Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền chuyển nhợng một phần hoặc
toàn bộ phần vốn góp, nhng trớc hết phải chào bán phần vốn đó cho tất cả các thành viên
còn lại theo tỷ lệ tơng ứng với phần vốn góp của họ trong công ty. Chỉ đợc chuyển nhợng
có ngời không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc
không mua hết.
Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành
viên đó bỏ phiếu chống hoặc phản đối bằng văn bản đối với quyết định của Hội đồng
thành viên về các vấn đề:
Tổ chức lại công ty
Các trờng hợp khác quy định tại điều lệ công ty.
Trong quá trình hoạt động, theo quyết định của Hội đồng thành viên,công ty có thể
tăng hoặc giảm vốn theo qui định của pháp luật.
Hội đồng thành viên của công ty quyết định phơng án sử dụng và phân chia lợi
nhuận hoặc phơng án xử lý lỗ của công ty.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Là doanh nghiệp do một tổ chức
làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ về tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Công ty có quyền lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn, tuy nhiên công ty
không đợc quyền phát hành cổ phiếu.
Chủ sở hữu công ty không trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào
công ty, chỉ đợc quyền rút vốn bằng cách chuyển nhợng một phần hoặc toàn bộ số vốn
cho tổ chức hoặc cá nhân khác.
Chủ sở hữu công ty là ngời quyết định sử dụng lợi nhuận sau thuế.
1.2.1.4. Doanh nghiệp t nhân:
Doanh nghiệp t nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Nh vậy, chủ doanh nghiệp t nhân là ngời bỏ vốn đầu t của mình và cũng có thể huy
động thêm vốn từ bên ngoài dới hình thức đi vay. Trong khuôn khổ của luật pháp, chủ
doanh nghiệp t nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh
doanh. Tuy nhiên loại hình doanh nghiệp này không đợc phép phát hành bất kỳ loại
chứng khoán nào để huy động vốn trên thị trờng. Qua đó cho thấy nguồn vốn của doanh
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
nghiệp t nhân là hạn hẹp, loại hình doanh nghiệp này thờng thích hợp với kinh doanh quy
mô nhỏ.
Chủ doanh nghiệp t nhân có quyền quyết định đối với tất cả các hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình, có quyền
bán doanh nghiệp của mình cho ngời khác hoặc có quyền tạm ngừng hoạt động kinh
doanh. Việc thực hiện cho thuê hay bán doanh nghiệp hoặc tạm ngừng hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp phải tuân thủ các yêu cầu của của pháp luật hiện hành.
Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu và sử dụng của chủ doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh, chủ doanh nghiệp t nhân tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình. Điều đó cũng có nghĩa là về mặt tài chính chủ doanh nghiệp
phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. Đây cũng là một
điều bất lợi của loại hình doanh nghiệp này.
1.2.1.5. Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài:
Theo Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam quy định các hình thức đầu t trực tiếp từ n-
ớc ngoài vào Việt Nam gồm có doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nớc
ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đầu t một phần hoặc toàn bộ vốn nhằm thực
hiện các mục tiêu chung là tìm kiếm lợi nhuận, có t cách pháp nhân, tổ chức và hoạt động
theo quy chế của công ty trách nhiệm hữu hạn và tuân theo quy định của pháp luật Việt
Nam.
Doanh nghiệp liên doanh có đặc điểm: Phần vốn góp của bên ngoài vào vốn pháp
định không hạn chế ở mức tối đa nhng lại hạn chế ở mức tối thiểu, tức là không đợc thấp
hơn 30% của vốn pháp định, trừ những trờng hợp do Chính phủ quy định. Việc góp vốn
của các bên tham gia có thể bằng tiền nớc ngoài, tiền Việt Nam, tài sản hiện vật, giá trị
quyền sở hữu công nghiệp, giá trị quyền sử dụng đất, các nguồn tài nguyên thiên
nhiên theo quy định của pháp luật tại Việt Nam (có quy định cụ thể cho mỗi bên nớc
ngoài và Việt Nam).
Các bên trong doanh nghiệp liên doanh có quyền chuyển nhợng giá trị phần vốn
của mình, nhng phải u tiên chuyển nhợng cho các bên trong liên doanh.
Lợi nhuận sau thuế thu nhập của doanh nghiệp liên doanh đợc trích lập quỹ dự
phòng tài chính, quỹ phúc lợi và quỹ khen thởng.
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
Việc các nhà đầu t nớc ngoài có lợi nhuận và muốn chuyển số lợi nhuận đó về nớc
họ thì phải nộp một khoản thuế về việc chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài tuỳ thuộc vào mức
vốn góp của nhà đầu t nớc ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh.
Doanh nghiệp có 100% vốn đầu t nớc ngoài: là doanh nghiệp do nhà đầu t nớc
ngoài đầu t 100% vốn thành lập tại Việt Nam. Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp
100% vốn đầu t nớc ngoài do nhà đầu t nớc ngoài quy định trên cơ sở quy chế pháp lý về
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài ở Việt Nam.
1.2.2. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh:
Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hởng không nhỏ tới
doanh nghiệp. Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác
nhau. Những ảnh hởng đó thể hiện:
1.2.2.1. ảnh hởng của tính chất ngành kinh doanh:
ảnh hởng này thể hiện trong thành phần cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp,
ảnh hởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng nh tỷ lệ thích ứng để hình
thành và sử dụng chúng, do đó có ảnh hởng tới tốc độ luân chuyển vốn (vốn cố định và
vốn lu động), ảnh hởng tới phơng pháp đầu t, thể thức thanh toán chi trả.
1.2.2.2. ảnh hởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất - kinh doanh:
Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hởng trớc hết đến nhu cầu vốn sử dụng và
doanh thu tiêu thu sản phẩm. Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn thì nhu cầu
vốn lu động giữa các thời kỳ trong năm thờng không có biến động lớn, doanh nghiệp
cũng thờng xuyên thu đợc tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp dễ đàng đảm
bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền, cũng nh trong việc tổ chức và đảm bảo nguồn
vốn cho nhu cầu kinh doanh. Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có
chu kỳ sản xuất dài phải ứng ra một lợng vốn lu động giữa các quý trong năm thờng có
sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũng không đợc đều, tình hình thanh toán, chi trả
cũng thờng gặp những khó khăn. Cho nên việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng nh đảm
bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn.
1.2.2.3. Môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp:
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trờng kinh doanh nhất
định. Môi trờng kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên ngoài ảnh hởng tới hoạt
động của doanh nghiệp. Môi trờng kinh doanh có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động
của doanh nghiệp trong đó có hoạt động tài chính.
Dới đây chủ yếu xem xét tác động của môi trờng kinh doanh đến hoạt động tài
chính doanh nghiệp.
- Sự ổn định của nền kinh tế:
Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, của thị trờng có ảnh hởng trực tiếp
tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hởng đến nhu cầu về vốn kinh doanh.
Những tác động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi ro trong kinh doanh mà các
nhà tài chính doanh nghiệp phải lờng trớc, những rủi ro đó ảnh hởng tới các khoản chi phí
về đầu t, chi phí trả lãi hay tiền thuê nhà xởng, máy móc thiết bị hay việc tìm nguồn vốn
tài trợ.
Nền kinh tế ổn định và tăng trởng tới một tốc độ nào đó thì doanh nghiệp muốn
duy trì và giữ vững vị trí của mình, cũng phải phấn đấu để phát triển với nhịp độ tơng đ-
ơng. Khi doanh thu tăng lên, sẽ đa đến việc gia tăng tài sản, các nguồn doanh nghiệp và
các loại tài sản khác. Khi đó, các nhà tài chính doanh nghiệp phải tìm nguồn tài trợ cho
sự mở rộng sản xuất, sự tăng tài sản đó.
- ảnh hởng của giá cả thị trờng, lãi suất và tiền thuế:
Giá cả thị trờng, giá cả sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thu có ảnh hởng lớn tới
doanh thu do đó ảnh hởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận. Cơ cấu tài chính của
doanh nghiệp cũng bị ảnh hởng nếu có sự thay đổi về giá cả. Sự tăng, giảm lãi suất và
giá cổ phiếu cũng ảnh tới sự tăng giảm về chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình
thức tài trợ khác nhau. Mức lãi suất cũng là một yếu tố đo lờng khả năng huy động vốn
vay. Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh, tới khả năng
tiếp tục đầu t hay rút khỏi đầu t.
Tất cả các yếu tốt trên có thể đợc các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp sử dụng
để phân tích các hình thức tài trợ và xác định thời gian tìm kiếm các nguồn vốn trên thị
trờng tài chính.
- Sự cạnh tranh trên thị trờng và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ:
Sự cạnh tranh về sản phẩm đang sản xuất và các sản phẩm tơng lai giữa các doanh
nghiệp có ảnh hởng lớn tới kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và có liên quanh chặt chẽ
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn taị và tăng trởng trong một nền kinh tế luôn
luôn biến đổi và ngời giám đốc tài chính phải chịu trách nhiệm về việc cho doanh nghiệp
hoạt động khi cần thiết.
Cũng tơng tự nh vậy, sự tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải
ra sức cải tiến kỹ thuật, quản lý, xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình hình tài chính, khả
năng thích ứng với thị trờng, từ đó đề ra những chính sách thích hợp cho doanh nghiệp.
- Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nớc đối với doanh nghiệp:
Nh chính sách khuiyến khích đầu t, chính sách thuế, chính sách xuất khẩu, nhập
khẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định Đây là những yếu tố tác động lớn đến các vấn đề
tài chính của doanh nghiệp.
- Sự hoạt động của thị trờng tài chính và hệ thống các tổ chức tài chính trung
gian:
Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với thị trờng tài chính, nơi mà doanh nghiệp
có thể huy động vốn hay đầu t những khoản tài chính tạm thời nhàn rỗi. Sự phát triển của
thị trờng tài chính làm nảy sinh các công cụ tài chính mới, doanh nghiệp có thể s dụng để
huy động vốn đầu t. Chẳng hạn, khi xuất hiện hình thức thuê tài chính, doanh nghiệp có
thể nhờ đó giảm bớt đợc số vốn cần đầu t hoặc khi hình thành thị trờng chứng khoán,
doanh nghiệp có thêm phơng tiện để huy động vốn hay đầu t vốn Sự phát phát triển và
hoạt động có hiệu quả của các tổ chức tài chính trung gian nh ngân hàng thơng mại,
công ty tài chính, quỹ tín dụng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp huy động
vốn.
Khi xem xét tác động của môi trờng kinh doanh, không chỉ xem xét ở phạm vi
trong nớc mà cần phân tích đánh giá cả môi trờng khu vực và thế giới, vì biến động về
kinh tế - tài chính trong khu vực và trên thế giới tác động không nhỏ đến hoạt động kinh
doanh của một nớc.
2. Vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp:
2.1. Vốn kinh doanh:
2.1.1. Khái niệm về vốn kinh doanh:
Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần
phải có vốn. Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết có ý nghĩa quyết định đến quá trình
sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp đợc hiểu là số tiền ứng trớc về toàn bộ tài sản
hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp nhằm
mục đích kiếm lời.
Khi phân tích hình thái biểu hiện và sự vận động của vốn kinh doanh, cho thấy
những đặc điểm nổi bật sau:
- Vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu
của quỹ là để phục vụ cho sản xuất - kinh doanh tức là mục đích tích luỹ, không phải là
mục đích tiêu dùng nh một vài quỹ khác trong doanh nghiệp.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có trớc khi diễn ra hoạt động sản xuất - kinh
doanh.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp sau khi ứng ra, đợc sử dụng vào kinh doanh và
sau mỗi chu kỳ hoạt động phải đợc thu về để ứng tiếp cho kỳ hoạt động sau.
- Vốn kinh doanh không thể mất đi. Mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩa với
nguy cơ phá sản.
Cần thấy rằng có sự phân biệt giữa tiền và vốn. Thông thờng có tiền sẽ làm nên
vốn, nhng tiền cha hẳn là vốn. Tiền đợc gọi là vốn phải đồng thời thoả mãn những điều
kiện sau:
- Một là: Tiền phải đại diện cho một lợng hàng hoá nhất định. Hay nói cách khác,
tiền phải đợc đảm bảo bằng một lợng tài sản có thực.
- Hai là: Tiền phải đợc tích tụ và tập trung ở một lợng nhất định. Sự tích tụ và tập
trung lợng tiền đến hạn độ nào đó mới làm cho nó đủ sức để đầu t vào một dự án kinh
doanh nhất định.
- Ba là: Khi tiền đủ lợng phải đợc vận động nhằm mục đích kiếm lời. Cách thức
vận động của tiền là doanh nghiệp phơng thức đầu t kinh doanh quyết định. Phơng thức
đầu t của một doanh nghiệp, có thể bao gồm:
+ Đối với đầu t cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, công thức vận động của vốn
nh sau:
TLSX
T - H SX H - T
SLĐ
+ Đối với đầu t cho lĩnh vực thơng mại, công thức đơn giản hơn:
T - H - T
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
+ Đối với đầu t mua trái phiếu hoặc cổ phiếu, góp vốn liên doanh thì công thức vận
động là: T - T
2.1.2. Đặc trng của vốn kinh doanh:
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trớc cho hoạt động sản xuất -
kinh doanh của doanh nghiệp. Tất nhiên muốn có đợc lợng vốn đó, các doanh nghiệp
phải chủ động khai thác, thu hút vốn trên thị trờng.
- Mục đích vận động của tiền vốn là sinh lời. Nghĩa là vốn ứng trớc cho hoạt động
sản xuất - kinh doanh phải đợc thu hồi về sau mỗi chu kỳ sản xuất, tiền vốn thu hồi về
phải lớn hơn số vốn đã bỏ ra.
2.2. Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp:
2.2.1.Căn cứ vào mối quan hệ sở hữu về vốn:
2.2.1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu:
Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền
chiếm hữu, sử dụng và định đoạn, bao gồm: vốn điều lệ, vốn tự bổ sung, vốn doanh
nghiệp nhà nớc tài trợ (nếu có). Trong đó:
- Nguồn vốn điều lệ: Trong các doanh nghiệp t nhân vốn đầu t ban đầu do chủ sở
hữu đầu t. Trong các doanh nghiệp Nhà nớc vốn đầu t ban đầu do Nhà nớc cấp một phần
(hoặc toàn bộ)
- Nguồn vốn tự bổ sung: bao gồm tất cả các nguồn vốn mà doanh nghiệp tự bổ
sung từ nội bộ doanh nghiệp nh từ lợi nhuận để lại, quỹ khấu hao, các quỹ dự phòng tài
chính và quỹ đầu t phát triển.
Nguồn vốn chủ sở hữu là một nguồn vốn quan trọng và có tính ổn định cao, thể
hiện quyền tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ trọng của nguồn vốn này trong cơ
cấu nguồn vốn càng lớn, sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngợc lại.
Vốn cSH tổng nợ
Tại một = nguồn - phải
thời điểm vốn trả
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
2.2.1.2. Nợ phải trả:
Là tất cả các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có
trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế, bao gồm:
- Nguồn vốn chiếm dụng hợp pháp: Trong quá trình SXKD của doanh nghiệp đơng
nhiên phát sinh các quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các tác nhân kinh tế khác
nh với Nhà nớc, với CBCNV, với khách hàng, với ngời bán từ đó mà phát sinh vốn chiếm
dụng và vốn bị chiếm dụng. Thuộc về vốn chiếm dụng hợp pháp có các khoản vốn sau:
+ Các khoản nợ khách hàng cha đến hạn trả.
+ Các khoản phải nộp Ngân sách Nhà nớc cha đến hạn nộp.
+ Các khoản phải thanh toán với CBCNV cha đến hạn thanh toán.
Nguồn vốn chiếm dụng chỉ mang tính chất tạm thời, doanh nghiệp chỉ có thể sử
dụng trong thời gian ngắn nhng vì nó có u điểm nổi bật là doanh nghiệp không phải trả
chi phí sử dụng vốn, đòn bẩy tài chính luôn dơng, nên trong thực tế doanh nghiệp nên
triệt để tận dụng nguồn vốn này trong giới hạn cho phép nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn mà vẫn đảm bảo kỷ luật thanh toán.
- Các khoản nợ vay: bao gồm toàn bộ vốn vay ngắn - trung - dài hạn ngân hàng, nợ
trái phiếu và các khoản nợ khác.
Thông thờng, một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn chủ sở hữu và nợ
phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD. Sự kết hợp giữa hai nguồn này
phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động cũng nh quyết định
tài chính của ngời quản lý trên cơ sở điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Làm thế nào để
lựa chọn đợc một cơ cấu tài chính tối u? Đó là câu hỏi luôn làm trăn trở các nhà quản lý
tài chính doanh nghiệp bởi sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc
rất lớn vào sự khôn ngoan hay khờ dại của doanh nghiệp đó khi lựa chọn cơ cấu tài chính.
2.2.2. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn:
2.2.2.1. Nguồn vốn thờng xuyên:
Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong thời
gian dài, bao gồm: Nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn. Nguồn vốn này thờng
đợc sử dụng để đầu t TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thờng xuyên, cần thiết.
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
2.2.2.2. Nguồn vốn tạm thời:
Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp
ứng các nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thờng phát sinh trong hoạt động SXKD
của doanh nghiệp. Cách phân loại này giúp cho ngời quản lý doanh nghiệp xem xét huy
động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, lập kế hoạch tài chính và
hình thành những dự định về tổ chức vốn một trong tơng lai.
2.2.3. Căn cứ vào phạm vi huy động vốn:
2.2.3.1. Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp:
Là nguồn vốn có thể huy động đợc từ bản thân doanh nghiệp bao gồm: tiền khấu
hao TSCĐ, lợi nhuận để lại, các khoản dự phòng, thu từ thanh lý, nhợng bán TSCĐ.
2.2.3.2. Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp:
Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài gồm: vốn vay ngân
hàng và các tổ chức kinh tế khác, vốn liên doanh liên kết, vốn huy động từ phát hành trái
phiếu, nợ ngời cung cấp và các khoản nợ khác.
2.3. Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh:
2.3.1. Vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t bên trong ứng trớc về
tài sản cố định của doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất
- kinh doanh đợc cũng phải có đủ 3 yếu tố: t liệu lao động, đối tợng lao động và sức lao
động.
T liệu lao động: là điều kiện vật chất không thể thiếu đợc trong quá trình hoạt động
sản xuất - kinh doanh, nó góp phần quyết định đến năng suất lao động. T liệu lao động
trong các doanh nghiệp bao gồm những công cụ lao động mà thông qua chúng ngời lao
động sử dụng lao động của mình tác động vào đối tợng lao động để tạo ra sản phẩm (máy
móc thiết bị, công cụ làm việc ) và những phơng tiện làm việc cần thiết cho quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh bình thờng (nh nhà xởng, công trình kiến trúc )
Để thuận tiện cho việc quản lý tài sản ngời ta chia t liệu lao động thành 2 bộ phận:
tài sản cố định và công cụ lao động nhỏ.
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
Tài sản cố định là những t liệu lao động chủ yếu có giá trị đơn vị lớn và thời hạn
sử dụng lâu. Về mặt thời gian sử dụng thì hầu hết các quốc gia đều áp dụng là trên một
năm, về mặt giá trị đơn vị thì tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia vận dụng cho phù hợp trong
từng giai đoạn nhất định.
Ví dụ: ở nớc ta giai đoạn 1990 đến 1996 giá trị đơn vị đợc quy định là 500.000
VNĐ trở lên, từ năm 1997 đến nay đợc điều chỉnh thành 5.000.000 VNĐ trở lên.
Ngoài ra những t liệu lao động nào mà không hội đủ 2 điều kiện nói trên đợc gọi là
công cụ lao động nhỏ và do doanh nghiệp nguồn vốn lu động tài trợ.
Tài sản cố định là một bộ phận của t liệu lao động cho nên đặc điểm vật chất của tài sản
cố định cũng chính là đặc điểm của t liệu lao động. Tài sản cố định tham gia vào nhiều
chu kỳ sản xuất - kinh doanh, bị hao mòn dần nhng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban
đầu và giá trị của nó cũng giảm dần tơng ứng với mức độ hao mòn của tài sản cố định.
Từ những phân tích trên đây có thể thấy: tài sản cố định là những t liệu lao động
chủ yếu, có thời gian sử dụng lâu và có giá trị đơn vị lớn. Đặc điểm chung nhất của
chúng là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và không thay đổi hình thái vật chất ban
đầu. Trong quá trình đó tài sản cố định bị hao mòn dần và giá trị của nó giảm dần tơng
ứng, phần giá trị này đợc chuyển dịch vào giá trị sản phẩm mới mà nó tham gia sản xuất
ra.
Mặc dù tài sản cố định không bị thay đổi hình thái hiện vật trong suốt thời gian sử
dụng, song năng lực sản xuất cũng giảm sút dần do chúng bị hao mòn trong quá trình
tham gia vào hoạt động sản xuất. Hao mòn tài sản cố định đợc phân thành 2 loại: hao
mòn hữu hình và hao mòn vô hình.
+ Hao mòn hữu hình của tài sản cố định: là sự hao mòn về mặt vật chất làm giảm
dần giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định, doanh nghiệp tác động của các yếu tố tự
nhiên gây ra hoặc khi tài sản cố định tham gia vào hoạt động sản xuất thì bị cọ xát, mài
mòn dần. Trong trờng hợp do quá trình sử dụng, mức độ hao mòn của tài sản cố định tỷ
lệ thuận với thời gian và cờng độ sử dụng chúng vào sản xuất - kinh doanh. Mặt khác cho
dù tài sản cố định không sử dụng chúng cũng bị hao mòn do tác động của các yếu tố tự
nhiên: độ ẩm, khí hậu, thời tiết làm cho tài sản cố định bị han rỉ, mục nát dần. Trong tr-
ờng hợp này, mức độ hao mòn của tài sản cố định nhiều hay ít phụ thuộc vào công tác
bảo dỡng, bảo quản tài sản cố định của doanh nghiệp.
Báo cáo tốt nghiệp Nguyễn Lan Anh - 36A15
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét