báo các
vấn đề của tự nhiên và xã hội mà loài ngời và khoa học cha có lời giải.
Nghiên cứu khoa học, tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học
vào thực tiễn đời sống và công bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng
(cộng đồng khoa học, xã hội nói chung, trong nớc và quốc tế) là ba chức
năng chính của một nhà khoa học. Từ đây có hai xu hớng nghiên cứu chính:
nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.
Giảng viên - nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội
6
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
Đây là một vai trò mà rất nhiều giảng viên đã và đang thực hiện - nó
cũng là một vai trò mà xã hội đánh giá cao và kỳ vọng ở các giảng viên. ở vai
trò này, giảng viên cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trờng, cho sinh
viên, cho các tổ chức xã hội - đoàn thể, cho cộng đồng và cho xã hội nói
chung. Cụ thể đối với nhà trờng và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện
các dịch vụ nh tham gia công tác quản lý, các công việc hành chính, tham gia
các tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho
sinh viên Với ngành của mình, giảng viên làm phản biện cho các tạp chí
khoa học, tham dự và tổ chức các hội thảo khoa học.
1.2. Cơ sở thực tiễn của công tác phát triển giảng viên
Từ năm 2006, 2007 đã có những đề án về việc trao quyền tự chủ cho
các trờng CĐ, ĐH nếu các trờng thỏa mãn 5 tiêu chí về đảm bảo chất lợng,
kiểm định chất lợng, kiểm toán thờng xuyên, công bố mức học phí, chơng
trình đào tạo và phù hợp với quy hoạch.
Tự xây dựng cơ sở vật chất đủ mạnh và phát triển đội ngũ. Đội ngũ phải
đông về số lợng, khỏe về chất lợng. Có nh vậy nhà trờng mới tự chủ đợc.
Chủ trơng của nhà trờng trong xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên
là: tận dụng tối đa trình độ chuyên môn cao của những giảng viên có
trình độ, có học hàm học vị đang công tác tại các trờng; đồng thời nhanh
chóng tuyển dụng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên cơ hữu trẻ. Tuy
nhiên, chủ trơng này lúc đó không nhận đợc sự đồng thuận hoàn toàn của
một số lãnh đạo. Bởi vì, nếu xây dựng đội ngũ sẽ làm tăng chi phí, giảm
thu nhập thực tế. Với tầm nhìn chiến lợc, Ban lãnh đạo nhà trờng khẳng
định đây là một chủ trơng đúng đắn và cần đợc triển khai với những bớc
đi cụ thể. Làm đợc nh vậy sẽ vừa đảm bảo đợc chất lợng đào tạo, lại vừa
nhanh chóng có đợc thế chủ động trong thực hiện kế hoạch đào tạo, nâng
cao danh tiếng của nhà trờng.
7
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
Tóm lại: Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cha đáp ứng
đợc nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới. Còn thiếu quy hoạch tổng thể đào
tạo đội ngũ nhà giáo từ mầm non đến đại học dẫn đến tình trạng đội ngũ
nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu, vừa không đồng bộ về cơ cấu. Các trờng cao
đẳng, đại học, số giảng viên có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ còn quá ít. Phơng
thức đào tạo trong các nhà trờng s phạm chậm đổi mới, chất lợng đào tạo
còn thấp dẫn đến tình trạng trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của một bộ
phận nhà giáo cha đáp ứng đợc yêu cầu nâng cao chất lợngCông tác bồi
dỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo còn
thiếu hiệu quả.
1.3. Cơ sở pháp lý về phát triển đội ngũ giảng viên
1.3.1 T tởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo
Các nhà giáo có nhiệm vụ rất nặng nề và vẽ vang là ngời chiến sĩ tiên
phong trên mặt trận t tởng, văn hoá có trách nhiệm truyền đạt cho thế hệ trẻ
lý tởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hoá của dân tộc
và nhân loại, bồi dỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo
phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "
Không có thầy giáo thì không có giáo dục không có giáo dục, không có
cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hoá".
Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của ngời thầy giáo, Ngời đòi hỏi trớc
hết ngời thầy giáo phải cải tạo t tởng bản thân mình, phải luôn luôn cầu tiến:
"giáo viên cũng phải tiến bộ cho kịp thời đại thì mới làm đợc nhiện vụ, chớ
tự mãn cho mình giỏi rồi thì dừng lại mà dừng lại là lùi bớc, là lạc hậu, tự
đào thải mình trớc. Phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo con em,
cải tạo xã hội.
Để nâng cao chất lợng dạy và học, Ngời cho rằng: Ngời huấn luyện
phải học tập mãi thì mới làm tốt đợc công việc của mình- Ngời huấn luyện
nào tự cho mình là biết đủ cả rồi thì ngời đó là dốt nhất. Ngoài việc nhắc
8
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
nhở về học tập chuyên môn, Ngời cũng lu ý một vấn đề hết sức quan trọng đó
là học tập chính trị, vì Có học tập lý luận Mác- Lênin thì mới củng cố đợc
đạo đức cách mạng, giữ vững lập trờng, nâng cao sự hiểu biết về trình độ
chính trị mới làm nòng cốt công tác Đảng giao phó.
1.3.2 Các chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc về xây dựng và
phát triển đội ngũ nhà giáo
Đề cập đến vai trò của công tác phát triển đội ngũ giảng viên, Nghị
quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng 2 khoá VIII đã xác định: chăm
lo xây dựng đội ngũ giảng viên sẽ tạo đợc sự chuyển biến về chất lợng giáo
dục, đáp ứng đợc những yêu cầu mới của đất nớc.
Càng khẳng định hơn khi quan điểm chỉ đạo trong nghị quyết của chính
phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 về đổi mới cơ bản và toàn
diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020: Phát huy tính tích
cực và chủ động của các cơ sở giáo dục đại học trong công cuộc đổi mới
mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sự hởng ứng, tham gia
tích cực của toàn xã hội.
Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí th Trung ơng Đảng về xây dựng, nâng cao
chất lợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cũng chỉ rõ: Mục tiêu là
xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đợc chuẩn hoá, đảm bảo
chất lợng, đủ về số lợng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản
lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lơng tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua
việc quản lý, phát triển đúng định hớng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để
nâng cao chất lợng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng
cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ơng Đảng khóa
X nhấn mạnh: Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng cao
tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nớc, nâng cao năng lực lãnh đạo
của Đảng và chất lợng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu t xây dựng
đội ngũ trí thức là đầu t phát triển bền vững.
9
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
Theo thông báo kết luận của Bộ chính trị số 242-TB/TW ngày
25/04/2009 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ơng 2 (khóa VIII), phơng
hớng giáo dục và đào tạo đến năm 2020 đã đa ra giải pháp: Xây dựng và
phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đủ về số lợng, đáp ứng yêu
cầu về chất lợng.
Điều này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc trong công tác
phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hớng chuẩn hoá,
bảo đảm đủ về số lợng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lợng, đặc biệt chú
trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lơng tâm nghề
nghiệp và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo nói chung, giảng
viên CĐ-ĐH nói riêng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo
dục trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
10
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
Chơng II
THựC TRạNG Đội ngũ và phát triển đội ngũ giảng viên
trờng cao đẳng xây dựng miền tây
2.1. Khái quát chung về trờng Cao đẳng Xây dựng Miền Tây
Tiền thân của Trờng Cao đẳng Xây dựng Miền Tây là Trờng Trung
học xây dựng số 8 đợc Chính phủ ký quyết định thành lập năm 1976, đến
năm 1995 đợc Bộ Xây dựng đổi tên thành Trờng Trung học Xây Dựng
Miền Tây. Ngày 09 tháng 01 năm 2003, Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
ký quyết định 72/QĐ-BGD&ĐT/TCCB thành lập Trờng Cao đẳng Xây
dựng Miền Tây trên cơ sở nâng cấp Trờng Trung học Xây dựng Miền Tây.
Trờng Cao đẳng Xây dựng Miền Tây có nhiệm vụ đào tạo cán bộ Kỹ
thuật, Kinh tế xây dựng bậc Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và Trung cấp
nghề, bồi dỡng cán bộ quản lý ngành Xây dựng. Từ năm 2004, Trờng đợc Bộ
Xây dựng giao nhiệm vụ là cơ sở đào tạo đại học chính quy và không chính
quy của Trờng Đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh ở các tỉnh Miền Tây. Hiện
nay, thực hiện quy hoạch của Chính Phủ về mạng lới đào tạo ở đồng bằng sông
Cửu Long, Trờng đang tich cực xây dựng cơ sở vật chất, bồi dỡng đội ngũ giáo
viên, xây dựng chơng trình và kế hoạch giảng dạy để trở thành Trờng Đại
học Xây dựng Miền Tây.
Hiện tại, đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và nhân viên của nhà tr-
ờng là 137 ngời, trong đó số giảng viên là 95 ngời thuộc 05 khoa và 03 bộ
môn và một số giảng viên kiêm nghiệm, đảm nhiệm công tác giảng dạy 03
chuyên ngành đào tạo Cao đẳng và Trung cấp là: Xây dựng dân dụng và
công nghiệp, Cấp thoát nớc và môi trờng, Kế toán xây dựng. Ngoài ra, còn
đào tạo nghề hệ chính quy, các lớp liên thông với trên 3000 học sinh, sinh
viên.
STT Nội dung Tổng sốTiến sĩThạc sĩĐại học Cao Trình
11
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
ng khác
1 Khoa Xây dựng 33 04 11 18
2
B môn Kin trúc
11 07 04
3
Khoa Kinh t
06 05 01
4
Khoa Lý lun chính tr
09 01 02 06
5
Khoa c bn
10 06 04
6
Khoa o to ngh
14 14
7
B môn hạ tầng
08 03 05
8
B môn Ngoi ng
04 03 01
Tổng 95 05 37 53
Bảng tổng hợp số lợng giảng viên (đến 05/2010)
2.2. Thực trạng đội ngũ giảng viên trờng Cao đẳng Xây dựng Miền Tây
2.2.1. Thực trạng về số lợng
Đội ngũ giảng viên nhà trờng còn thiếu về số lợng, thể hiện ở tỷ lệ
sinh viên/giảng viên còn cao (>30SV/GV) trong khi đó quy định của Bộ
là (25SV/GV). Hằng năm, mặc dù đã mời giảng viên thỉnh giảng, hổ trợ
của các giảng viên kiêm nhiệm nhng số giờ vợt so với chuẩn nhiều, có
ngời vợt trên 100% (Bộ cho phép vợt không quá 50%). Số giảng viên lớn
tuổi và có kinh nghiệm đã đến tuổi nghỉ hu trong khi đó số giảng viên
mới tuyển dụng lại không có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy hoặc
còn trong thời gian nghiên cứu soạn giảng nên không bố trí cho họ nhiều
giờ đợc.
Công tác tuyển giảng viên cũng gặp nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy,
các sinh viên tốt nghiệp ra trờng loại khá, giỏi thờng chọn những công ty xây
dựng với mức lơng cao và có khả năng thăng tiến. Trong khi đó, để đợc tuyển
vào làm giảng viên phải hội đủ một số điều kiện (chuyên môn giỏi, ngoại
hình dể nhìn, giọng nói rõ và có khả năng s phạm,) nhng với mức lơng
không cao và cơ hội thăng tiến không nhiều.
2.2.2. Thực trạng về chất lợng
12
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
Nhìn chung đội ngũ cán bộ giảng viên trờng Cao đẳng Xây dựng Miền
Tây có lập trờng t tởng vững vàng, có phẩm chất chính trị tốt, có tinh thần trách
nhiệm cao, có tâm huyết với nghề, đã và đang phát huy khả năng trí tuệ trên lĩnh
vực giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý, góp phần nâng cao chất lợng giáo
dục đào tạo, nâng cao huy tín của trờng, nhiều giảng viên đạt chiến sĩ thi đua các
cấp. Có 100% giảng viên có trình độ đại học trở lên, 100% số giảng viên đợc bồi
dỡng nghiệp vụ s phạm.
Tuy nhiên, số giảng viên có trình độ cao còn thiếu, nhiều vấn đề về chuyên
môn, học thuật cha có ngời đảm nhiệm. Những năm gần đây trình độ chuyên
môn của giảng viên đợc cải thiện đáng kể song vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu, tỉ lệ
giảng viên có trình độ sau đại học còn thiếu so với quy định.
+ Số giảng viên có trình độ Tiến sỹ là 5 ngời, chiếm 5.3%
+ Số giảng viên có trình độ Thạc sỹ là 37 ngời, chiếm 38,9%
+ Số giảng viên có trình độ Cử nhân (Kỹ S) là 53 ngời, chiếm 55.8%.
Một trong những công cụ rất quan trọng đối với giảng viên trong
thời kỳ hội nhập đó là ngoại ngữ. Ngoại ngữ giúp chúng ta có thêm điều
kiện thuận lợi để tiếp cận với thế giới khoa học, kỹ thuật hiện đại, khai
thác những kho tàng kiến thức từ các nguồn học liệu khác nhau để phục vụ
cho công tác giảng dạy và NCKH. Tuy nhiên, trình độ ngoại ngữ của giảng
viên còn thấp, số giảng viên có thể đọc hiểu, khai thác tài liệu bằng tiếng
nớc ngoài còn ít.
ở bậc Cao đẳng, Đại học, giảng viên phải thờng xuyên dành nhiều thời
gian tự học, bổ sung kiến thức kinh điển mà mình còn thiếu và cập nhật những
kiến thức mới mẻ nhằm theo kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ. Tiếc
rằng thời gian tự học của giảng viên quá ít, mặc dù trình độ chung cha đáp ứng đ-
ợc yêu cầu. Nguyên nhân là do những điều kiện ngoại cảnh tác động nên thời
gian dành cho những công việc chung và việc nghiên cứu học tập nâng cao trình
độ còn nhiều hạn chế, cha đợc cập nhật kiến thức mới thờng xuyên và thiếu về
kiến thức thực tế. Một nguyên nhân khác nữa là qui mô đào tạo ngày càng tăng
13
Tiểu luận: Lớp bồi dỡng cán bộ quản lý phòng, khoa, bô môn
theo sự phát triển của trờng nhng số lợng giảng viên không tăng, dẫn đến thời
gian lên lớp quá nhiều.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển lên trờng Đại học, giảng viên phải đủ
tiêu chuẩn theo Quyết định của Thủ tớng chính phủ số 58/2010/QĐ-TTg
ngày 22 tháng 9 năm 2010 về việc ban hành Điều lệ trờng Đại hoc. Có 5
tiêu chuẩn gồm:
1- Có phẩm chất, đạo đức, t tởng tốt;
2- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dỡng
nghiệp vụ s phạm. Có bằng thạc sĩ trở lên đối với giảng viên
giảng dạy các môn lý thuyết của chơng trình đào tạo đại học; có
bằng tiến sĩ đối với giảng viên giảng dạy và hớng dẫn chuyên đề,
luận văn, luận án trong các chơng trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ;
3- Có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu công việc;
4- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
5- Lý lịch bản thân rõ ràng.
Tóm lại, lãnh đạo nhà trờng cũng nh toàn thể cán bộ, giảng viên cần có
sự nỗ lực rất lớn, phải rất nghiêm túc và quyết tâm phấn đấu thì mới có hy
vọng củng cố và phát triển đội ngũ giảng viên tơng xứng vơi quy mô đào tạo
hiện nay và trong tơng lai khi trờng lên Đại học.
2.2.3. Thực trạng về cơ cấu
Cơ cấu giảng viên ở các khoa, bộ môn không thật sự hợp lý, đặc
biệt ở 04 khoa, bộ môn chính của nhà trờng (khoa Xây dựng (33), khoa
Cơ bản (10), bộ môn Kiến trúc (11), bộ môn Hạ tầng (08)). Nếu trờng
phát triển lên Đại học thì quy mô cũng nh ngành nghề đào tạo sẽ tăng và
sẽ tăng nhiều nhất ở 04 khoa, bộ môn này.
Nớc ta trong thời kỳ CNH, HĐH, ngành xây dựng hiện nay đang phát
triển, thu hút nhiều nhân lực vào lĩnh vực này. Cho nên, việc tuyển dụng
giảng viên xây dng, kiến trúc có đủ tiêu chuẩn là vấn đề các trờng Cao
đẳng, Đại học Xây dựng đang lo lắng vì chế độ đãi ngộ cho giảng viên cha
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét