Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Hình thành và phát triển năng lực trí tuệ chung cho học sinh THPT thông qua giảng dạy ngôn ngữ lập trình Pascal

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
việc sử dụng máy tính điện tử, công nghệ thông tin như tư duy thuật giải, tư
duy điều khiển , rèn luyện các thao tác tư duy quan trọng như : phân tích,
tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá Từ đó học sinh có thể vận dụng
kiến thức Tin học vào những môn học khác cũng như trong đời sống thực tế
và ngược lại, làm cơ sở cho việc tiếp thu những thành tựu mới trong Tin học,
góp phần hình thành thế giới quan khoa học, phát triển nhân cách học sinh.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Xác định năng lực trí tuệ chung bao gồm những gì, làm rõ đặc điểm từng
loại.
- Điều tra tình hình dạy và học Tin học ở trường THPT hiện nay. Trao đổi,
tìm hiểu kinh nghiệm của giáo viên phổ thông, tiếp cận học sinh.
- Rèn luyện các thao tác tư duy, hình thành và phát triển tư duy logic, khả
năng suy đoán và tưởng tượng cùng các phẩm chất tư duy thông qua xây dựng
mạch tri thức và bài tập của ngôn ngữ lập trình Pascal.
- Đề xuất một số ý kiến về dạy học ngôn ngữ lập trình Pascal trong nhà
trường phổ thông.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT
- Nghiên cứu các tài liệu, bài giảng về phương pháp dạy học Tin học.
- Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học môn Toán, các tài
liệu giáo dục học, tâm lí học
- Nghiên cứu vị trí, khối lượng kiến thức về ngôn ngữ lập trình Pascal
trong chương trình THPT.
- Nghiên cứu các tài liệu về ngôn ngữ lập trình Pascal.
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước, văn kiện của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đưa Tin học vào chương trình THPT
cũng như các vấn đề về yêu cầu chất lượng giáo dục trong thời kỳ đổi
mới.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
6.2. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
- Tìm hiểu qua giáo viên để nắm được tình hình giảng dạy và học tập
Tin học trong nhà trường phổ thông hiện nay.
- Kiểm chứng bước đầu qua đợt thực tập sư phạm: sẽ tiến hành giảng
dạy ở trường THPT nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học, minh hoạ tính
khả thi và tính hiệu quả của giải pháp đề xuất
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương I: Cơ sở lí luận
Chương II: Hình thành và phát triển năng lực trí tuệ chung cho học sinh
THPT thông qua giảng dạy ngôn ngữ lập trình Pascal
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. NHỮNG NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CHUNG LÀ GÌ ?
Năng lực trí tuệ chung bao gồm:
- Năng lực tư duy logic, năng lực sử dụng ngôn ngữ chính xác.
- Khả năng suy đoán và tưởng tượng.
- Các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá,
khái quát hoá.
- Các phẩm chất trí tuệ như: tính linh hoạt, tính độc lập, tính sáng tạo.
1.1. NĂNG LỰC TƯ DUY LOGIC, NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
CHÍNH XÁC.
Trong cuộc sống nói chung, trong lĩnh vực học tập nói riêng, luôn luôn đòi
hỏi con người phải thấu hiểu những cái chưa biết ngày một sâu sắc, đúng đắn
và chính xác hơn. Do đó phải tiến hành tư duy.
Vậy tư duy là gì?
Tư duy là một quá trình được tiến hành trong bộ óc từng người cụ thể,
được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức tích cực
của bản thân mỗi người. Tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính qui luật của sự vật, hiện tượng trong
hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. (Nguyễn Quang Uẩn – Tâm lí
học đại cương – trang 71).
Tư duy không thể tách rời ngôn ngữ, nó phải dùng ngôn ngữ làm phương
tiện cho mình. Nếu không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không
diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và
người khác tiếp nhận. Ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy và nhờ đó
làm khách quan hoá chúng cho người khác và bản thân chủ thể tư duy. Ngược
lại, ngôn ngữ được hình thành và hoàn thiện nhờ tư duy.
Do đặc điểm của khoa học Tin học, môn Tin có tiềm năng quan trọng có
thể khai thác để hình thành và rèn luyện cho sinh tư duy logic.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
Tư duy logic là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được dựa trên sự
sử dụng các khái niệm, các kết cấu logic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn
ngữ. (Chikhômirôp O.K - Tâm lí học tư duy).
1.2. KHẢ NĂNG SUY ĐOÁN VÀ TƯỞNG TƯỢNG
Không phải bất kỳ hoàn cảnh có vấn đề nào, nhiệm vụ nào do thực tiễn đặt
ra cũng có đầy đủ dữ kiện để tìm ra đáp số một cách hợp lí, chặt chẽ và đúng
đắn. Lúc đó, ta phải tiến hành suy đoán và tưởng tượng. Cùng với tư duy, suy
đoán và tưởng tượng cần thiết cho bất kỳ hoạt động nào của con người. Do
đó, tác dụng phát triển tư duy của môn Tin học không phải chỉ hạn chế ở sự
rèn luyện tư duy logic mà còn ở sự phát triển khả năng suy đoán và tưởng
tượng.
1.3. CÁC THAO TÁC TƯ DUY
Môn Tin học là một môn học có tính trừu tượng cao độ, đòi hỏi học sinh
phải thường xuyên thực hiện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so
sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá Vì vậy, cần rèn luyện cho học sinh các
thao tác tư duy này.
1.3.1. PHÂN TÍCH - TỔNG HỢP
- Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia một hê thống thành những
vật, tách một vật thành những bộ phận riêng rẽ.
- Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để liên kết những bộ phận thành một vật,
liên kết nhiều vật thành một hệ thống.
Như vậy, phân tích và tổng hợp là hai thao tác tư duy trái ngược nhau
nhưng nó có quan hệ mật thiết với nhau, chúng là hai mặt của một quá trình
thống nhất. Sự phân tích được tiến hành theo hướng tổng hợp, còn sự tổng
hợp được thực hiện theo kết quả của phân tích. Đây là hai thao tác cơ bản của
quá trình tư duy. Những thao tác tư duy khác có thể coi là những dạng xuất
hiện của phân tích và tổng hợp.
1.3.2. SO SÁNH
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
So sánh là xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không
đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức.
Thao tác này liên quan chặt chẽ với thao tác phân tích và tổng hợp.
1.3.3. TRỪU TƯỢNG HOÁ - KHÁI QUÁT HOÁ
- Trừu tượng hoá là gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ,
quan hệ thứ yếu, không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tư
duy. Nói cách khác, trừu tượng hoá là tách những những đặc điểm bản chất
khỏi những đặc điểm không bản chất. Sự phân biệt bản chất và không bản
chất ở đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, nó phụ thuộc vào mục đích hành
động.
- Khái quát hoá là hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm,
một loại; là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang một tập hợp lớn hơn chứa
tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật những thuộc tính chung, những liên hệ,
quan hệ chung nhất định của các phần tử của tập hợp xuất phát. Những thuộc
tính chung này bao gồm hai loại: những thuộc tính chung giống nhau và
những thuộc tính chung bản chất.
Như vậy, trừu tượng hoá là điều kiện cần của khái quát hoá, chúng có quan
hệ qua lại với nhau như quan hệ giữa phân tích và tổng hợp, nhưng ở mức độ
cao hơn.
1.3.4. NHỮNG PHẨM CHẤT TRÍ TUỆ
Việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất trí tuệ có ý nghĩa to lớn đối
với việc học tập, công tác và cuộc sống của học sinh. Một số phẩm chất trí tuệ
quan trọng như:
- Tính linh hoạt: Tính linh hoạt của tư duy thể hiện ở khả năng chuyển
hướng của quá trình tư duy. Trước hết phải rèn luyện cho học sinh khả năng
đảo ngược quá trình tư duy, lấy đích của một quá trình đã biết làm điểm xuất
phát cho quá trình mới. Việc chuyển hướng tư duy có thể là chuyển từ hướng
này sang hướng khác chứ không nhất thiết phải ngược với hướng ban đầu
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
- Tính độc lập: Tính độc lập của tư duy thể hiện ở khả năng tự mình phát
hiện vấn đề, tự mình xác định phương hướng, tìm ra cách giải quyết, tự mình
kiểm tra và hoàn thiện kết quả đạt được. Tính độc lập liên hệ mật thiết với
tính phê phán của tư duy. Tính chất này thể hiện khả năng đánh giá nghiêm
túc những ý nghĩ và tư tưởng của người khác và của bản thân mình, có tinh
thần hoài nghi khoa học, biết đặt câu hỏi “tại sao?”,”như thế nào?” khi lĩnh
hội kiến thức.
- Tính sáng tạo: Tính linh hoạt, tính độc lập và tính phê phán là những điều
kiện cần thiết của tư duy sáng tạo, là những đặc điểm về những mặt khác
nhau của tư duy sáng tạo. Tính sáng tạo của tư duy thể hiện rõ nét ở khả năng
tạo ra cái mới: phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới, tạo ra kết quả mới.
Nhấn mạnh cái mới không có nghĩa là coi nhẹ cái cũ. Cái mới thường nảy
sinh, bắt nguồn từ cái cũ, nhưng vấn đề là cách nhìn cái cũ như thế nào?

2. TẠI SAO PHẢI HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỀN NĂNG LỰC TRÍ
TUỆ CHUNG CHO HỌC SINH?
Mục tiêu của nền giáo dục nước ta là: ”Hình thành, phát triển các phầm
chất và năng lực của người công dân Việt Nam: tự chủ, năng động, sáng tạo,
có kiến thức văn hoá, khoa học, công nghệ, có kỹ năng nghề nghiệp, có sức
khoẻ, có niềm tự hào dân tộc và ý chí vươn lên; có năng lực tự học và thói
quen học tập suốt đời, có năng lực đi vào thực tiễn kinh tế - xã hội, góp phần
hiệu quả làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa” (Nguyễn Sinh Huy -
Nguyễn Văn Lê - Giáo dục học đại cương - trang127).
Trong các nhiệm vụ của giáo dục thì nhiệm vụ giáo dục trí tuệ là một
nhiệm vụ quan trọng nhằm phát triển các năng lực trí tụê chung của học sinh,
từ đó hình thành thế giới quan khoa học, góp phần phát triển nhân cách học
sinh.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 10
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
Nhà trường có nhiệm vụ giáo dục, thúc đẩy sự phát triển trí tuệ cho học
sinh trong mọi môi trường, trong cuộc sống xã hội đời thường.
Môn Tin hoc cũng giống những môn học khác, căn cứ vào mục đích,
nhiệm vụ chung của nền giáo dục để xác định ra những nhiệm vụ cụ thể của
môn học. Là một môn học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, nó có nhiệm vụ
cung cấp những tri thức, kỹ năng Tin học cơ bản. Trên cơ sở đó, hình thành
và phát triển năng lực trí tuệ chung như tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp, khái
quát hoá, trừu tượng hoá
Giáo dục trí tuệ có vai trò to lớn, là cơ sở để phát triển toàn diện con
người, tạo ra phương tiện để con người tự hoàn thiện không ngừng. Trong nền
kinh tế tri thức, thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, đòi hỏi
có sự thích ứng nhanh của mỗi người. Nhờ có phát triển trí tuệ, con người
ngày càng hoàn thiện được nhân cách của mình, vừa có điều kiện tiếp thu các
giá trị của nhân loại, của dân tộc, vừa có khả năng góp phần sáng tạo ra các
giá trị của xã hội.
“Cuộc sống con người là một quá trình tạo ra giá trị; giáo dục cần phải
hướng con người đi tới mục tiêu đó. Các hoạt động giáo dục phải nhằm thúc
đẩy quá trình tạo giá trị” (Tsunesaburo Makeguchi).
Năng lực hoạt động trí tuệ được thể hiện ở năng lực vận dụng các thao tác
trí tuệ, đặc biệt là các thao tác tư duy. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng ,
giữa quá trình lĩnh hội tri thức và phát triển thí tuệ có sự thống nhất với nhau.
Những tri thức được lĩnh hội là nhờ các thao tác trí tuệ, ngược lại, các thao tác
trí tuệ được hình thành và phát triển trong quá trình lĩnh hội tri thức. Sự phát
triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự tích luỹ vốn tri thức và sự tích luỹ những
thao tác trí tuệ thành thạo, vững chắc.
Vì vậy, cùng với các môn học khác trong nhà trường THPT môn Tin học
phải là một trong nhưng môn học đi đầu trong việc hình thành và phát triển
năng lực trí tuệ chung cho học sinh.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 11
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
CHƯƠNG II: HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRÍ TUỆ
CHUNG CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA GIẢNG DẠY NGÔN
NGỮ LẬP TRÌNH PASCAL.

1. PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRÍ
TUỆ CHUNG CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA GIẢNG DẠY NGÔN
NGỮ LẬP TRÌNH PASCAL
Vào đầu năm 1971, bản mô tả ngôn ngữ mới của Đại học công nghệ Liên
bang Thụy Sĩ được công bố trong số đầu tiên của tạp chí Acta Informatica.
Sự ra đời của Pascal có thể được tính từ thời điểm này.
Tác giả của nó, Giáo sư Niclaus Wirth đã chứng minh hùng hồn cho thế
giới rằng chìa khoá tới các bí mật của máy tính chính là ở sự kết hợp hài hoà
giữa Toán học, Công nghệ và lập trình.
Pascal là một loại ngôn ngữ lập trình bậc cao ,nó có nhiều ưu điểm như:
ngữ pháp, ngữ nghĩa đơn giản rõ ràng; cấu trúc chương trình chặt chẽ, dễ
hiểu; chương trình dễ sửa, cải tiến. Trong chương trình Tin học THPT Pascal
trọng điểm ở chương trình lớp 11.
Trước đây học sinh mới chỉ học các thao tác đơn giản như khởi động máy,
đóng máy. Làm việc với các câu lệnh trong hệ điều hành MS-DOS Song,
giờ đây các em bắt đầu làm quen với các thuật toán, với những câu lệnh có
cấu trúc, chương trình được viết trên một ngôn ngữ cụ thể. Vì vậy, độ phức
tạp và khó khăn sẽ tăng lên. Có nghĩa là tư duy trực quan phải nhường vị trí
quan trọng cho tư duy logic, và các thao tác gõ tay đơn giản trên bàn phím
được nối tiếp bởi các thao tác phân tích, tổng hợp
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 12
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
Mặt khác, mặc dù tư duy, trí tuệ của học sinh đã được rèn luyện và phát
triển qua các môn học khác nhưng đến khi cần vận dụng trong các bài toán
Tin học lại gặp phải những bỡ ngỡ. Một phần vì cách thức học và suy nghĩ
của học sinh còn nhiều máy móc, thiếu linh hoạt giữa việc vận dụng và
chuyển đổi giữa các môn học. Một phần vì Tin học là một môn học tương đối
mới mẻ. Vì vậy, bên cạnh những cách thức và phương pháp chung của giảng
dạy, môn Tin học cần chú ý vào những đặc điểm riêng của mình để có thể
giúp học sinh lĩnh hội những tri thức Tin học, thông qua đó hình thành và
phát triển năng lực trí tuệ chung cho học sinh.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên không phải chỉ hình thành, phát triển
và rèn luyện từng năng lực trí tuệ riêng lẻ, cũng không thể ôm đồm tất cả các
năng lực cùng một lúc mà phải tuỳ vào từng loại kiến thức, từng bài học cụ
thể để xác định rõ năng lực nào là chủ yếu, từ đó tìm ra cách thức và biện
pháp phù hợp. Cụ thể với ngôn ngữ lập trình Pascal:
Việc hình thành và phát triển tư duy logic và ngôn ngữ chính xác ở học
sinh có thể thực hiện theo ba hướng liên quan chặt chẽ với nhau:
- Làm cho học sinh nắm vững, hiểu đúng và sử dụng những liên kết logic:
AND(và), OR(hoặc), NOT(phủ định), Nếu thì(Câu lệnh IF THEN), những
lượng tồn tại và khái quát
- Phát triển khả năng hiểu cấu trúc và cách hoạt động của một chương trình,
trình bày lại và độc lập tiến hành xây dựng chương trình.
- Phát triển khả năng xây dựng thuật giải bằng cách thức diễn tả(Liệt kê
từng bước, bằng lưu đồ cú pháp, bằng các cấu trúc điều khiển, hay câc ngôn
ngữ phỏng trình )
Để phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng ở học sinh cần tập trung
vào:
- Làm cho học sinh quen và có ý thức sử dụng những quy tắc suy đoán như:
xét tương tự, khái quát hóa, quy lạ về quen Tuy nhiên, suy đoán phải có căn
cứ, dựa trên những quy tắc, kinh nghiệm nhất định.
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 13
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp giảng dạy Tin học
- Tập luyện cho học sinh khả năng hình dung được những đối tượng và quan
hệ giữa chúng, làm việc với chúng dựa trên những dữ liệu và cách tổ chức
chương trình.
Đối với các thao tác tư duy cùng những phẩm chất trí tuệ việc phát triển và
rèn luyện chúng không được đặt cô lập mà phải để chúng trong mối liên hệ
với nhau, trong quá trình vận động và phát triển từ thấp đến cao. Phải thường
xuyên xen kẽ trong khi hình thành những năng lực khác vì quá trình tư duy là
một quá trình thực hiện các thao tác trí tuệ nhất định, tuỳ thuộc vào mục đích,
yêu cầu của tư duy mà thao tác nào là chủ yếu.
Với mục đích cần hướng tới như trên, giáo viên cần có sự lựa chọn phù
hợp giữa hệ thống tri thức và bài tập, nên thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Xác định đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của kiến thức phổ thông cần
truyền thụ.
- Lựa chọn các ví dụ thích hợp, vừa tầm và nâng cao dần để học sinh nắm
vững kiến thức được lĩnh hội.
- Các bài tập cần được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp về
mối quan hệ giữa các câu lệnh, phương pháp và khái niệm đặc trưng sao cho
xuất hiện các tình huống có vấn đề để học sinh tiến hành tư duy, hiểu được
kiến thức, nắm vững và có kỹ năng vận dụng kiến thức đó.
- Chọn các bài tập có nội dung thực tế của khoa học kỹ thuật, của các môn
học khác và đặc biệt là thực tế đời sống hàng ngày quen thuộc với học sinh.
- Chọn các bài toán có kỹ năng rèn luyện cho học sinh khả năng tự tìm tòi,
dự đoán được những tích chất, quy luật của hiện thực khách quan, tự phát
hiện ra vấn đề và giải quyết chúng.
- Số lượng bài tập phải phù hợp với thời gian quy định của chương trình
học, thời gian học ở nhà của học sinh.
- Mỗi bài tập nhận thức lựa chọn phải là một mắt xích trong hệ thống bài
tập, nó phải đóng góp được phần nào đó vào việc hoàn chỉnh kiến thức của
học sinh, giúp học sinh hiểu được mối quan hệ giữa các khái niệm, câu lệnh,
Bùi Thị Thu Hoài - 43A - CNTT - Đại học Vinh 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét