Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
Việt Nam là 70.000 VND. Trong trường hợp này ấm chén nhập khẩu từ Trung
Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn. Nếu VND mất già và tỷ giá hối đoái thay đổi
thành 2.300 VND = 1 CNY thì lúc này bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán với
giá 75.900 VND và kém lợi thế cạnh tranh hơn so với ấm chén sản xuất tại Việt
Nam.
Tác động của cán cân thương mại đến GDP :
Đối với một nền kinh tế mở, cán cân thương mại có hai tác động quan trọng:
xuất khẩu ròng bổ sung vào tổng cầu (AD) của nền kinh tế; số nhân đầu tư tư
nhân và số nhân chi tiêu chính phủ khác đi do một phần chi tiêu bị "rò rỉ" qua
thương mại quốc tế.
Xuất khẩu ròng và GDP cân bằng
1.2.2.Cán cân thương mại phi hàng hóa:
a. Cán cân dịch vụ:
Bao gồm các khoản thu chi từ các dịch vụ về vận tải, du lịch, bảo hiểm, bưu
chính, viễn thông, ngân hàng, thông tin xây dựng và các hoạt động khác giữa cá
nhân/tổ chức cư trú trong nước và nước ngoài. Cũng giống như xuất nhập khẩu
hàng hoá xuất nhập khẩu dịch vụ làm phát sinh cung cầu ngoại tệ nên nó được
hạch toán vào tài khoản vãng lai, xuất khẩu làm tăng nguồn thu nên được ghi vào
bên “có”, còn nhập khẩu dịch vụ sẻ phát sinh nghiệp vụ chi ngoại tệ nên sẻ được
ghi vào bên “nợ” của tài khoản vãng lai. Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất
nhập khẩu dịch vụ cũng giống như các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập
khẩu hàng hoá.
Nhóm II-NH10-K34 5
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
b. Cán cân thu nhập:
+ Thu nhập người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản
thu nhập khác bằng tiền hiện vật người cư trú trả cho người không cư trú hay
ngược lại. Hay khi thu nhập được chuyển về nước thì sẻ ghi vào bên “có” (tăng
tài khoản vãng lai) và ngược lại sẻ ghi vào bên “nợ” (giảm tài khỏa vãng lai).
+ Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ đầu
tư giấy tờ có giá và các khoản lãi đến hạn phải trả cho người không cư trú. (cụ
thể: thu nhập về đầu tư chủ yếu là khi những nhà đầu tư trong nước khi đầu tư ra
những quốc gia khác và nguồn lợi nhuận sẻ được chuyển về nước do đó sẻ làm
tăng tài khoản vãng lai, và ngược lại, khi mà ta phải chuyển lợi nhuận của những
nhà đầu tư nước ngoài đến các quốc gia của họ.đầu tư ra nước ngoài có ý nghĩ rất
quan trọng đối với Việt Nam:
Thứ nhất, đối với quốc gia:
- Giúp củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của Việt Nam trong khu vực và
trên thế giới.
- Giúp nền kinh tế Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thúc
đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
- Thông qua hoạt động đầu tư ra nước ngoài, Việt Nam có thêm nguồn nguyên
liệu, nhiên liệu…phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước. Ví dụ, đầu tư của
Tập đoàn dầu khí Việt Nam vào hoạt động khai thác dầu mỏ tại nhiều nước trên
thế giới sẽ tạo nguồn cung cấp cho nhà máy lọc dầu Dung Quất khi mà khả năng
khai thác dầu trong nước có xu hướng giảm sút.
- Đầu tư ra nước ngoài tạo tiền đề cho hoạt động kinh tế đối ngoại của VN đa
dạng và phong phú, hoạt động ngoại giao đi vào chiều sâu.
- Đầu tư ra nước ngoài thành công sẽ tác động ngược lại nền kinh tế trong nước
theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinh tế: về thể chế chính sách, về thuế,
về thủ tục hành chính, về hệ thống thông tin đối ngoại, về chính sách điều hành vĩ
mô.
- Đầu tư ra nước ngoài góp phần tạo đội ngũ thương nhân năng động, có kinh
nghiệm kinh doanh quốc tế, góp phần làm tăng năng lực quốc gia.
- Đầu tư ra nước ngoài góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của VN
theo hướng ổn định và có hiệu quả hơn vì chính cơ sở sản xuất và dịch vụ ở nước
ngoài là điểm đến của hàng hóa, thiết bị, bí quyết công nghệ (y khoa, chế biến
thực phẩm…), nhân công của Việt Nam.
Thứ hai, đối với doanh nghiệp:
Nhóm II-NH10-K34 6
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu vào thị trường thế
giới, tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt hơn, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Ví dụ nhiều công ty chế biến mì ăn liền đầu tư vào Nga, Ucraina… đã tạo ra các
sản phẩm mì ăn liền hợp với khẩu vị người châu Âu và sử dụng sản phẩm bột mì
tại chỗ, nhờ đó mà giảm giá thành sản xuất.
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các doanh nghiệp tăng nội lực kinh doanh: tích lũy
kinh nghiệm trên thương trường quốc tế; học hỏi tiếp thu công nghệ và bí quyết
công nghệ; sử dụng đội ngũ quản lý và khoa học kỹ thuật bản xứ…và áp dụng
những thành công ở nước ngoài vào hoạt động kinh doanh của công ty mẹ trong
nước.
- Đầu tư ra nước ngoài tạo ra khả năng cho doanh nghiệp thực hiện ”chuyển giá”
để giảm thiểu mức thuế đóng góp cho toàn bộ hệ thống công ty đóng ở các nước
khác nhau. Nhờ đó mà tối đa hóa lợi nhuận thu được. Hiện nay nhiều công ty VN
mở công ty con của mình tại Singapore để thực hiện mục tiêu ”chuyển giá”, vì
Singapore có môi trường kinh doanh tốt với hệ thống thuế thấp.
- Đầu tư ra nước ngoài giúp các công ty phát triển vốn vô hình của mình: thương
hiệu, công nghệ, bí quyết công nghệ. Ví dụ: thương hiệu cà phê Trung Nguyên,
Phở 24, bệnh viện Châm cứu…
- Đầu tư ra nước ngoài giúp doanh nghiệp có điều kiện phân tán rủi ro kinh
doanh, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thế giới đầy biến động về
kinh tế – chính trị như hiện nay.
1.2.3.Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều:
Gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, quà tặng, quà biếu và các khoản
chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật…cho mục đích tiêu dùng-viện trợ-hổ trợ-
hợp tác… do bên không cư trú chuyển cho bên cư trú và ngược lại. Các khoản
chuyển giao vãng lai một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập giữa bên cư
trú với bên không cư trú, các khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ (cầu nội tệ)
nên được ghi vào bên “có”, các khoản chi làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được
ghi vào bên “nợ”.
Việt Nam rất cần những khoản chuyển giao vãng lai một chiều này vì nó
góp một phần lớn vào công cuộc phát triển quốc gia, tuy nhiên bên cạnh đó cần
phải cân nhắc thật thận trọng vì hầu hết những khoản chuyển giao vãng lai một
chiều này thường có kèm theo điều kiện, mà chủ yếu là nhằm vào các điều
khoản thương mại hay tài nguyên của quốc gia nhận nguồn vốn này.
Chúng ta thấy rằng cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai một
chiều không thể quan sát bằng mắt thường nên chúng được gọi là cán cân vô
hình (invisible) Như vậy, cán cân vãng lai có thể biểu diễn :
Nhóm II-NH10-K34 7
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
Cán cân vãng lai = cán cân hữu hình +cán cân vô hình
Tóm lại, các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trú làm phát
sinh cung ngoại tệ nên dược ghi vào bên có và các khoản thu nhập trả cho người
không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi vào bên nợ. Tất cả các
khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp chung
vào trong tính toán này. Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là
thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, đối với một số
quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng từ các
khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn.
Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất
khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước,
nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này.
I.3.Thặng dư và thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai:
Cán cân vãng lai bao gồm cán cân “Hữu hình” và “Vô hình’, nên nhìn tổng thể
thì nó quan trọng hơn cán cân thương mại.
Công thức xác định:
CA = TB + Se + Ic + Tr = Kl + Ks+ R
+ Cán cân vãng lai thặng dư khi: ( X – M + Se + Ic + Tr ) > 0
Cán cân vãng lai thặng dư (CA > 0) có nghĩa thu từ người không cư trú lớn
hơn so với chi cho người không cư trú. Điều này có nghĩa là giá trị ròng của các
giấy tờ có giá do người không cư phát hành nằm trong tay người cư trú tăng
lên.cung ngoại tề lớn hơn cầu ngoại tệ.
+ Cán cân vãng lai thâm hụt khi: ( X – M + Se + Ic + Tr ) < 0
Cán cân vãng lai thâm hụt ( CA < 0) có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ
người không cư trú là thấp hơn so với chi cho người không cư trú. Điều này có
nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cư trú phát hành nằm
trong tay người cư trú giảm xuống. cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ.
- Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, trạng thái cán cân vãng lai là lý tưởng
để phân tích trạng thái nợ nước ngoài của quốc gia. Lý do có thể được giả thích
Nhóm II-NH10-K34 8
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
như sau: Trạng thái cán cân vãng lai có mối liên hệ trực tiếp với trạng thái tổng nợ
nước ngoài của một quốc gia. Cán cân vãng lai cân bằng nói lên rằng tổng nợ
nước ngoài của quốc gia là không đổi ( quốc gia không là chủ nợ và cũng không
là con nợ ). Cán cân vãng lai thặng dư phản ánh tài sản có ròng của quốc gia đối
với phần thế giới còn lại được tăng lên ( vị thế quốc gia là chủ nợ ). Ngược lại cán
cân vãng lai thâm hụt phản ánh tài sản nợ ròng của quốc gia đối với nước ngoài
tăng lên ( vị thế quốc gia là con nợ).
CA = 0, trong dài hạn
Theo giả thiết cán cân vãng lai cân bằng, nghĩa là:
( X- M + Se + Ic + Tr ) = 0
Vì trong dài hạn hiệu ứng can thiệp của NHTW mang tính trung lập do đó
chúng ta có thể coi dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi là bằng 0, tức: R= 0
- Kl + Ks = 0.có 2 khả năng xảy ra:
+ TH1: Kl < 0 và Ks > 0. nếu luồng vốn ngắn hạn chảy vào càng lớn và
được cân đối bởi luồng vốn dài hạn chảy ra, có thể làm cho năng lực thanh toán
của quốc gia trong tương lai bị đe dọa, dẫn đến áp lực tăng áp suất và giảm giá
nội tệ
+ TH2: Kl > 0 và Ks < 0. nếu luồng vốn dài hạn chảy vào càng lớn và
được cân đối bởi luồng vốn ngắn hạn chảy ra, thì sẽ tạo ra môi trường kinh tế vĩ
mô ổn định hơn để duy trì ổn định tỷ giá, lãi suất va thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế quốc gia.
CA = 0 trong ngắn hạn
Trong ngắn hạn, các khoản đầu tư dài hạn coi như không đổi, nghĩa là Kl=0,
Ks + R = 0 có 2 khả năng xảy ra:
+ TH1: R > 0 và Ks < 0. Dây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy ra
được bù đắp bởi sự giảm sút của dự trữ ngoại hối quốc gia. Trong thực tế tình
huống này có thể xảy ra trong ngắn hạn, khi NHTW nỗ lực cân đối các luồng vốn
ngắn hạn có tính đầu cơ chảy ra nước ngoài bằng cách can thiệp bán dự trữ trên
thị trường noại hối nhằm bảo vệ tỷ giá, tức ngăn ngừa nội tệ giảm giá. Do vậy
Nhóm II-NH10-K34 9
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
cho dù trang thái cán cân vãng lai là cân bằng, nhưng vẫn tồn tại áp lực giảm giá
nội tệ hoặc phải tăng lãi suất nội tệ, nếu NHTW không tiếp tục can thiệp bán
ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
+ TH2: R < 0 và Ks > 0. Đây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy vào
làm tăng ngoại hối dự trữ quốc gia. Trong thực tế, tình huống này có thêr xảy ra,
khi NHTW tăng mức lãi suất của nội tệ để ngăn ngừa các luồng vốn ngắn hạn
chạy ra và thu hút thêm các luồng vốn ngắn hạn chạy vào nhằm bảo vệ cho tỷ giá
không tiếp tục tăng nữa ( tức ngăn không cho nội tệ tiếp tục giảm giá.
Phân tích cán cân vãng lai có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ
mô vì tình trạng của cán cân này tác động trực tiếp đến tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng
kinh tế, lạm phát và cuối cùng tác động đến cán cân tổng thể. Để tác động đến
tình trạng của cán cân vãng lai, cần phải có thêm các giải pháp tổng thể về tài
khoá và tiền tệ hơn là chỉ các giải pháp về chính sách thương mại quốc tế và tác
động vào tâm lý tiêu dùng.
I.4.Những nhân tố tác động đến cán cân tài khoản vãng lai:
Tài khoản vãng lai có nhiều yếu tố, trong đó cán cân thương mại là thành phần
chính, ngoại trừ một số quốc gia phát triển có cán cân “vô hình” chiếm tỷ trọng
lớn, và cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ đo lường chênh lệch giữa giá trị
nhập khẩu và xuất khẩu cho nên coi là một chỉ số thể hiện xu hướng thương mại
quốc tế.
Có thể thấy rằng các nước đang phát triển trên thế giới đều có tài khoản vãng
lai thâm hụt trong khi đó một vài nền kinh tế mới nổi lại có thể đạt được mức
thặng dư. Các nước nghèo thường có cán cân thâm hụt bởi họ phụ thuộc chủ yếu
phụ thuộc vào các khoản viện trợ và vay chính thức.
Như vậy không phải mức độ phát triển của một nước là yếu tố quyết định tình
trạng cán cân vãng lai mà phải do nhiều yếu tố kết hợp lại mà thành, lấy Australia
làm ví dụ, có thể thấy rằng 16 năm qua nước này luôn có tài khoản thâm hụt mặc
dù nền kinh tế luôn tăng trưởng.
Do đó phải xem xét vấn đề kỹ hơn trên nhiều góc độ:
Nhóm II-NH10-K34 10
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
+ Tài khoản vãng lai thặng dư hay thâm hụt thể hiện chủ yếu phụ thuộc vào
chênh lệch giữa giá trị hàng hoá dịch vụ xuất-nhập khẩu do đó không nhất thiết nó
là thông tin tốt hay xấu đối với thị trường bởi một quốc gia có thể dùng hàng nhập
khẩu để sản xuất trong một thời kỳ rồi sau đó sẻ tung ra xuất khẩu.
+ Tài khoản vãng lai còn có thể hiểu là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư
quốc gia (cả của chính phủ và tư nhân), tài khoản vãng lai thâm hụt có thể cho
thấy quốc gia đó đang gia tăng đầu tư cho những dự án có ích cho nền kinh tế: đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cho vay để xây dựng các cơ sở sản xuất phục vụ nhu
cầu trong nước và xuất khẩu…
+ Do một số nước nhập khẩu để sản xuất các hàng hoá xuất khẩu nên cán cân
thanh toán có thể thâm hụt trong hiện tại nhưng trong tương lai có thể sẽ lại thặng
dư.
Việc một quốc gia nên hay không nên duy trì tài khoản vãng lai thâm hụt là
tùy thuộc vào cơ cấu kinh tế, định hướng tăng trưởng và phát triển của quốc gia
đó.
Do vậy nếu một nước duy trì tình trạng thâm hụt bền vững, như trường hợp
Australia, thì điều này không tạo ra tác động xấu. Tuy nhiên nếu quốc gia này bị
khủng hoảng tài chính nó có thể sẽ phải chịu ảnh hưởng xấu từ tài khoản vãng lai
thâm hụt khi khu vực tài chính cứ ồ ạt rút vốn như từng xảy ra tại Mexico 1995 và
Thái Lan 1997.
Tóm lại, chúng ta cần quan tâm đến tất cả các chỉ số trong nền kinh tế và đánh
giá tình hình trước khi đánh giá ảnh hưởng của tài khoản vãng lai, do đôi lúc số
liệu này có thể đem đến cái nhìn sai lệch về tình hình kinh tế của một quốc gia.
Vì cán cân tài khoản vãng lai có sứ ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của một
quốc gia, việc xác nhận và điều phối các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân tài khoản
vãng lai rất quan trọng nhằm góp phần giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát
triển bền vững. Các yếu tố có sự ảnh hưởng lớn đến cán cân vãng lai là:
∗ Lạm phát
∗ Thu nhập quốc dân
∗ Tỷ giá hối đoái
∗ Các chính sách của chính phủ
I.4.1.Ảnh hưởng của lạm phát :
Nhóm II-NH10-K34 11
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
Nếu một quốc gia có tỷ lệ lạm phát tăng so với các quốc gia khác có mối quan
hệ mậu dịch, thì tài khoản vãng lai của quốc gia này sẽ có xu hướng giảm nếu các
yếu tố khác không đổi. Bởi vì người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước
hầu như sẽ mua hàng từ nước ngoài nhiều hơn (do lạm phát trong nước cao, nên
giá tiêu dùng trong nước tăng), trong khi xuất khẩu sang các nước khác sẽ giảm
(vì giá xuất khầu sẻ cao hơn).
Nếu tình trạng lạm phát kéo dài thì sẻ rất nguy hiểm cho nền kinh tế, vì không
chỉ ảnh hưởng tới tài khoản vãng lai mà cả nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng theo
chiều hướng xấu, đặc biệt là lạm phát đi đôi với việc mất giá đồng bản tệ .
I.4.2 .Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân :
Nếu mức thu nhập của một quốc gia (thu nhập quốc dân), tài khoản vãng lai
của quốc gia đó sẽ giảm nếu các yếu tố khác không đổi. Do mức thu nhập thực tế
tăng, và xã hội có xu hướng tiêu dùng hàng ngoại nhiều hơn, để đáp ứng nhu cấu
đó tất yếu phải gia tăng nhập khẩu, do đó cán cân vãng lai có xu hướng giảm. Vì
GDP là một yếu tố có tầm vĩ mô cho nên một thay đổi nhỏ cũng có sức ảnh hưởng
lớn tới các yếu tố khác GDP, GNP, CPI… và tỉ lệ gia tăng trong GDP hầu như sẽ
phản ánh một mức cầu gia tăng đối với hàng hóa nước ngoài.
I.4.3.Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái:
Là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến giá tương
đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc tế. Khi tỷ
giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ
trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt hơn đối với người nước
ngoài (trong trường hợp nếu phải nhập khẩu nguyên-nhiên vật liệu để sản xuất
hàng thì giá sẻ còn cao hơn nếu chỉ dùng nguyên-nhiên vật liệu trong nước). Vì
thế việc tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho
nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm hay cán cán cân thương mại có
xu hướng giảm. Ngược lại, khi tỷ giá đồng nội tệ giảm xuống, xuất khẩu sẽ có lợi
thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu ròng tăng lên, do đó cán cân
thương mại có xu hướng tăng.
Ví dụ, một bộ ấm chén sứ Hải Dương có giá 70.000 VND và một bộ ấm chén
tương đương của Trung Quốc có giá 33 CNY (Nhân dân tệ). Với tỷ giá hối đoái
2.000 VND = 1 CNY thì bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán ở mức giá 66.000
VND trong khi bộ ấm chén tương đương của Việt Nam là 70.000 VND. Trong
trường hợp này ấm chén nhập khẩu từ Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh hơn. Nếu
VND mất giá và tỷ giá hối đoái thay đổi thành 2.300 VND = 1 CNY thì lúc này
Nhóm II-NH10-K34 12
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
bộ ấm chén Trung Quốc sẽ được bán với giá 75.900 VND và kém lợi thế cạnh
tranh hơn so với ấm chén sản xuất tại Việt Nam.
I.4.4.Tình hình chính trị, chính sách đối ngoại của quốc gia:
Sự ổn định chính trị của 1 đất nước là cơ sở vững chắc để phát triển kinh tế.
Đây cũng là điều kiện tiên quyết để các quốc gia khác tăng cường quan hệ kinh tế.
Bên cạnh đó chính sách đối ngoại trở thành điều kiện đủ cho mọi quan hệ kinh tế
trực tiếp. Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, chính sách đối ngoại phù hợp sẽ là
yếu tố mở đường cho mọi yếu tố khác phát triển. Tuy nhiên quốc gia đó cần phải
hội đủ những yếu tố khác để những nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư có hiệu
quả theo quy tắc: “hai bên cùng có lợi”, những yếu tố như: nhân sự, tài chính,
thông tin…
Ví dụ : Một số nhân tố ảnh hưởng đến tài khoảng vãng lai trên thế giới
hiện nay
Mỹ tấn công Trung Quốc bằng lạm phát, Trung Quốc đẩy giảm phát sang Mỹ.
Brazil thiệt hại nặng nề nhất. Điều đó làm ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai của
các nước đó.
Giữa thời thiếu hụt sức cầu, các quốc gia sở hữu đồng tiền dự trữ thực hiện
chính sách tiền tệ mở rộng. Nước nào không có đồng tiền dự trữ phản ứng bằng
cách can thiệp vào tỷ giá.
Những nước không có đồng tiền dự trữ nhưng không thích can thiệp tỷ giá như
Brazil thì đồng tiền nước đó tăng giá mạnh. Họ lo sợ hậu quả của nó.
Nhóm II-NH10-K34 13
Thực trạng cán cân tài khoản vãng lai Việt Nam và bài học từ Trung Quốc
Đây không phải lần đầu những cuộc xung đột về tỷ giá diễn ra. Tháng
09/1985, chính phủ các nước Pháp, Tây Đức, Nhật Bản, Mỹ và Anh họp tại
Khách sạn Plaza, New York và đồng thuận phá giá đồng USD. Trước đó vào
tháng 08/1971, Tổng thống Mỹ Richard Nixon thi hành “liệu pháp sốc Nixon” áp
thêm 10% thuế đối với hàng nhập khẩu và chấm dứt việc đổi USD ra vàng. Cả hai
sự kiện ấy đều phản ánh mong muốn hạ giá đồng USD của người Mỹ. Ngày nay
họ cũng muốn điều tương tự. Nhưng tình hình đã khác. Trung tâm của sự chú ý
không còn là một đồng minh dễ bảo như Nhật Bản mà là siêu cường tiếp theo của
thế giới: Trung Quốc.
Hiện nay, do hậu quả của khủng hoảng, các nước phát triển phải chịu thiếu hụt
sức cầu trong thời gian dài. Quý II này chưa nền kinh tế nào trong số 6 nước Mỹ,
Nhật, Đức, Pháp, Anh và Italy phục hồi được GDP trở về mức của quý I/2008.
Các nền kinh tế trên đang hoạt động dưới mức GDP tiềm năng 10%. Một chỉ báo
của việc dư cung là lạm phát lõi giảm xuống gần 1% ở Mỹ và khu vực sử dụng
đồng tiền chung Châu Âu (eurozone). Những nước này trông chờ vào tăng trưởng
nhờ xuất khẩu.Điều này đúng cả với những nước thâm hụt thương mại (như Mỹ)
và các nước có thặng dư (như Đức và Nhật). Tuy vậy, nói chung chuyện đó chỉ có
thể diễn ra nếu các nền kinh tế mới nổi chuyển sang thâm hụt tài khoản vãng lai.
Khu vực tư nhân đang tự động điều chỉnh để hướng tới điều này. Theo dự báo
từ tháng 4 của Viện Tài chính quốc tế tại Washingto cho thấy dòng vốn ròng chảy
vào các nước mới nổi của khu vực tư nhân năm nay sẽ là 746 tỷ USD.
Con số này được bù đắp một phần nhờ dòng vốn ròng 566 tỷ USD của khu
vực tư nhân chảy ra khỏi các nước này. Tuy nhiên, với thặng dư tài khoản vãng lai
320 tỷ USD và dòng vốn vào của khu vực chính thức, cán cân thanh toán của các
nước mới nổi sẽ thặng dư 535 tỷ USD nếu không có can thiệp từ phía nhà
nước.Nhưng nếu không có can thiệp từ phía nhà nước, điều này không thể xảy ra:
tài khoản vãng lai phải cân đối với dòng vốn ròng. Sự điều chỉnh diễn ra thông
qua việc tỷ giá tăng. Cuối cùng, tài khoản vãng lai của các nước mới nổi chịu
thâm hụt và được tài trợ bởi dòng vốn vào ròng của khu vực tư nhân các nước thu
nhập cao.
Nhóm II-NH10-K34 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét