Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

v2302

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Thứ nhất: Trong cơ chế cũ, nhà nớc mở rộng quá đáng kinh tế quốc
doanh, gần nh đồng nhất kinh tế quốc doanh với chủ nghĩa xã hội. Tuyệt đối hoá
kinh tế quốc doanh và kinh tế thị trờng đến mức phủ nhận các thành phần kinh tế
khác. Đến Đại hội Đảng VI, mặc dù đã có sự đổi mới nhận thức nhng vẫn còn nhấn
mạnh kinh tế quốc doanh phải chiếm tỷ trọng trong cả sản xuất và lu thông. Do đó,
cha chú ý đúng mức trong chỉ đạo phát triển các thành phần kinh tế khác.
- Thứ hai: Nhà nớc đóng vai trò trung tâm và gần nh đọc tôn trong linhc
vực đầu t, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nắm độc quyền ngân hàng, ngoại th-
ơng, ngoại hối, bao cấp tín dụng và do đó cha khai thác đợc nguồn lực khác đầu t
cho phát triển.
- Thứ ba: Nhà nớc can thiệp quá sâu vào các hoạt động kinh tế, trực tiếp
điều hành các hoạt động kinh tế, coi cả nớc là một công trờng lớn trong đó các
đơn vị kinh tế cơ sở chỉ là những ngời thừa hành một cách thụ động mệnh lệnh chỉ
huy từ trên xuống.
- Thứ t: Nhà nớc muốn nắm toàn bộ khâu phân phối lu thông, dùng sức
mạnh tổng hợp của chuyên chính vô sản, kết hợp chặt chẽ ba biện pháp: Kinh tế,
hành chính, giáo dục để nắm nguồn hàng vào tay mình.
Với cơ cấu kinh tế công hữu và phi hàng hoá, cơ chế quản lý tập trung cao
độ cũng bộc lộ nhiều khuyết tật, về cơ bản là triệt tiêu động lực phát triển, nền kinh
tế kém phát triển, rơi vào tình trạng khan hiếm, dẫn tới khủng hoảng kinh tế xã
hội, còn nhà nớc thì bao biện làm thay thị trờng và xã hội dẫn tới cồng kềnh, quan
liêu, quản lý kém hiệu lực, hiệu quả. Thực trạng đó buộc chúng ta phải cải tổ, cải
cách, đổi mới quản lý nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, đồng thời tiến hành cải cách nhà nớc cho phù hợp và có khả năng quản lý
kinh tế thị trờng.
Trong thời kỳ đổi mới, nhà nớc vừa phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản song
song và đan xen lẫn nhau, đó là vừa đổi mới, cải cách hệ thống quản lý bao gồm cải
tạo cơ cấu kinh tế cũ, xây dựng cơ cấu kinh tế mới, cải cách nền hành chính nhà n-
ớc, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc phù hợp với cơ chế mới; vừa phải
điều hành nền kinh tế trong quá trình đổi mới, phải xử lý nhiều vấn đề mới nảy sinh
hết sức phức tạp và khó khăn. Mặt khác, nhiệm vụ quản lý nhà nớc về kinh tế hết
sức đa dạng, linh hoạt, luôn biến động do thực tế cuộc sống đặt ra. Nhng nhà nớc
của ta đã đạt đợc những thành tựu đáng kể, đó là:
Nhà nớc ta đã phát huy vai trò trách nhiệm trong quản lý kinh tế xã hội,
tiến hành công cuộc đổi mới quản lý kinh tế nhng vẫn giữ vững ổn định chính trị,
xã hội, đảm bảo tăng trởng kinh tế khá, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đa
nớc ta cơ bản ra khỏi khủng hoảng; đã mạnh dạn đổi mới cơ chế, chính sách quản
lý kinh tế và điều hành, xử lý các tình huống hết sức phức tạp có hiệu quả tốt. Nhà
nớc cũng đã mạnh dạn đổi mới hệ thống kinh tế nhà nớc, đổi mới hệ thống tổ chức
bộ máy nhà nớc, từng bớc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà
Trang 5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nớc về kinh tế với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh; đổi mới và xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nớc phù hợp với cơ chế mới Do đó, đã góp
phần to lớn vào phát triển kinh tế xã hội và thành công của công cuộc đổi mới.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc trong quá trình đổi mới, quản lý
nhà nớc về kinh tế còn có nhiều mặt hạn chế và yếu kém:
- Quản lý nhà nớc cha ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới, cha phát huy
đầy đủ mặt tích cực và hạn chế đợc tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị trờng. Đất
đai, vốn và tài sản nhà nớc cha đợc quản lý chặt chẽ, sử dụng lãng phí và thất thoát
nghiêm trọng, cha tăng cờng đợc vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc.
- Hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách cha đồng bộ, cha nhất quán, thực
hiện cha nghiêm.
- Quản lý lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tiền tệ, giá cả, kế hoạch, thơng
mại, phân phối thu nhập, đất đai, vốn và tài sản nhà nớc cha tốt, cha hiệu quả và
chậm đổi mới.
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nớc còn nặng nề, quan hệ phân công và hiệp
tác cha rõ ràng và còn nhiều vớng mắc, tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu,
phân tán cục bộ còn nghiêm trọng; cán bộ và công chức nhà nớc còn nhiều hạn chế
cả về trình độ, năng lực và phẩm chất, cha tơng xứng với yêu cầu của nhiệm vụ.
Thực trạng trên đòi hỏi nhà nớc phải tiếp tục đổi mới quản lý, tăng cờng vai
trò quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Đó là một tất yếu khách quan.
2.2. Cơ chế thị trờng - đặc trng và những u, khuyết điểm của nó
2.2.1. Khái niệm cơ chế thị trờng:
Cơ chế thị trờng là cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế hàng hoá do sự tác
động của các qui luật kinh tế vốn có của nó; cơ chế đó giải quyết ba vấn đề cơ bản
của tổ chức kinh tế là cái gì, nh thế nào, và cho ai. Cơ chế thị trờng bao gồm các
nhân tố cơ bản là cung, cầu và giá cả thị trờng.
2.2.2. Các đặc trng cơ bản của cơ chế thị trờng:
Trớc hết, thông qua cơ chế thị trờng mà các vấn đề có liên quan đến việc
phân bổ sử dụng các nguồn tài nguyên sản xuất khan hiếm nh lao động, vốn, tài
nguyên thiên nhiên về cơ bản đợc quyết định một cách khách quan thông qua sự
hoạt động của các qui luật kinh tế đặc biệt là qui luật cung cầu. Thông qua qui luật
cung - cầu mà hình thành nên giá cả thị trờng, giá cả thị trờng lên xuống xung
quanh giá trị thị trờng và nó là kết quả thoả thuận giữa ngời mua với ngời bán, nó
tạo lên mức lợi nhuận trên thị trờng mà từ đó có tác động chuyển dịch cơ cấu đầu t
sản xuất vào các lĩnh vực cho lợi nhuận cao
Trang 6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ hai, trong cơ chế thị trờng, tất cả các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể
kinh tế đợc tiền tệ hoá thông qua giá cả thị trờng, làm cho các hoạt động kinh tế
phát triển nhanh và dễ dàng hơn.
Thứ ba, trong cơ chế thị trờng, động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy
tăng trởng kinh tế và lợi ích kinh tế đợc biểu hiện tập trung ở mức lợi nhuận.
Thứ t, cơ chế thị trờng tạo cho các chủ thể kinh tế tự do lựa chọn phơng án sản
xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Dựa trên các qui luật kinh tế và tính tự chủ, các mối
quan hệ kinh tế, các nhà sản xuất, kinh doanh lựa chọn cho mình phơng án sản xuất
và kinh doanh phù hợp nhất để thu đợc lợi nhuận tối đa, và ngời tiêu dùng đợc tự do
lựa chọn tiêu dùng vì các quan hệ kinh tế đã đợc tiền tệ hoá.
Thứ năm, thông qua sự hoạt động của các qui luật kinh tế, đặc biệt là sự linh
hoạt của hệ thống giá cả, nền kinh tế thị trờng luôn duy trì đợc thế cân bằng giữa
mức cung và cầu của tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ, ít gây ra sự khan hiếm và
thiếu thốn hàng hoá.
Thứ sáu, cạnh tranh là môi trờng và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc
đẩy tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả của sản suất. Trong nền kinh tế thị trờng,
cạnh tranh diễn ra một cách phổ biến trong cả lĩnh vực sản xuất và trong cả lĩnh vực lu
thông, hình thức và những biện pháp của cạnh tranh có thể rất phong phú nhng động
lực và mục đích cuối cùng cuả cạnh tranh chính là lợi nhuận.
Thứ bảy, cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, mối quan hệ giữa mục
tiêu tăng cờng tự do cá nhân và mục tiêu và công bằng xã hội, giữa đẩy nhanh tốc
độ tăng trởng kinh tế và nâng cao chất lợng cuộc sống cũng có sự phát triển tơng
ứng.
Thứ tám, cơ chế thị trờng đặt ngời tiêu dùng vào vị trí hàng đầu. Nhờ sự phát
triển sức sản xuất mới và các nhu cầu mới, cơ chế thị trờng có xu hớng thoả mãn
nhu cầu biến đổi không ngừng của các nhóm dân c sao cho phù hợp với lối sống
của họ, thay cho nguyên tắc sản xuất, cung ứng hàng loạt, bất chấp nhu cầu.
Thứ chín, nhà doanh nghiệp là nhân vật trung tâm trong hoạt động thị trờng,
là nhân tố sống động của cơ chế thị trờng. Nhà nớc không đứng ngoài cơ chế thị tr-
ờng. Không có nhà doanh nghiệp thì không có cơ chế thị trờng.
2.2.3. Ưu điểm và khuyết tật của cơ chế thị trờng:
Thực tế khó đánh giá đầy đủ những u điểm và khuyết tật của cơ chế thị tr-
ờng. Tuy nhiên, có thể nêu lên những u điểm của cơ chế thị trờng nh sau:
- Cơ chế thị trờng kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều
kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Do đó làm cho nền kinh tế phát triển
năng động, huy động đợc nguồn lực của xã hội vào phát triển kinh tế.
Trang 7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Cạnh tranh buộc những ngời sản xuất phải giảm hao phí lao động cá biệt
đến mức thấp nhất có thể đợc bằng cách áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào
sản xuất, nhờ đó thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động,
nâng cao chất lợng và số lợng hàng hoá.
- Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự thích ứng tự phát giữa khối l-
ợng và cơ cấu của sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó có thể
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàng vạn loại sản
phẩm khác nhau. Những nhiệm vụ này nếu Nhà nớc làm sẽ phải thực hiện một khối
lợng công việc khổng lồ, có khi không thực hiện đợc và đòi hỏi chi phí cao trong
việc đa ra các quyết định.
- Cơ chế thị trờng mềm dẻo hơn Nhà nớc và có khả năng thích nghi cao
hơn khi những điều kiện kinh tế thay đổi, làm thích ứng kịp thời giữa sản xuất với
nhu cầu xã hội.
Nhờ vậy cơ chế thị trờng giải quyết đợc những vấn đề cơ bản của tổ chức
kinh tế: Cần sản xuất loại hàng hoá gì với số lợng bao nhiêu do ngời tiêu dùng
quyết định; Lợi nhuận lôi cuốn các doanh nghiệp vào sản xuất mặt hàng có mức lợi
cao, đáp ứng nhu cầu xã hội. Sản xuất bằng phơng pháp nào, công nghệ gì đợc
quyết định bởi cạnh tranh để cho tối đa hoá đợc lợi nhuận và tối thiểu hoá chi phí.
Hệ thống giá cả là tín hiệu cho một phơng pháp công nghệ thích hợp. Sản xuất hàng
hoá cho ai (phân phối) đợc quyết định bởi quan hệ cung cầu trên thị trờng các
nhân tố sản xuất.
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội chứng minh rằng cơ chế thị trờng là cơ
chế điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao. Song cơ chế thị trờng
không phải là hiện thân của sự hoàn hảo, mà nó vốn có những khuyết tật, đặc biệt về
mặt xã hội. Có thể chỉ ra một số khuyết tật sau đây của cơ chế thị trờng:
- Hiệu lực của cơ chế thị trờng phụ thuộc vào mức độ không hoàn hảo của
cạnh tranh, cạnh tranh càng không hoàn hảo thì hiệu lực của cơ chế thị trờng càng
giảm. Cơ chế thị trờng chỉ thể hiện đầy đủ khi có sự kiểm soát của cạnh tranh hoàn
hảo. Một nền kinh tế đợc thúc đẩy bởi cạnh trnah hoàn hảo sẽ dẫn tới phấn bố và sử
dụng hiệu quả nhất đầu vào của sản xuất và đầu ra, tức là nền kinh tế đứng trên đ-
ờng giới hạn khả năng sản xuất.
- Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì vậy họ có
thể lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trờng sống của con ngời mà xã
hội phải gánh chịu, do đó hiệu quả kinh tế xã hội không đợc đảm bảo.
- Có những mục tiêu xã hội mà dù cơ chế thị trờng có hoạt động tốt cũng
không thể đạt đợc. Sự tác động của cơ chế thị trờng đa đến sự phân hoá giàu nghèo,
tác động xấu đến đạo đức và tình ngời
Trang 8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Một nền kinh tế do cơ chế thị trờng điều tiết khó tránh khỏi những thăng trầm,
khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ. Ngời ta nhận thấy rằng một nền kinh tế hiện đại
đứng trớc một vấn đề nan giải của kinh tế vĩ mô không một nớc nào trong thời gian dài
lại có đợc lạm phát thất nghiệp thấp và công ăn việc làm đầy đủ.
Nh vậy, cơ chế thị trờng với một loạt những khuyết tật trên đòi hỏi phải có sự
can thiệp của nhà nớc với vai trò kinh tế của mình
2.3.4 Vai trò quản lý và điều tiết kinh tế của Nhà nớc.
a. Vai trò quản lý kinh tế của Nhà n ớc:
Kinh tế thị trờng tạo ra động lực mạnh mẽ, làm cho các hoạt động kinh tế trở
nên sôi động, tận dụng và tiết kiệm nguồn lực, hớng tới việc đáp ứng nhanh nhạy
những nhu cầu ngày càng tăng của xã hội với năng suất, chất lợng và hiệu quả,
song cần phải có sự can thiệp của nhà nớc.
Nhà nớc thực hiện vai trò quản lý kinh tế thị trờng thông qua các công cụ kế
hoạch, chính sách kinh tế, pháp luật, các biện pháp kinh tế và bằng nguồn lực của
kinh tế nhà nớc.
- Về kế hoạch hoá: xác định phát triển kinh tế tổng thể; kế hoạch dự đoán
về kinh tế vĩ mô, lựa chọn phát triển ngành, vùng, hạ tầng cơ sở nh giao thông,
điện, không có tính áp đặt đối với các doanh nghiệp mà tạo cho họ ph ơng hớng
phát triển kinh tế phù hợp với yêu cầu của đất nớc.
- Về các chính sách kinh tế:
Chính sách giá cả, tỷ giá trong nền kinh tế thị trờng: trên cơ sở phân biệt
rõ giá cả trong trờng hợp cạnh tranh và trong trờng hợp độc quyền; phải biết chi phí
thực và giá thực của hàng hoá, phản ánh khá đúng quan hệ cung cầu, giá trị sức
mua đồng tiền, và tình hình thực tế của thị trờng trong nớc cũng nh của nớc ngoài
Quản lý ngoại thơng: hạn chế nhập khẩu, bảo hộ khuyến khích sản xuất
trong nớc và khuyến khích nhập khẩu.
Chính sách tài chính tiền tệ: đặc biệt là ngân sách, tín dụng, lãi suất và
thuế suất là chính sách trợ cấp tài chính và miễn giảm thuế, tạo điều kiện cho hoạt
động bình thờng giữa các thành phần kinh tế.
Chính sách phát triển kinh doanh
Chính sách chi tiêu ngân sách: tránh lãng phí và nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cờng pháp chế.
- Tăng cờng dự trữ nhà nớc và khi cần thiết nhà nớc sử dụng nguồn lực
kinh tế nhà nớc của mình để can thiệp vào nền kinh tế.
b. Vai trò điều tiết kinh tế của Nhà n ớc:
Trang 9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sự điều tiết của Nhà nớc đối với nền kinh tế thị trờng phải dựa trên cơ sở vận
dụng các quy luật kinh tế khách quan. Sự điều tiết của Nhà nớc thể hiện ở các mặt
sau đây:
- Nhà nớc tạo môi trờng pháp lý thuận lợi: Trong kinh tế thị trờng các chủ
thể thị trờng đợc tự chủ, nhng quyền tự chủ đó phải đợc thể chế hoá thành pháp luật
và mọi hành vi đều tuân theo pháp luật. Hệ thống pháp luật đồng bộ bao trùm mọi
hoạt động kinh tế, nhng có thể quy về những lĩnh vực sau:
Luật xác định các chủ thể pháp lý
Luật về các quyền: quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng,
quyền thừa kế, quyền chuyển nhợng
Luật hợp đồng
Luật về sự đảm bảo của Nhà nớc đối với các điều kiện chung của nền
kinh tế: bảo hộ lao động, bảo vệ môi trờng, chống, hạn chế cạnh tranh, chăm sóc
những ngời không có khả năng lao động, bảo hiểm xã hội
Các luật về tổ chức Nhà nớc, ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực Nhà
nớc, loại trừ việc cấu kết giữa quyền lực Nhà nớc với quyền lực kinh tế.
- Nhà nớc tạo môi trờng kinh tế xã hội ổn định bằng cách xây dựng kết cấu
hạ tầng sản xuất (quan trọng nhất là giao thông vận tải, thông tin liên lạc) và kết
cấu hạ tầng xã hội (quan trọng nhất là giáo dục đào tạo), cùng với các dịch vụ công
cộng khác nh đảm bảo an ninh, dịch vụ tín dụng
- Nhà nớc soạn thảo kế hoạch, quy hoạch, các chơng trình phát triển kinh
tế xã hội và ban hành những chính sách để hớng các chủ thể thị trờng thực hiện
các kế hoạch, quy hoạch và chơng trình ấy bằng cách sử dụng các đòn bẩy kinh tế.
Thí dụ: u đãi về thuế, về lãi suất cho vay những ai đầu t vào những ngành, những
vùng mà Nhà nớc cần u tiên phát triển
- Nhà nớc sử dụng những biện pháp hành chính khi cần thiết, chẳng hạn
cấm xuất khẩu gỗ để bảo vệ rừng, phạt những hành vi làm ô nhiễm môi trờng
3. Đặc trng của nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam
3.1. Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng ở nớc ta.
Trong lịch sử nhân loại đã diễn ra những mô hình kinh tế khác nhau: kinh tế
tập trung và kinh tế thị trờng. Theo thời gian, chúng ta đã có một cách nhìn đầy đủ
và một sự lựa chọn kinh tế. Mô hình kinh tế tập trung có những u điểm đảm bảo
tính tập trung thống nhất, thích hợp với điều kiện chiến tranh, nhng khi chuyển
sang xây dựng và phát triển kinh tế thì mô hình kinh tế tập trung tỏ ra không phù
hợp.
Trang 10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sau giải phóng miền Nam, chúng ta vẫn duy trì cơ chế tập trung, sản xuất
kém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, thời điểm gay cấn nhất là
khi không còn viện trợ nớc ngoài. Nhng trongkhó khăn đã xuất hiện những hiện t-
ợng khác lạ, những tìm tòi thử nghiệm từ phong trào quần chúng, từ đơn vị kinh tế
cơ sở có sức thuyết phục nh khoán trong nông nghiệp, xé rào tự cân đối, tự trang
trải trong công nghiệp, giá cả - lĩnh vực nhạy cảm và cốt lõi của cơ chế cũ, đã có
những cuộc thử nghiệm (điều chỉnh giá năm 1981, tổng điều chỉnh giá - lơng
tiền năm 1985, thử nghiệm xoá bỏ phân phối theo định lợng ở một số tỉnh phía
Nam )
Trớc những đòi hỏi bức bách của cuộc sống và những thử nghiệm có sức
thuyết phục, Đảng ta đã nhạy cảm tổng kết thành cơ chế chính sách tạo đà cho
công cuộc đổi mới. Nghị quyết 6 (Khoá VI) 1979: cho sản xuất bung ra, cho
tự do lu thông, chỉ thị khoán 100 của Ban bí th Trung ơng đến nhóm và ngời lao
động (1981), khoán 10 (khoán hộ 1988) của Bộ Chính trị, quyết định 25, 26 CP
(1985 1986), Nh ng tất cả mới là những thử nghiệm tìm tòi mang giải pháp
tình thế, cha có sự thay đổi căn bản về quan điểm.
Đại hội lần thứ VI của Đảng sau khi phê phán cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp đã nhất quán chuyển sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng kinh tế
đối ngoại. Về cơ chế quản lý đó là cơ chế kế hoạch hoá theo phơng thức hạch toán
kinh doanh, tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tổng kết hai năm thực hiện Đại hội Đảng VI, sản xuất phát triển, nhất là
nông nghiệp, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế đối ngoại, càng khẳng định nềm
tin để đẩy tới một bớc về cơ chế. Hội nghị Trung ơng 6 (khoá VI) bắt đầu sử dụng
cụm từ cơ chế thị trờng. Đại hội lần thứ VII của Đảng nhất quán chuyển sang cơ
chế thị trờng với ba quan điểm kinh tế cơ bản: chấp nhận thị trờng một cách cơ bản,
tổng thể lâu dài; một thị trờng thống nhất thông suốt hoà nhập thị trờng thế giới, thị
trờng là đối tợng quản lý của Nhà nớc và cơ chế vận hành nền kinh tế nớc ta là cơ
chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Đại hội
lần thứ VIII của Đảng khẳng định những chuyển đổi theo chiều sâu sớm hình thành
thị trờng đồng bộ, đổi mới kế hoạch hoá, hệ thống pháp luật và các chính sách kinh
tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng trên cơ sở tổng kết toàn
diện những thành công và những tồn tại, những bài học chủ yếu của công cuộc đổi
mới, xây dựng đất nớc đã xác định mục tiêu giai đoạn đến năm 2000 là bớc rất
quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc. Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lợng, tranh thủ thời cơ, vợt qua
thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt mục tiêu đợc đề ra
trong chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội: tăng trởng kinh tế nhanh,
Trang 11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo
đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bớc phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau.
3.2. Đặc trng của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta.
Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa cũng có tính chất chung
của nền kinh tế: nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị tr-
ờng, có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nớc để giảm bớt những thất bại của thị trờng.
Nhng do điều kiện lịch sử xã hội của mỗi nớc biến động khác nhau, đặc biệt là
do chế độ xã hội khác nhau, nền kinh tế thị trờng ở các nớc có những đặc điểm
riêng. Nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có những đặc
trng sau:
- Thứ nhất, là nền kinh tế gồm nhiều thành phần dựa trên cơ sở cơ cấu đa
dạng về hình thức sở hữu; trong đó kinh tế Nhà nớc dựa trên sở hữu nhà nớc giữ vai
trò chủ đạo.
Trong nền kinh tế thị trờng ở nớc ta tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: sở
hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu t nhân. Từ đó hình thành nhiều thành phần
kinh tế, cần đợc khuyến khích phát triển để hình thành nền kinh tế thị trờng rộng
lớn bao gồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, đơn vị kinh tế t doanh, các
hình thức hợp tác liên doanh giữa trong và ngoài nớc. Tuy nhiên, trong cơ cấu nhiều
thành phần đó, kinh tế Nhà nớc phải giữ vai trò chủ đạo. Đó là sự khác biệt có tính
bản chất giữa kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trờng ở
các nớc khác. Bởi lẽ, mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở kinh tế tơng ứng với
nó, kinh tế Nhà nớc, nói đúng là kinh tế dựa trên chế độ công hữu bao gồm kinh tế
nhà nớc và kinh tế hợp tác, tạo cơ sở kinh tế cho chế độ xã hội mới xã hội chủ
nghĩa. Vì vậy cần quan tâm tới vấn đề cơ cấu lại khu vực kinh tế Nhà nớc và đổi
mới cơ bản cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nớc để chúng hoạt động có hiệu quả.
- Thứ hai, trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa thực hiện
nhiều hình thức phân phối thu nhập: phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế, phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực, và phân phối thông qua
các quỹ phúc lợi xã hội, trong đó phân phối theo kết quả lao động giữ vai trò nòng
cốt, đi đôi với chính sách điều tiết thu nhập một cách hợp lý.
Mỗi một chế độ xã hội có một chế độ phân phối tơng ứng với nó. Chế độ
phân phối do quan hệ sản xuất thống trị, trớc hết là quan hệ sở hữu quyết định. Nền
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta gồm nhiều thành phần kinh tế,
dó đó cần thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập. Chỉ có nh vậy mới khai
thác đợc khả năng của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, huy động đợc mọi nguồn
lực của đất nớc vào phát triển kinh tế.
Trang 12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Thứ ba, cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta không phải là kinh tế thị trờng tự do thả nổi
mà là nền kinh tế có định hớng mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển
kinh tế thị trờng dới sự quản lý của Nhà nớc đợc xem là phơng thức, con đờng thực
hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội: dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Tuy vậy cũng cần nhấn mạnh rằng sự can thiệp của Nhà nớc vào
kinh tế phải tơng hợp với thị trờng. Vì vậy, Nhà nớc sử dụng các biện pháp kinh tế
là chính để điều tiết nền kinh tế.
- Thứ t, nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là nền kinh tế mở, hội nhập với kinh
tế thế giới và khu vực, thị trờng trong nớc gắn với thị trờng thế giới, nhng vẫn giữ đ-
ợc độc lập chủ quyền và bảo vệ đợc lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ đối
ngoại
Đây cũng là xu hớng chung của các nền kinh tế thế giới hiện nay. Có mở
cửa, hội nhập vào kinh tế thế giới và khu vực mới thu hút đợc vốn, kỹ thuật, công
nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến để khai thác tiềm năng và thế mạnh
của nớc ta. Thực hiện mở cửa kinh tế theo hớng đa phơng hoá và đa dạng hoá các
hình thức kinh tế đối ngoại, hớng mạnh về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu những sản
phẩm mà trong nớc sản xuất có hiệu quả.
4. Mục tiêu và các chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nớc đối với nền kinh tế
4.1. Các mục tiêu kinh tế vĩ mô
- Toàn dụng nguồn nhân lực:
Lực lợng lao động có kỹ năng và trình độ nhất định của mọi quốc gia là một
trong số nguồn lực quan trọng của sự tăng trởng kinh tế và phát triển. Nếu tỷ lệ thất
nghiệp quá cao sẽ trở thành gánh nặng xã hội. Đợc coi là toàn dụng nhân lực khi tỷ
lệ thất nghiệp ở mức khoảng 2 3%. Vì vậy, nâng cao trình độ, kỹ năng lao động
và cung cấp các cơ hội việc làm cho những ngời có khả năng, có nhu cầu làm việc
là một nhân tố làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập của ngời lao động và tăng
nguồn thu cho ngân sách nhà nớc.
- Kiềm chế và ổn định lạm phát ở mức chấp nhận đợc:
Lạm phát đợc coi nh căn bệnh kinh niên mà các quốc gia phải đối đầu. Quy
mô lạm phát quá cao hay quá thấp hoặc giảm phát đều ảnh hởng mạnh tới sản xuất,
tiêu dùng, tới sự tăng trởng kinh tế và tới quy mô của ngân sách nhà nớc. Tuy
nhiên, khống chế, kiểm soát và ổn định lạm phát ở mức chấp nhận đợc hoặc ở mức
vừa phải đợc coi là một mục tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu.
- Duy trì và ổn định tỷ giá hối đoái ở mức chấp nhận đợc:
Trang 13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Đây đợc coi là một mục tiêu vĩ mô quan trọng vì tỷ giá hối đoái quá cao
hoặc quá thấp đều có tác động mạnh mẽ tới luồng ngoại tệ chảy vào hoặc ra đối với
một quốc gia. Tỷ giá hối đoái còn tác động mạnh tới xuất, nhập khẩu của một quốc
gia, nhất là một nớc đang cần tăng cờng xuất khẩu để tăng thu ngoại tệ đáp ứng nhu
cầu nhập khẩu thiết bị, công nghệ mới cho phát triển kinh tế - xã hội đất nớc.
Cùng với kiểm soát, ổn định đợc lạm phát, duy trì và ổn định tỷ giá hối đoái
thực tế trên thị trờng còn là yếu tố quan trọng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài
(FDI) đối với phát triển kinh tế quốc dân.
- Cân bằng ngân sách nhà nớc:
Nếu thâm thủng ngân sách quá lớn so với GDP sẽ trực tiếp tác động tới tổng
cung, tổng cầu của nền kinh tế, tới tăng trởng, tới dự trữ quốc gia và còn ảnh hởng
cả cán cân thanh toán quốc tế của đất nớc đó. Do vậy, cân bằng ngân sách nh một
trong số mục tiêu kinh tế vĩ mô trọng yếu.
- Cân bằng cán cân thanh toán:
Đây là một trong số mục tiêu kinh tế vĩ mô có tác động mạnh tới sự phát
triển kinh tế quốc dân. Duy trì cân bằng cán cân thanh toán nói chung cũng nh cán
cân thơng mại, cán cân vãng lai đối với một nớc kém và đang phát triển là điều khó
khăn lớn. Thâm hụt là điều khó tránh khỏi, song ổn định ở một tỷ lệ thâm hụt nhất
định là điều cần và có thể cố gắng duy trì.
- Bảo đảm công bằng xã hội:
Bất công bằng gần nh căn bệnh của kinh tế thị trờng và đợc nhiều giới
nghiên cứu cũng nh tầng lớp dân c quan tâm. Do đó các chính phủ cần cố gắng điều
tiết sao cho có sự công bằng và kích thích sản xuất phát triển.
- Tăng trởng kinh tế bền vững:
Đây là một mục tiêu của các mục tiêu kinh tế vĩ mô trên đây. Nó tác động,
đồng thời phụ thuộc nhiều vào các mục tiêu đó. Vấn đề là không phải chỉ tăng tr-
ởng cao mà còn ở chỗ, tăng trởng bền vững và tăng trởng phải đi đôi với tiến bộ xã
hội. Điều đó đòi hỏi sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nớc; sử dụng
hữu hiệu lợi thế so sánh của quốc gia.
- Ngoài ra còn có các mục tiêu vĩ mô nh tiêu dùng và đầu t phát triển; dự
trữ quốc gia tơng đối chắc chắn
4.2. Chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nớc về kinh tế
- Tạo môi trờng và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh, bao gồm các môi trờng chính trị, pháp luật, kinh tế, tâm lý, xã hội, kết cấu
hạ tầng là những điều kiện cần thiết đẻ các giới kinh doanh yên tâm bỏ vốn kinh
doanh và kinh doanh thuận lợi, ổn định, góp phần phát triển có hiệu quả kinh tế đất
nớc.
Trang 14

Xem chi tiết: v2302


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét