Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Mã nén lecture5 -RSA

5
Khoá mã công khai
6
Các đặctrưng của khoá công khai
Public-Key Characteristics
•Cácthuật toán khoá công khai dùng 2 khoá với các đặc
trưng
– Không có khả năng tính toán để tìm khoá giảimãnếu
chỉ biếtthuật toán và khoá mã
–Cóthể dễ dàng mã hoá hoặcgiảimãmẩu tin nếubiết
khoá tương ứng
–Trongmộtsố sơđồ: một khoá bấtkỳ trong hai khoá có
thể dùng để mã, còn khoá kia dùng để giảimã
7
Khoá mã công khai
8
Các ứng dụng khoá công khai
Public-Key Applications
•Cóthể phân loại ứng dụng thành 3 loại:
–Mã/giải mã – cung cấpbảomật
–Chữ ký điệntử - cung cấpxácthực
–Thỏa thuận khóa
•Mộtsố thuật toán phù hợpvớimọi ứng dụng, còn mộtsố
chuyên dùng cho ứng dụng cụ thể.
9
Sơ đồ mã hóa/giải mã dùng khóa công
khai
Dùng khoá công khai
để mã hóa.
Nhưng dùng khoá bí
mật để giải mã
10
Chữ ký số - Dùng khoá bí mật để ký một thông
báo;dùng khoá công khai để xác minh chữ ký.
11
Thỏa thuận khóa -
Tổ hợp khoá bí mật mình với
khoá bí mật của người khác để tạo ra khoá dùng chung
chỉ hai người biết.
12
Thuật toán RSA
• Được công bố bởi Rivest, Shamir & Adleman tại Học
viện Công nghệ Massachusetts - MIT vào năm 1977.
• Là mã công khai đượcbiết đếnnhiềunhấtvàsử dụng
rộng rãi nhất.
•Thuật toán RSA có hai khóa
: khóa công khai và khóa bí
mật. Khóa công khai được công bố rộng rãi cho mọi
người. Những thông tin được mã hóa bằng khóa công
khai chỉ có thể được giải mã bằng khóa bí mật tương ứng.
13
Khởitạo khoá RSA
•Mỗingườitạomộtcặp khoá công khai – riêng như sau:
•Chọnngẫu nhiên 2 số nguyên tố lớn khác nhau p và q
•Tínhsố làm modulo củahệ thống: N = p.q
–Ta đãbiết ø(N)=(p-1)(q-1)
–Vàcóthể dùng Định lý Trung Hoa để giảmbớt tính toán
•Chọnngẫu nhiên khoá mã e
– Trong đó 1<e<ø(N), gcd(e,ø(N))=1
•Giảiphương trình sau để tìm khoá giảimã d
– e.d=1 mod ø(N) với0≤d≤ ø(N)
• In khoá mã công khai PU={e,N}
•Giữ khoá riêng bí mật PR={d,N} hoặc PR={d,p,q}
14
Sử dụng RSA - RSA Use
• Để mã hoá mẩu tin, ngườigửi:
–Lấy khoá công khai củangườinhậnPU={e,n}
–TínhC = M
e
mod N, trong đó0≤M<N
• Để giải mã hoá bản mã, ngườisở hữunhận:
–Sử dụng khóa riêng PR={d,n} hoặc PR={d,p,q}
–TínhM = C
d
mod n
•Lưuý rằng bản tin M < N, do đó khi cần thì chia nhỏ khốibảnrõ.

Xem chi tiết: Mã nén lecture5 -RSA


Hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng nhân lực tại khách sạn Dân Chủ .doc

Nguyễn Trung Thành
Hoạt động kinh doanh khách sạn:
Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh dựa trên cơ sở cung cấp
các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ xung cho khách Du Lịch nhằm
đáp ứng nhu cầu của khách trong thời gian lưu trú tạm thời của khách tại điểm
Du Lịch và mang lại lợi ích kinh tế cho các cơ sở kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh Du Lịch phục vụ cho nhu cầu thứ yếu của khách vì
vậy nóđòi hỏi các khách sạn cung cấp không chỉ là các dịch vụ dơn thuần mà
cần phải có các dịch vụ bổ xung phong phú di cùng. Là một nhu cầu thứ yếu
cho nên mọi thứ họ tiêu dùng không chỉđơn thuần là một nơi như nhà họ mà
họđòi hỏi một sự hoàn hảo. Điều này trong kinh doanh khách sạn lại phụ thuộc
rất lớn vào đội ngũ lao động trong khách sạn, chỉ có họ những con người phục
vụ trực tiếp và gián tiếp ởđó mới có thể lấy được sự hài lòng của khách.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn
Hoạt động kinh doanh khách sạn có một số những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Hoạt động kinh doanh khách sạn phụ thuộc tài nguyên du lịch
tại các điểm Du Lịch
Điều kiện đầu tiên là tài nguyên Du Lịch trong vùng. Chúng ta không thể
mang mô hình, cách quản lýở nơi này mang đến áp dụng ở nơi khác. Các nhà tư
vấn phải xử dụng tài nguyên ở nơi cụ thểđể tư vấn cho các nhà quản lý, xem xét
họđã làm đúng chưa, đã sử dụng đúng đặc thù của vùng chưa. Như khách sạn
biển thường rải ra chiếm nhiều đất vì khuynh hướng đi nghỉ biển là muốn nhìn
thấy biển, muốn nhiều nắng chứ không phải là nhà hộp.
Phụ thuộc vào chính sách marketing của doanh nghiệp. Xác định chủng
loại dịch vụđặc thù riêng nhưng không phải nơi nào, doanh nghiệp nào cũng
giống nhau. Từ tài nguyên khách sạn có thể xác định loại khách, đặc điểm yêu
cầu của khách ví dụ: với khách sạn biển chúng ta nên chúý tới dịch vụ bổ sung
ngoài trời. Tuỳ thuộc vào khả năng khai thác tài nguyên kinh doanh khác nhau.
Trong một vùng với những đặc điểm tài nguyên như nhau đặc điểm khách
tương đồng nhau.
Giá trị của tài nguyên quyết định thứ hạng của khách sạn vì tài nguyên nổi
tiếng sẽ thu hút khách ở nhiều nơi. Ví dụ như Hawai khách sạn quy mô lớn phải
lớn hơn 2000 phòng còn ở biêtn Sầm Sơn, Cửa Lò không có khách sạn lớn vì
chỉ có người Việt Nam. Giá trị tài nguyên cao như vậy sẽ hấp dẫn người nước
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
8
Nguyễn Trung Thành
ngoài cao, thời gian lưu trú lại khách sạn cao, khả năng chi trả lớn. Và như vậy
với những nơi tài nguyên kém thì có tiền cũng không xây những khách sạn lớn.
Tóm lại ta thấy:
+Loại tài nguyên Du Lịch quyết định loại khách sạn
+Giá trị của tài nguyên quyết định thứ hạng của khách sạn
+Sức chứa của tài nguyên quyết định quy mô của khách sạn đưng trên cái
nhìn của phát triển bến vững
Chính sách sản phẩm nói chung sản phẩm khách sạn làít có sự thay đổi
nhưng cũng có sựđầu tư vào sản phẩm mới. Sự thay đổi của tài nguyên Du Lịch
kéo theo sự thay đổi của cac chính sách sản phẩm, chính sách marketing – mix.
Tài nguyên là vốn có nhưng giá trị của tài nguyên thì thay đổi theo những cái
khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà quản lý. Ví dụ nhưđánh bom
ở Bali làm cho các nhà quản lý phải điều chỉnh chính sách kinh doanh, sản
phẩm. Sự thay đổi của tài nguyên không thay đổi trong một khoảng thời gian
nhỏ nhưng giá trị của tài nguyên thì luôn thay đổi khó lường và hậu quả của nó
thì rất lớn. Ví dụ dịch SARS, 11/9 … Chính sách marketing-mix đặt mối quan
hệ với các bạn hàng khách nhau, nguồn khách khác nhau tuỳ sự thay đổi các
nhà quản lý phải nghiên cứu thật kỹ sự thay đổi để có những chính sách thích
hợp tuỳ từng thời điểm. Tương tự như vậy với lao động, nhân lực tuỳ vào điều
kiện mà ký lao động dài hạn hay ngắn hạn.
Tài nguyên Du Lịch ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh khách sạn
vậy một khách sạn với việc khai thác tài nguyên cóảnh hưởng đến tài nguyên
không? Chúng ta có thể trả lời là có vì:
+ Khách sạn quy hoạch, xây dựng, kinh doanh không hợp lý thì nó làm
cho giá trị của tài nguyên giảm đi.
+ Chính sách sản phẩm không hợp lýở những thời điểm khác nhau giá trị
tài nguyên sẽ giảm.
+ Trình độ của người quản lý của khách sạn kém cũng làm cho giá trị tài
nguyên giảm.
Kinh doanh khách sạn phải xét trên tương lai lâu dài sống lâu dài trên thị
trường khách chứ không phải là tạm thời. Tài nguyên và khách sạn có mối quan
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
9
Nguyễn Trung Thành
hệ mật thiết với nhau. Giá trị, sức chứa, những nhân tốảnh hưởng sức chứa để
xây dựng khách sạn.
Thứ hai: Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư ban đầu
cao vàđầu tư cơ bản cao.
Đặc điểm này do một số nhân tố sau quy định:
- Nhu cầu của khách là nhu cầu cao cấp, có tính tổng hợp cao và nó phải
được thực hiện một cách đồng bộ. Do yêu cầu này đòi hỏi các sản phẩm của
khách sạn phải được đảm bảo tính đồng bộ, tính tổng hợp để thoả mãn nhu cầu
của khách và cùng với đó tạo cho khách cảm giác hãnh diện, sang trọng, sành
điệu … khi tiêu dùng các sản phẩm của khách sạn thông qua các sản phẩm,
trang thiêt bị tiện nghi hiện đại đồng bộ của khách sạn. Chúng ta không thể xây
dựng một khách sạn 3 sao để rồi sau đó nâng cấp lên 5 sao bởi khách hàng mục
tiêu là khách nhau. Nhu cầu của khách hàng sinh ra khách sạn và nhu cầu của
khách Du Lịch là cao cấp làm cho khách sạn không thểđầu tư thấp, khách sạn
phải thay đổi liên tục do hao mòn vô hình mặc dù là chưa hỏng, và sinh ra sau
phải vượt trội chứ không thể thấp hơn nhàđầu tư trước đóý tưởng phải tính trên
lâu dài chứ không phải ngắn hạn. Chính vìđiều này màđể tạo ra được các sản
phẩm khách sạn đáp ứng được yêu cầu của khách đòi hỏi phải có dung lượng
vốn ban đầu cao.
- Chất lượng của sản phẩm khách sạn luôn đòi hỏi chất lượng cao. Một
mặt do nhu cầu của khách là ngày càng cao, cùng với đó là sức ép cạnh tranh
trên thị trường buộc các khách sạn phải luôn luôn đổi mới cơ sở vật chất kỹ
thuật cùng các trang thiết bị. Công việc đầu tư nâng cấp, sửa chữa, thay mới
các trang thiết bị diễn ra liên tuc trong quá trình hoạt động của khách sạn dẫn
đến vốn đầu tư cơ bản cao. Các nhàđầu tư sau luôn phát triển cao hơn đối thủ
có trước trong quá trình hoạt động cũng phải luôn đầu tưđổi mới cải tiến thay
thế … tiêu hao vật chất trong quá trình sử dụng là cao. Việc sử dụng khách sạn
của khách phải sao cho họ có cảm tưởng như họ dùng sản phẩm lần đầu đây là
một điều hết sức khó. Sau một nấc thang Demming phải có sựđổi mới thay đổi
còn trong quá trình kinh doanh cũng phải duy trì tình trạng luôn luôn tốt cho
nên khá tốn kém.
Kinh doanh khách sạn là một ngành kinh doanh đòi hỏi chi phíđầu tư cơ
bản cao, và phải liên tục đầu tư trong quá trình hoạt động.
Thứ ba: Hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động
trực tiếp cao
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
10
Nguyễn Trung Thành
Sản phẩm của khách sạn làđể phục vụ cho nhu cầu của con người mà nhu
cầu của con người là phong phú, đa dạng và có tính cao cấp cũng có thể nói sản
phẩm của khách sạn là:
+ không có tính khuôn mẫu và không đồng nhất nó thoả mãn nhu cầu
khách đa dạng và phong phú chất lượng phụ thuộc vào cảm giác của con người,
của người tiêu dùng sản phẩm.
+ Sản phẩm khách sạn là không thể dùng máy móc để thay thế cho con
người mà phải được tạo ra bởi chính con người với mức độ phục vụ cao để có
thể thoả mãn tối đa nhu cầu của khách.
+ Khách sạn là ngành có sự tham gia của lao động sống khá cao vì khách
sạn là thuộc dịch vụ.
+ Sản phẩm được sinh ra có sựđồng thời bên mua và bên bán cho nên sản
phẩm làm ra không có phép thử, nóđòi hỏi chuyên môn hoá cao, chuyên nghiệp
cao nên lao động không thể thay thế cho nhau, sự chuyên môn hoá theo bộ
phận và chuyên môn hoá theo cung đoạn kỹ thuật làm cho lao động sống càng
cao.
Kinh doanh khách sạn là một nghành kinh doanh thuộc lĩnh vực dịch vụ vì
vậy lao động sống là lực lượng chính. Thêm vào đó là yêu cầu về sản phẩm
dịch vụ của khách là ngày càng cao về chất lượng và số lượng cho nên các nhà
kinh doanh khách sạn phải nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm và dịch vụ
của họ, đặc biệt trong kinh doanh dịch vụ là việc nâng cao thái độ phục vụ của
nhân viên vì sự thoả mãn của khách hàng chính bằng sự cảm nhận của khách
trừđi sự mong chờ của khách. Ta có công thức sau:
S = P – E S: Sự thoả mãn
P: Sự cảm nhận
E: sự mong đợi
Từ công thức trên ta thấy E là một đại lượng có sựổn định tương đối. Như
vậy muốn làm tăng sự thoả mãn của du khách chỉ còn cách tăng sự cảm nhận P
của khách lên. P đó chính là sự cảm nhận bằng các cơ quan giác quan của
khách kể từ sau khi khách đặt chân đến khách sạn. Vì vậy để tăng P chúng ta
chỉ có thể tập trung vào các yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật và nhân tố quan trọng
nữa là con người. Yếu tố cơ sở vật chất là phụ thuộc vào vốn của nhàđầu tư vì
vậy con người là một trong những yếu tốđể nâng cao chất lượng sản phẩm mà
cụ thểởđây là thái độ của nhân viên khách sạn trong quá trình phục vụ khách từ
khi khách đến cho đến khi khách rời khách sạn. Để có thể làm được như vậy
chỉ có thể là sự chuyên môn hoá trong lao động do đó sẽ làm cho đội ngũ lao
động tăng lên. Trong kinh doanh khách sạn thời gian làm việc phụ thuộc vào
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
11
Nguyễn Trung Thành
thời gian tiêu dùng của khách mà chúng ta không biết lúc nào khách tiêu dùng
vì vậy nhân viên phải làm việc 24/24 giờ một ngày tạo thành phải làm việc theo
ca kíp và do sản phẩm khách sạn ngày càng phát triển theo hướng đa dạng cho
nên lao động trong hệ thống các khách sạn ngày càng tăng.
Chính do đặc điểm này làm cho công tác tổ chức quản lý và sử dụng nhân
lực trở nên rất quan trọng và cóảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và
tính đến sự hấp dẫn của khách sạn.
Thứ tư: Hoạt động kinh doanh khách sạn chịu sự tác động của tính quy
luật
Kinh doanh khách sạn là phải gắn với tài nguyên Du Lịch mà tài nguyên
Du Lịch lại chịu chịu sự tác động của các quy luât tự nhiên như thời tiết, khí
hậu, mùa vụ,… mà quy luật tự nhiên là không thểđiều chỉnh. Mùa Du Lịch cao
điểm có thể làm cho chất lượng sản phẩm kém đi còn ngoài vụđặc biệt là mùa
chết thì chi phí là quá cao và làm cho tay nghề nhân viên không thể cao, tính ổn
định kém làm cho chất lượng kém. Đây là căn bệnh mà các khách sạn phải
chịu, chỉ có thể chung sống với nó chứ không thể loại bỏ nó. Kinh doanh khách
sạn không thể loại bỏ tính thời vụđây là vấn đề lớn dù nóít hay nhiều tác động
nó chính là một căn bệnh. Nhà quản lý phải khắc phục và quản lý phân bổ
nguồn lực một cách hợp lý nó là một dữ kiện của bài toán và chúng ta phải vượt
qua nó. Vậy hoạt động kinh doanh khách sạn chịu sự tác động của các quy luật
tự nhiên.
Là nơi sử dụng hàm lượng lao động sống nhiều nên quy luật tâm sinh lý có
tác động rất nhiều tới hoạt động kinh doanh khách sạn. Vì vậy nhà quản lý phải
tính tới quy luật này để có thể phân bổ lao động hợp lý hơn và cũng có thể tiết
kiệm chi phí lao động và tăng hiệu quả của hoạt động kinh doanh.
1.2. Quản lý nhân lực và công tác tổ chức quản lý nhân lực trong kinh
doanh khách sạn
1.2.1. Khái niệm quản lý nhân lực
Nhân lực là yếu tố của con người có thể hiểu nó gồm thể lực và trí lực.
Theo từđiển tiếng Việt định nghĩa “nhân lực là sức người dùng trong lao động
sản xuất” hay co thẻđược hiểu “là toàn bộ thể lực và trí lực trong mỗi con
người, trong nhân cách sinh động của một con người thể lực và trí lực làm cho
con người phải hoạt động để sản xuất ra những vật cóích”. Trong truyền thống
chủ yếu là khai thác thể lực còn việc khai thác trí lực là một yếu tố còn mới mẻ
nhưng đây lại là một kho tàng của loài người. Ngày nay với sự phát triển của
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
12
Nguyễn Trung Thành
khoa học kỹ thuật thì việc sử dụng chúng là con người nên họ chính là yếu tố
trung tâm.
Sức lao động tồn tại gắn liền với bản thân con người, nó là sản phẩm
củalịch sử, nó luôn luôn được hoàn thiện và phát triển nhờ thường xuyên duy
trì và hoàn thiện sau mỗi quá trình lao động. Như vậy, khi nói tưới nhân lực là
nói tới con người gắn với việc sản xuất ra một hoặc một số sản phẩm nào đó
làm cho xã hội phát triển và cũng chính vì sự tồn tại và phát triển của con
người.
Đối với doanh nghiệp du lịch, nhân lực là yếu tố quan trọng quyết định
hiệu quả sử dụng các yếu tố nguồn lực khác của doanh nghiệp. Bởi vì con
người chính là chủ thể tiến hành mọi hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện
mục tiêu của doanh nghiệp.
Vậy quản lý nhân lực là việc hoạch định, tổ chức điều khiển và kiểm soát
các hoạt động của con người trong doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu
của tổ chức. Mọi hoạt động của công tác tổ chức quản lý nhân lực như hoạt
động hoạch định tổ chức điều khiển, kiểm soát cuồi cùng đều tác động lên con
người, yếu tố năng động nhất trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kết
quả làđể tạo ra một đội ngũ lao động làm việc có năng suất có hiệu quả cao để
có thể phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn.
1.2.2. Nội dung của công tác quản lý nhân lực
Mục tiêu của công tác quản lý nhân lực chính là hiệu quả kinh doanh, tối
thiểu là phải hoà vốn nhưng đó chỉ là trong một hoàn cảnh bất khả kháng và
thời gian ngắn. Tạo động lực thúc đẩy cho nhân viên làm việc và thoả mãn vác
nguyện vọng chính đáng. Do vậy đểđạt được mục tiêu trên doanh nghiệp khách
sạn cần phải tổ chức lao động một cách hợp lý và khoa học, đồng thời phải
phân công bố trí, sắp xếp, lao động vào những vị trí làm việc một cách hợp lý
và khoa học, đồng thời phân công sắp xếp họ vào những vị trí phù hợp với năng
lực của họ. Để có thể làm được như vậy, doanh nghiệp cần phải chú trọng và
thực hiện tốt các nội dung của công tác quản lý nhân lực là: Phân tích công
việc, tổ chức tuyển chọn nhân lực, đào tạo và phát triển nhân lực, đánh giá quá
trình thực hiện công việc của nhân viên, chếđộ tiền lương và hình thức khen
thưởng và kỷ luật …
Vàđể làm được như vậy các nhà quản lý nhân lực cần phải tìm hiểu những
nhân tố có thể tác động đến công tác quản trị nhân lực tác động đến công nhân
viên như: Tác động của chếđộ lương và chếđộ khen thưởng kỷ luật, đội ngũ lao
động và tính đặc thù của các bộ phận và mối quan hệ giữa chúng, ảnh hưởng
của trình độ năng lực và tư duy của nhà quản lý, …
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
13
Nguyễn Trung Thành
Ta có các bước chính của công tác quản trị như sau:
1.3. Đặc điểm tổ chức và quản lý nhân lực trong hoạt động kinh doanh
khách sạn
1.3.1. Đặc điểm về lao động trong kinh doanh khách sạn
1.3.1.1. Lao động sản xuất phi vật chất lớn hơn lao vật chất
Lao động sản xuất vật chất là lao động dùng công cụ lao động để tác động
lên đối tượng lao động dưới dạng vật chất để tạo ra sản phẩm dưới dạng vật
chất.
Lao động sản xuất phi vật chất là lao động dùng công cụ lao động tác động
vào những yếu tố vật chất và phi vật chất nhưng không làm thay đổi nó mà
chuyển dần thành giá trị tiền tệ.
Sản phẩm của khách sạn chủ yếu là dịch vụ trong lĩch vực ăn uống, lưu trú
và các dịch vụ bổ xung khác, lao động sản xuất ra hàng hoá rất ít do vậy lao
động sản xuất phi vật chất chiếm tỷ lệ cao hơn. Và trong khu vực sản xuất phi
vật chất được đánh giá qua chất lượng đầu ra của sản phẩm lúc nào cũng
khóđánh giá và kiểm tra. Chính đặc điểm này làm cho việc kiểm tra trở nên khó
khăn, cũng như việc đánh giá nhân viên và quá trình thu nhập giữa các bộ phận
khó có sự công bằng và sự công bằng tuyệt đối là không thể có.
1.3.1.2. Lao động đòi hỏi tính chuyên môn hoá
Chuyên môn hoá lao động trong khách sạn được hiểu là chuyên môn hoá
theo bộ phận và bộ phận theo thao tác kỹ thuật hay chính là các công đoạn phục
vụ.
Chuyên môn hóa theo bộ phận. Trong khách sạn có nhiều bộ phận và mỗi
bộ phận đều có chức năng, nhiệm vụ khách nhau cho nên khi tuyển dụng nhân
viên phải theo chuyên nghành vàđược đào tạo chuyên sâu. Điều này dẫn đến sự
khó khăn trong việc bố trí, thay thế lẫn nhau giữa các nhân viên trong các
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
14
Phân tích công việc
Tuyển chọn nhân viên
Đào tạo và phát triển
Đánh giá thực hiện
Khen thưởng và kỷ luật
Nguyễn Trung Thành
bộphận điều này làm cho định mức lao động trong các khách sạn cao hơn so
với các tổ chức lao động ở các khu vực khác.
Chuên môn hoá theo thao tác kỹ thuật hay chính là việc chuyên môn hoá
theo từng công đoạn phục vụ. Sự chuyên môn hoá này dẫn đến khả năngchỉ cần
một sơ suất nhỏ thì có thể làm giảm đi chất lượng phục vụ nhưng cũng chính
điều này làm cho chất lượng phục vụ luôn luôn được chúý nâng cao. Tuy vậy
chính nó làm cho nhân viên có cảm giác nhàm chán từđó có thểảnh hưởng đến
chất lượng và năng suất lao động, khả năng thay thế lao động trong các bộ phận
điều này cũng làm định mức lao động trong khách sạn cao lên. Trong kinh
doanh khách sạn muốn tăng hiệu quả kinh doanh thìđiều khó tránh khỏi chính
là sắp sếp lao động và việc tiết kiệm chi phí lao động trong toàn khách sạn.
1.3.1.3. Hệ số luân chuyển lao động
Số lao động trung bình trong khách sạn trong một khoảng thời gian tương
đối ổn định do vậy hệ số luân chuyển lao động phụ thuộc chủ yếu vào số lao
động bị chuyển đổi trong khách sạn. Vì ta có:
Hệ số luân chuyển = Tổng số lao động bị chuyển đổi trong một khoảng
thời gian/ Số lao động trung bình trong một khoảng thời gian
Trong thực tế lao động trong khách sạn cóđộ tuổi trung bình tương đối
thấp đặc biệt trong các bộ phận có tiếp xúc trực tiếp với khách. Điều này làm
cho nhân viên tâm lýđang làm công việc tạm thời chứ không phải là nghề mà
họ chọn thực sự. Có một điều là tất cả mọi người làm việc đều mong muốn
công sức của mình sẽđược trả công một cách xứng đáng và công việc ít có sự
căng thẳng như trong khách sạn vì vậy họ luôn muốn tìm cho mình một nơi có
mức lương cao hơn. Chính những điều này đã tạo ra cho kinh doanh khách sạn
hệ số luân chuyễn cao hơn. Vì thế các nhà quản lý phải tìm hiểu một cách
tường tậm về các đặc điểm này mới có thể tổ chức quản lý hợp lý phù hợp
mang lại một kết quả cao vàđạt được mục tiêu của tổ chức đặt ra.
1.3.1.4. Người lao động chịu sức ép tâm lý cao
Lao động trong kinh doanh khách sạn chủ yếu là lao động trực tiếp, các
nhân viên của khách sạn phải thường xuyên tiếp xúc với khách. Khách hàng là
những người đến từ các quốc gia khác nhau, đòi hỏi phong cách phục vụ, tâm
lý khác nhau. Để có thể làm hài lòng khách nhân viên phục vụ phải thực sự
khéo léo, linh hoạt, niềm nở trong khi nhân viên không phải lúc nào cũng trong
một tình trạng tốt về tâm lý và sinh lý. Do vậy để chất lượng phục vụ có thểđạt
kết quả tốt người lao động phải chịu một sức khẻo tâm lýđể luôn làm cho
khách hài lòng. Không những người lao động không những phải chịu sức ép từ
phía khách hàng họ còn phải chịu sức ép từ phía gia đình và xã hội do yêu cầu
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
15
Nguyễn Trung Thành
về thời gian và do định kiến xã hội. Mặt khác trong môi trường kinh doanh luôn
có sự cám dỗ về mặt vật chất là rất lớn, nếu nhà quản lý không chặt thì sự tiêu
cực là khó có thể kiểm soát được nhưng điều này không phải ai cũng có thể lam
được.
1.3.1.5.Quá trình lao động trong khách sạn khó có thểáp dụng
cơ giới hoá, tựđộng hoái
Từđặc điểm của sản phẩm khách sạn chủ yếu là dịch vụ mà dịch vụ lại là
do con người trực tiếp tạo ra vì vậy để có thể tạo ra sản phẩm không thể thiếu
yếu tố con người mặc dù khách sạn có thể cóđiều kiện mua đầu tư hiện đại hơn.
Như vậy nhân tố quyết định đến chất lượng sản phẩm của khách sạn chính là
con người . Hơn nữa, sản phẩm của khách sạn là vô hình việc đánh giá chất
lượng phụ thuộc vào sự cảm nhận của khách hàng nên không có một khuôn
mẫu cho các sản phẩm tạo ra. Điều này đòi hỏi nhân viên khách sạn phải có sự
nhanh nhẹn, nhạy cảm, thông minh, tạo được sự thích ứng với khách hàng điều
này chúng ta không thể tìm thấy được ở máy móc hay trang thiết bị cho dù
chúng hiện đại đến đâu.
1.3.1.6. Thời gian phục vụ trong khách sạn là 24/24
Làm việc trong khách sạn chính làđể phục vụ khách từ lúc khách đến cho
đến khi rời khỏi khách sạn mà chúng ta khó có thể lúc nào khách đến. Trong
khách sạn hầu như làm việc 365 ngày trên 365 ngày, 24 trên 24 giờ và không
có thời gian chết. Điều này đã gây khó khăn cho công tác tổ chức và quản lý, sử
dụng nhân lực. Đòi hỏi một lượng lao động là lớn làm cho phân công lao động
là khó, việc tính lương, giờ công chính xác công bằng là khó. Là nhân viên
khách sạn với thời gian làm việc là khó xác định nên ảnh hưởng đến đời sống
riêng của mỗi người nhất làđối với lao động là nữ với thiên chức của mình. Vì
vậy một chếđộ lương, thưởng hợp lý là một điều tối cần thiết cho sự hoàn thành
xuất sắc công việc của nhân viên.
1.3.2. Nội dung chủ yếu về công tác tổ chức và quản lý nhân lực
trong kinh doanh khách sạn
1.3.2.1. Phân tích công việc
Phân tích công việc là việc xác định rõ tính chất vàđặc điểm công việc đó
qua quan sát – theo dõi – nghiên cứu. Phân tích công việc, xác định những
nhiệm vụ và những chức năng, năng lực và trách nhiệm đòi hỏi để thực hiện
công việc có hiệu quả. Phân tích công việc là vấn đề quan tâm đầu tiên của nhà
quản lý và nhà tổ chức nhân lực tại khách sạn.
Yêu cầu cần thiết cho bảng phân tích công việc
- Công việc phải được xác định một cách chính xác
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
16
Nguyễn Trung Thành
- Nhiệm vụ bổn phận và trách nhiệm cũng như tiêu chuẩn của công việc
phải được mô tả rõ ràng
- Những đòi hỏi của công việc đối với người nhân viên để thực hiện công
việc có hiệu quả phải được trình bày không thiếu sót như: chỉ ra được
khối lượng đặc thù cho thẹc hiện công việc và thời gian thực hiện
chúng, chỉ ra được lỹ năng chuyên môn để thực hiện công việc, chỉ rõ
bổn phận và nhiệm vụ của người nhân viên đó, phải xây dựng được một
cách cụ thể chính xác chi tiết cho mọi vị trí trong một quy trình phục,
phải dựa trên những nghiên cứu có tính chất khoa học và các thao tác
kinh nghiệm thực tế.
- Khi xây dựng phải chúý tới yếu tố tâm lý của nhân viên thực hiện
vàđiều kiện của dịch vụđó.
Để xây dựng được bảng phân tích công việc này chúng ta phải làm theo
trình tự sau:
Bước 1:Tìm người biết phân tích có trình độ và có kỹ năng viết tốt để tập
hợp tài liệu ( hay số liệu), chuẩn bị mô tả công việc, những đặc điểm kỹ thuật
và những tiêu chuẩn thực hiện công việc.
Bước 2: Thiết kế câu hỏi
Bước 3: Phỏng vấn
Bước 4: Quan sát người lao động khi làm việc
Bước 5: Viết ra những phác thảo về mô tả công việc, tiêu chuẩn về chuyên
môn và những tiêu chuẩn thực hiện công việc
Bước 6: Duyệt lại ở cấp cao nhất
Bước 7: Thảo luận, bàn bạc về bản sơ thảo
Bước 8: Bước cuối cùng: duyệt bản thảo lần cuối cùng, viết những nội
dung từ cấp cao nhất, nộp bản dự thảo viết tay cho các đơn vị liện quan.

Tác dụng của việc xây dựng bản phân tích công việc:
Nó là cơ sở của việc hướng dẫn công tác tuyển mộ lựa chọn, bố trí nhân
lực trong khách sạn.
Làm cơ sở cho việc đánh giá phân loại công việc và nhân viên tạo điều
kiện cho phân bổ tiền lương công bằng và chính xác hơn.
Là phương tiện để cho nhà quản lýđề bạt thuyên chuyển lao động trong các
bộ phận
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
17

Hệ quản trị cơ sở dữ liệu 1

HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
(Introduction)


MỤC ĐÍCH
Chương này trình bày một cái nhìn bao quát về cơ sở dữ liệu (CSDL/DB), về hệ quản trị
cơ sở dữ liệu (HQTCSDL/DBMS) và về hệ cơ sở dữ liệu (HCSDL/DBS). Các đòi hỏi khi xây
dựng một HQTCSDL đó cũng chính là những chức năng mà một HCSDL cần phải có. Một khái
niệm quan trọng là khái niệm giao dịch (Transaction). Các tính chất một giao dịch phải có để đảm
bảo một HQTCSDL, được xây dựng trên HCSDL tương ứng, trong suốt quá trình hoạt động sẽ
luôn cho một CSDL tin cậy (dữ liệu luôn nhất quán). Quản trị giao dịch nhằm đảm bảo mọi giao
dịch trong hệ thống có các tính chất mà một giao dịch phải có. Một điều cần chú ý là trong các
tính chất của một giao dịch, tính chất nhất quán trước hết phải được đảm bảo bởi người lập trình-
người viết ra giao dịch.

YÊU CẦU
Hiểu các khái niệm.
Hiểu các vấn đề đặt ra khi xây dựng một HQTCSDL: thiết kế CSDL, đảm bảo tính nhất
quán của CSDL trong suốt cuộc sống của nó, nền tảng phần cứng trên đó một HQTCSDL được
xây dựng.
Hiểu cấu trúc hệ thống tổng thể
Hiểu vai trò của các người sử dụng hệ thống.

MỘT SỐ KHÁI NIỆM
• Một cơ sở dữ liệu (CSDL/ DB: DataBase) là một tập hợp các tập tin có liên quan với
nhau, được thiết kế nhằm làm giảm thiểu sự lặp lại dữ liệu.
• Một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (HQTCSDL/ DBMS: DataBase Management System) là
một hệ thống gồm một CSDL và các thao tác trên CSDL đó, được thiết kế trên một nền
tảng phần cứng, phần mềm và với một kiến trúc nhất định.
• Một hệ cơ sở dữ liệu (HCSDL/ DBS: DataBase System) là một phần mềm cho phép
xây dựng một HQTCSDL.





CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
1
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU







HỆ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Một số điểm bất lợi chính của việc lưu giữ thông tin có tổ chức trong hệ thống xử lý file
thông thường:
• Dư thừa dữ liệu và tính không nhất quán (Data redundancy and inconsistency): Do
các file và các trình ứng dụng được tạo ra bởi các người lập trình khác nhau, nên các file
có định dạng khác nhau, các chương trình được viết trong các ngôn ngữ lập trình khác
nhau, cùng một thông tin có thể được lưu giữ trong các file khác nhau. Tính không thống
nhất và dư thừa này sẽ làm tăng chi phí truy xuất và lưu trữ, hơn nũa, nó sẽ dẫn đến tính
không nhất quán của dữ liệu: các bản sao của cùng một dữ liệu có thể không nhất quán.
• Khó khăn trong việc truy xuất dữ liệu: Môi trường của hệ thống xử lý file thông
thường không cung cấp các công cụ cho phép truy xuất thông tin một cách hiệu quả và
thuận lợi.
• Sự cô lập dữ liệu (Data isolation): Các giá trị dữ liệu được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu
phải thoả mãn một số các ràng buộc về tính nhất quán của dữ liệu ( ràng buộc nhất
quán/consistency contraints ). Trong hệ thống xử lý file thông thường, rất khó khăn
trong việc thay đổi các chương trình để thoả mãn các yêu cầu thay đổi ràng buộc. Vấn
đề trở nên khó khăn hơn khi các ràng buộc liên quan đến các hạng mục dữ liệu nằm
trong các file khác nhau.
• Các vấn đề về tính nguyên tử (Atomicity problems): Tính nguyên tử của một hoạt
động (giao dịch) là: hoặc nó được hoàn tất trọn vẹn hoặc không có gì cả. Điều này có
nghĩa là một hoạt động (giao dịch) chỉ làm thay đổi các dữ liệu bền vững khi nó đã hoàn
tất (kết thúc thành công) nếu không, giao dịch không để lại một dấu vết nào trên CSDL.
Trong hệ thống xử lý file thông thường khó đảm bảo được tính chất này.
• Tính bất thường trong truy xuất cạnh tranh: Một hệ thống cho phép nhiều người sử
dụng cập nhật dữ liệu đồng thời, có thể dẫn đến kết quả là dữ liệu không nhất quán.
Điều này đòi hỏi một sự giám sát. Hệ thống xử lý file thông thường không cung cấp
chức năng này.
• Vấn đề an toàn (Security problems): một người sử dụng hệ cơ sở dữ liệu không cần
thiết và cũng không có quyền truy xuất tất cả các dữ liệu. Vấn đề này đòi hỏi hệ thống
phải đảm bảo được tính phân quyền, chống truy xuất trái phép
Các bất lợi nêu trên đã gợi mở sự phát triển các DBMS. Phần sau của giáo trình sẽ đề cập
đến các quan niệm và các thuật toán được sử dụng để phát triển một hệ cơ sở dữ liệu nhằm giải
quyết các vấn đề nêu trên. Một số khái niệm
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
2
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
GÓC NHÌN DỮ LIỆU
Tính hiệu quả của hệ thống đòi hỏi phải thiết kế các cấu trúc dữ liệu phức tạp để biểu diễn
dữ liệu trong cơ sở dữ liệu. Các nhà phát triển che dấu sự phức tạp này thông qua các mức trừu
tượng nhằm đơn giản hóa sự trao đổi của người sử dụng với hệ thống:
• Mức vật lý ( Physical level ): Mức thấp nhất của sự trừu tượng, mô tả dữ liệu hiện
được lưu trữ thế nào. Ở mức này, cấu trúc dữ liệu mức thấp, phức tạp được mô tả chi
tiết.
• Mức luận lý ( Logical level ): Mức kế cao hơn về sự trừu tượng, mô tả dữ liệu gì
được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu và các mối quan hệ gì giữa các dữ liệu này. Mức logic
của sự trừu tượng được dùng bởi các người quản trị cơ sở dữ liệu.
• Mức view ( view level ): Mức cao nhất của sự trừu tượng, mô tả chỉ một phần của cơ
sở dữ liệu toàn thể. Một người sử dụng cơ sở dữ liệu liên quan đến chỉ một bộ phận của
cơ sở dữ liệu. Như vậy sự trao đổi của họ với hệ thống được làm đơn giản bởi việc định
nghĩa view. Hệ thống có thể cung cấp nhiều mức view đối với cùng một cơ sở dữ liệu.

Mức view


view 1
view 2
view n
mức luận lý
mức vật lý











Figure 1

• Thể hiện và sơ đồ (instances and schemas): Tập hợp các thông tin được lưu trữ trong
cơ sở dữ liệu tại một thời điểm được gọi là một thể hiện (instance) của cơ sở dữ liệu.
Thiết kế tổng thể của cơ sở dữ liệu được gọi là sơ đồ (schema).
Một hệ cơ sở dữ liệu có một vài sơ đồ, được phân tương ứng với các mức trừu tượng.
ở mức thấp nhất là sơ đồ vật lý (physical schema), ở mức trung gian là sơ đồ luận
lý (logical schema), ở mức cao nhất là sơ đồ con (subschema). Nói chung một hệ cơ sở dữ
liệu hỗ trợ một sơ đồ vật lý, một sơ đồ luận lý và một vài sơ đồ con.
• Khả năng sửa đổi một định nghĩa ở một mức không ảnh hưởng một định nghĩa sơ đồ ở
mức cao hơn được gọi là sự độc lập dữ liệu (data independence). Có hai mức độc lập dữ
liệu:
- Độc lập dữ liệu vật lý (Physical data independence) là khả năng sửa đổi sơ đồ vật
lý không làm cho các chương trình ứng dụng phải viết lại. Các sửa đổi ở mức vật
lý là cần thiết để cải thiện hiệu năng.
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
3
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
- Độc lập dữ liệu luận lý (Logical data independence) là khả năng sửa đổi sơ đồ
luận lý không làm cho các chương trình ứng dụng phải viết lại. Các sửa đổi ở mức
luận lý là cần thiết khi cấu trúc luận lý của cơ sở dữ liệu bị thay thế.
MÔ HÌNH DỮ LIỆU
Nằm dưới cấu trúc của một cơ sở dữ liệu là mô hình dữ liệu: một bộ các công cụ quan
niệm để mô tả dữ liệu, quan hệ dữ liệu, ngữ nghĩa dữ liệu và các ràng buộc nhất quán. Có ba
nhóm mô hình: Các mô hình luận lý dựa trên đối tượng (Object-based logical models), các mô
hình luận lý dựa trên mẩu tin (record-based logical models), các mô hình vật lý (physical
models).
- Các mô hình luận lý dựa trên đối tượng được dùng mô tả dữ liệu ở mức luận lý và
mức view. Chúng được đặc trưng bởi việc chúng cung cấp khả năng cấu trúc linh hoạt
và cho phép các ràng buộc dữ liệu được xác định một cách tường minh. Dưới đây là
một vài mô hình được biết rộng rãi: Mô hình thực thể - quan hệ (entity-relationship
model), mô hình hướng đối tượng ( object-oriented model ), mô hình dữ liệu ngữ
nghĩa ( semantic data model ), mô hình dữ liệu hàm ( function data model ).
- Các mô hình luận lý dựa trên mẩu tin được dùng để miêu tả dữ liệu ở mức luận lý
hay mức view. Chúng được dùng để xác định cấu trúc luận lý toàn thể của cơ sở dữ
liệu và cung cấp sự mô tả mức cao hơn việc thực hiện. Cơ sở dữ liệu được cấu trúc ở
dạng mẩu tin định dạng cố định (fixed format record): mỗi mẩu tin xác định một số cố
định các trường, mối trường thường có độ dài cố định. Một vài mô hình được biết rộng
rãi là: Mô hình quan hệ, mô hình mạng, mô hình phân cấp.
- Mô hình dữ liệu vật lý được dùng để mô tả dữ liệu ở mức thấp nhất. Hai mô hình dữ
liệu vật lý được biết rộng rãi nhất là mô hình hợp nhất (unifying model) và mô hình
khung-bộ nhớ ( frame-memory model ).
NGÔN NGỮ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Một hệ cơ sở dữ liệu cung cấp hai kiểu ngôn ngữ khác nhau: một để xác định sơ đồ cơ sở
dữ liệu, một để biểu diễn các vấn tin cơ sở dữ liệu và cập nhật.
- Ngôn ngữ định nghĩa dữ liệu (Data Definition Language: DDL) cho phép định
nghĩa sơ đồ cơ sở dữ liệu. Kết quả biên dịch các lệnh của DDL là tập hợp các bảng
được lưu trữ trong một file đặc biệt được gọi là tự điển dữ liệu (data dictionary) hay
thư mục dữ liệu (data directory). Tự điển dữ liệu là một file chứa metadata. File này
được tra cứu trước khi dữ liệu hiện hành được đọc hay sửa đổi. Cấu trúc lưu trữ và
phương pháp truy cập được sử dụng bởi hệ cơ sở dữ liệu được xác định bởi một tập
hợp các định nghĩa trong một kiểu đặc biệt của DDL được gọi là ngôn ngữ định
nghĩa và lưu trữ dữ liệu (data storage and definition language). Kết quả biên dịch
của các định nghĩa này là một tập hợp các chỉ thị xác định sự thực hiện chi tiết của các
sơ đồ cơ sở dữ liệu (thường được che dấu).
- Ngôn ngữ thao tác dữ liệu (Data manipulation language: DML) là ngôn ngữ cho
phép người sử dụng truy xuất hoặc thao tác dữ liệu. Có hai kiểu ngôn ngữ thao tác dữ
liệu: DML thủ tục (procedural DML) yêu cầu người sử dụng đặc tả dữ liệu nào cần
và làm thế nào để nhận được nó. DML không thủ tục (Nonprocedural DML) yêu cầu
người sử dụng đặc tả dữ liệu nào cần nhưng không cần đặc tả làm thế nào để nhận
được nó. Một vấn tin (query) là một lệnh yêu cầu tìm lại dữ liệu (information
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
4
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
retrieval). Phần ngôn ngữ DML liên quan đến sự tìm lại thông tin được gọi là
ngôn ngữ vấn tin (query language).
QUẢN TRỊ GIAO DỊCH
Thông thường, một số thao tác trên cơ sở dữ liệu tạo thành một đơn vị logic công việc. Ta
hãy xét ví dụ chuyển khoản, trong đó một số tiền x được chuyển từ tài khoản A ( A:=A-x )
sang một tài khoản B ( B:=B+x ). Một yếu tố cần thiết là cả hai thao tác này hoặc cùng xảy ra
hoặc không hoạt động nào xảy ra cả. Việc chuyển khoản phải xảy ra trong tính toàn thể của nó
hoặc không. Đòi hỏi toàn thể-hoặc-không này được gọi là tính nguyên tử (atomicity). Một yếu tố
cần thiết khác là sự thực hiện việc chuyển khoản bảo tồn tính nhất quán của cơ sở dữ liệu: giá trị
của tổng A + B phải được bảo tồn. Đòi hỏi về tính chính xác này được gọi là tính nhất
quán (consistency). Cuối cùng, sau khi thực hiện thành công hoạt động chuyển khoản, các giá trị
của các tài khoản A và B phải bền vững cho dù có thể có sự cố hệ thống. Đòi hỏi về tính bền
vững này được gọi là tính lâu bền (durability).
Một giao dịch là một tập các hoạt động thực hiện chỉ một chức năng logic trong một ứng
dụng cơ sở dữ liệu. Mỗi giao dịch là một đơn vị mang cả tính nguyên tử lẫn tính nhất quán. Như
vậy, các giao dịch phải không được vi phạm bất kỳ ràng buộc nhất quán nào: Nếu cơ sở dữ liệu là
nhất quán khi một giao dịch khởi động thì nó cũng phải là nhất quán khi giao dịch kết thúc
thành công. Tuy nhiên, trong khi đang thực hiện giao dịch, phải cho phép sự không nhất quán
tạm thời. Sự không nhất quán tạm thời này tuy là cần thiết nhưng lại có thể dẫn đến các khó khăn
nếu xảy ra sự cố.
Trách nhiệm của người lập trình là xác định đúng đắn các giao dịch sao cho mỗi một bảo
tồn tính nhất quán của cơ sở dữ liệu.
Đảm bảo tính nguyên tử và tính lâu bền là trách nhiệm của hệ cơ sở dữ liệu nói chung và
của thành phần quản trị giao dịch ( transaction-management component ) nói riêng. Nếu không
có sự cố, tất cả giao dịch hoàn tất thành công và tính nguyên tử được hoàn thành dễ dàng. Tuy
nhiên, do sự hiện diện của các sự cố, một giao dich có thể không hoàn tất thành công sự thực hiện
của nó. Nếu tính nguyên tử được đảm bảo, một giao dịch thất bại không gây hiệu quả đến trạng
thái của cơ sở dữ liệu. Như vậy, cơ sở dữ liệu phải được hoàn lại trạng thái của nó trước khi giao
dịch bắt đầu. Hệ cơ sở dữ liệu phải có trách nhiệm phát hiện sự cố hệ thống và trả lại cơ sở dữ
liệu về trạng thái trước khi xảy ra sự cố.
Khi một số giao dịch cạnh tranh cập nhật cơ sở dữ liệu, tính nhất quán của dữ liệu có
thể không được bảo tồn, ngay cả khi mỗi giao dịch là chính xác. Bộ quản trị điều khiển
cạnh tranh (concurency-control manager) có trách nhiệm điều khiển các trao đổi giữa các giao
dịch cạnh tranh để đảm bảo tính thống nhất của CSDL.
QUẢN TRỊ LƯU TRỮ
Các CSDL đòi hỏi một khối lượng lớn không gian lưu trữ, có thể lên đến nhiều
terabytes ( 1 terabyte=10
3
Gigabytes=10
6
Megabytes ). Các thông tin phải được lưu trữ trên lưu
trữ ngoài (đĩa). Dữ liệu được di chuyển giữa lưu trữ đĩa và bộ nhớ chính khi cần thiết. Do việc di
chuyển dữ liệu từ và lên đĩa tương đối chậm so với tốc độ của đơn vị xử lý trung tâm, điều này ép
buộc hệ CSDL phải cấu trúc dữ liệu sao cho tối ưu hóa nhu cầu di chuyển dữ liệu giữa đĩa và bộ
nhớ chính.
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
5
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Mục đích của một hệ CSDL là làm đơn giản và dễ dàng việc truy xuất dữ liệu. Người sử
dụng hệ thống có thể không cần quan tâm đến chi tiết vật lý của sự thực thi hệ thống. Phần lớn
họ chỉ quan đến hiệu năng của hệ thống (thời gian trả lời một câu vấn tin ).
Bộ quản trị lưu trữ ( storage manager ) là một module chương trình cung cấp giao diện
giữa dữ liệu mức thấp được lưu trữ trong CSDL với các chương trình ứng dụng và các câu vấn
tin được đệ trình cho hệ thống. Bộ quản trị lưu trữ có trách nhiệm trao đổi với bộ quản trị file
(file manager). Dữ liệu thô được lưu trữ trên đĩa sử dụng hệ thống file (file system), hệ thống này
thường được cung cấp bởi hệ điều hành. Bộ quản trị lưu trữ dịch các câu lệnh DML thành các
lệnh của hệ thống file mức thấp. Như vậy, bộ quản trị lưu trữ có nhiệm vụ lưu trữ, tìm lại và cập
nhật dữ liệu trong CSDL.
NHÀ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Một trong các lý do chính đối với việc sử dụng DBMS là có sự điều khiển trung tâm cho
cả dữ liệu lẫn các chương trình truy cập các dữ liệu này. Người điều khiển trung tâm trên toàn hệ
thống như vậy gọi là nhà quản trị cơ sở dữ liệu (DataBase Administrator - DBA). Các chức năng
của DBA như sau:
• Định nghĩa sơ đồ: DBA tạo ra sơ đồ CSDL gốc bằng cách viết một tập các định nghĩa
mà nó sẽ được dịch bởi trình biên dịch DDL thành một tập các bảng được lưu trữ
thường trực trong tự điển dữ liệu.
• Định nghĩa cấu trúc lưu trữ và phương pháp truy xuất: DBA tạo ra một cấu trúc lưu
trữ thích hợp và các phương pháp truy xuất bằng cách viết một tập hợp các định nghĩa
mà nó sẽ được dịch bởi trình biên dịch lưu trữ dữ liệu và ngôn ngữ định nghĩa dữ liệu.
• Sửa đổi sơ đồ và tổ chức vật lý
• Cấp quyền truy xuất dữ liệu: Việc cấp các dạng quyền truy cập khác nhau cho phép
DBA điều hoà những phần của CSDL mà nhiều người có thể truy xuất. Thông tin về
quyền được lưu giữ trong một cấu trúc hệ thống đặc biệt, nó được tham khảo bởi hệ
CSDL mỗi khi có sự truy xuất dữ liệu của hệ thống.
• Đặc tả ràng buộc toàn vẹn ( integrity-contraint ): Các giá trị dữ liệu được lưu trữ
trong CSDL phải thoả mãn một số các ràng buộc nhất quán nhất định. Ví dụ số giờ làm
việc của một nhân viên trong một tuần không thể vượt quá một giới hạn 80 giờ chẳng
hạn. Một ràng buộc như vậy phải được đặc tả một cách tường minh bởi DBA. Các ràng
buộc toàn vẹn được lưu giữ trong một cấu trúc hệ thống đặc biệt được tham khảo bởi hệ
CSDL mỗi khi có sự cập nhật dữ liệu.
NGƯỜI SỬ DỤNG CSDL
Mục đích đầu tiên của hệ CSDL là cung cấp một môi trường để tìm lại thông tin và lưu
thông tin trong CSDL. Các người sử dụng cơ sở dữ liệu được phân thành bốn nhóm tuỳ theo cách
thức họ trao đổi với hệ thống.
• Các người lập trình ứng dụng: Là nhà chuyên môn máy tính người trao đổi với hệ
thống thông qua các lời gọi DML được nhúng trong một chương trình được viết trong
một ngôn ngữ chủ - host language (Pascal, C, Cobol ). Các chương trình này thường
được tham khảo như các chương trình ứng dụng. Vì cú pháp DML thường rất khác với
cú pháp của ngôn ngữ chủ, các lời gọi DML thường được bắt đầu bởi một ký tự đặc biệt
như vậy mã thích hợp mới có thể được sinh. Một bộ tiền xử lý đặc biệt, được gọi là tiền
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
6
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
biên dịch (precompiler) DML, chuyển các lệnh DML thành các lời gọi thủ tục chuẩn
trong ngôn ngữ chủ. Bộ biên dịch ngôn ngữ chủ sẽ sinh mã đối tượng thích hợp. Có
những ngôn ngữ lập trình phối hợp cấu trúc điều khiển của các ngôn ngữ giống như
Pascal với cấu trúc điều khiển để thao tác đối tượng CSDL. Các ngôn ngữ này (đôi khi
được gọi là ngôn ngữ thế hệ thứ tư) thường bao gồm các đặc điểm đặc biệt để làm dễ
dàng việc sinh các dạng và hiển thị dữ liệu trên màn hình.
• Các người sử dụng thành thạo ( Sophisticated users ): Trao đổi với hệ thống không
qua viết trình. Thay vào đó họ đặt ra các yêu cầu của họ trong ngôn ngữ truy vấn
CSDL ( Database query language ). Mỗi câu vấn tin như vậy được đệ trình cho bộ xử lý
vấn tin, chức năng của bộ xử lý vấn tin là "dịch" các lệnh DML thành các chỉ thị mà bộ
quản trị lưu trữ hiểu. Các nhà phân tích đệ trình các câu vấn tin thăm dò dữ liệu trong cơ
sở dữ liệu thuộc vào phạm trù này.
• Các người sử dụng chuyên biệt ( Specialized users ): Là các người sử dụng thành
thạo, họ viết các ứng dụng CSDL chuyên biệt không nằm trong khung xử lý dữ liệu
truyền thống. Trong đó, phải kể đến các hệ thống thiết kế được trợ giúp bởi máy tính
(computer-aided design systems), Cơ sở tri thức (knowledge-base) và hệ chuyên gia
(expert systems), các hệ thống lưu trữ dữ liệu với kiểu dữ liệu phức tạp (dữ liệu đồ họa,
hình ảnh, âm thanh) và các hệ thống mô hình môi trường (environment-modeling
systems)
• Các người sử dụng ngây thơ ( Naive users ): là các người sử dụng không thành thạo,
họ trao đổi với hệ thống bởi cầu dẫn một trong các chương trình ứng dụng thường trực
đã được viết sẵn.
CẤU TRÚC HỆ THỐNG TỔNG THỂ
Một hệ CSDL được phân thành các module, mỗi một thực hiện một trách nhiệm trong hệ
thống tổng thể. Một số chức năng của hệ CSDL có thể được cung cấp bởi hệ điều hành. Trong hầu
hết các trường hợp, hệ điều hành chỉ cung cấp các dịch vụ cơ sở nhất, hệ CSDL phải xây dựng
trên cơ sở đó. Như vậy, thiết kế hệ CSDL phải xem xét đến giao diện giữa hệ CSDL và hệ điều
hành.
Các thành phần chức năng của hệ CSDL có thể được chia thành các thành phần xử lý vấn tin
(query processor components) và các thành phần quản trị lưu trữ (storage manager components ).
Các thành phần xử lý vấn tin gồm:
• Trình biên dịch DML ( DML compiler ): dịch các lệnh DML trong một ngôn ngữ vấn
tin thành các chỉ thị mức thấp mà engine định giá vấn tin ( query evaluation engine ) có
thể hiểu. Hơn nữa, Trình biên dịch DML phải biến đổi một yêu cầu của người sử dụng
thành một đích tương đương nhưng ở dạng hiệu quả hơn có nghĩa là tìm một chiến lược
tốt để thực hiện câu vấn tin.
• Trình tiền biên dịch DML nhúng ( Embedded DML Precompiler ): biến đổi các lệnh
DML được nhúng trong một chương trình ứng dụng thành các lời gọi thủ tục chuẩn
trong ngôn ngữ chủ. Trình tiền biên dịch phải trao đổi với trình biên dịch DML để sinh
mã thích hợp.
• Bộ thông dịch DDL ( DDL interpreter ): thông dịch các lệnh DDL và ghi chúng vào
một tập hợp các bảng chứa metadata.
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
7
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
• Engine định giá vấn tin ( Query evaluation engine ): Thực hiện các chỉ thị mức thấp
được sinh ra bởi trình biên dịch DML.
Các thành phần quản trị lưu trữ cung cấp các giao diện giữa dữ liệu mức thấp được lưu trữ
trong CSDL và các chương trình ứng dụng, các vấn tin được đệ trình cho hệ thống. Các
thành phần quản trị lưu trữ gồm:
• Bộ quản trị quyền và tính toàn vẹn ( Authorization and integrity manager ): kiểm tra
sự thoả mãn các ràng buộc toàn vẹn và kiểm tra quyền truy xuất dữ liệu của người sử
dụng.
• Bộ quản trị giao dịch ( Transaction manager ): Đảm bảo rằng CSDL được duy trì
trong trạng thái nhất quán cho dù hệ thống có sự cố và đảm bảo rằng các thực hiện giao
dịch cạnh tranh tiến triển không xung đột.
• Bộ quản trị file ( File manager ): Quản trị cấp phát không gian trên lưu trữ đĩa và các
cấu trúc dữ liệu được dùng để biểu diễn thông tin được lưu trữ trên đĩa.
• Bộ quản trị bộ đệm ( Buffer manager ): có trách nhiệm đem dữ liệu từ lưu trữ đĩa
vào bộ nhớ chính và quyết định dữ liệu nào trữ trong bộ nhớ.
Hơn nữa, một số cấu trúc dữ liệu được cần đến như bộ phận của sự thực thi hệ thống vật lý:
• Các file dữ liệu: Lưu trữ CSDL
• Tự điển dữ liệu ( Data Dictionary ): lưu metadata về cấu trúc CSDL.
• Chỉ mục ( Indices ): cung cấp truy xuất nhanh đến các hạng mục dữ liệu chứa các giá
trị tìm kiếm.
• Dữ liệu thống kê ( Statistical data ): lưu trữ thông tin thống kê về dữ liệu trong cơ sở
dữ liệu. Thông tin này được dùng bởi bộ xử lý vấn tin để chọn những phương pháp hiệu
quả thực hiện câu vấn tin.
Sơ đồ các thành phần và các nối kết giữa chúng
Naive users A


pplication programmer Sophisticated users Database administrator


application application query database
interfaces programs scheme



embedded DML DDL

DML compiler interpreter

precompiler
application
programs

object code

query
evaluation
engine

Query processor
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
8
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU


transaction buffer authorization and
manager manager integrity manager




file manager

storage manager












Figure 2
KIẾN TRÚC HỆ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Kiến trúc hệ CSDL bị ảnh hưởng nhiều bởi hệ thống máy nền. Các sắc thái của kiến trúc
máy như mạng, song song và phân tán được phản ánh trong kiến trúc của hệ CSDL.
• Mạng máy tính cho phép thực hiện một số công việc trên một hệ thống các server, một
số công việc trên các hệ thống client. Việc phân chia công việc này dẫn đến sự phát triển
hệ CSDL client-server.
• Xử lý song song trong một hệ thống máy tính làm tăng tốc độ các hoạt động của hệ
CSDL, trả lời các giao dịch nhanh hơn. Các vấn tin được xử lý theo cách khai thác tính
song song. Sự cần thiết xử lý vấn tin song song này dẫn tới sự phát triển của hệ CSDL
song song.
• Dữ liệu phân tán trên các site hoặc trên các bộ phận trong một cơ quan cho phép các
dữ liệu thường trú tại nơi chúng được sinh ra nhưng vẫn có thể truy xuất chúng từ các
site khác hay các bộ phận khác. Việc lưu nhiều bản sao của CSDL trên các site khác
nhau cho phép các tổ chức lớn vẫn có thể tiếp tục hoạt động khi một hay một vài site bị
sự cố. Hệ CSDL phân tán được phát triển để quản lý dữ liệu phân tán, trên phương diện
địa lý hay quản trị, trải rộng trên nhiều hệ CSDL .
HỆ THỐNG TẬP TRUNG
Các hệ CSDL tập trung chạy trên máy đơn và không trao đổi với các máy khác. Các hệ
thống như vậy trải từ các hệ CSDL một người sử dụng chạy trên các máy cá nhân (PC) đến các hệ
CSDL hiệu năng cao chạy trên các hệ mainframe. Một hệ máy tính mục đích chung hiện đại gồm
một hoặc một vài CPU và một số bộ điều khiển thiết bị được nối với nhau thông qua một bus
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
9
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
chung, cho phép truy xuất đến bộ nhớ chia sẻ. CPU có bộ nhớ cache cục bộ lưu các bản sao của
một số phần của bộ nhớ chính nhằm tăng tốc độ truy xuất dữ liệu. Mỗi bộ điều khiển thiết bị phụ
trách một kiểu thiết bị xác định. Các CPU và các bộ điều khiển thiết bị có thể thực hiện đồng thời,
canh tranh truy cập bộ nhớ. Bộ nhớ cache giúp làm giảm sự tranh chấp truy xuất bộ nhớ. Ta phân
biệt hai cách các máy tính được sử dụng: Hệ thống một người dùng và hệ thống nhiều người
dùng. Hệ CSDL được thiết kế cho hệ thống một người dùng không hỗ trợ điều khiển cạnh tranh,
chức năng phục hồi hoặc là thiếu hoặc chỉ là một sự chép dự phòng đơn giản.
HỆ THỐNG CLIENT-SERVER
Các máy tính cá nhân ( PC ) ngày càng trở nên mạnh hơn, nhanh hơn, và rẻ hơn. Có sự
chuyển dịch trong hệ thống tập trung. Các đầu cuối (terminal) được nối với hệ thống tập trung
bây giờ được thế chỗ bởi các máy tính cá nhân. Chức năng giao diện người dùng (user interface)
thường được quản lý trực tiếp bởi các hệ thống tập trung nay được quản lý bởi các máy tính cá
nhân. Như vậy, các hệ thống tập trung ngày nay hoạt động như các hệ thống server nó làm thoả
mãn các đòi hỏi của các client. Chức năng CSDL có thể được chia thành hai phần: phần trước
(front-end) và phần sau (back-end). Phần sau quản trị truy xuất cấu trúc, định giá câu vấn tin và
tối ưu hoá, điều khiển sự xảy ra đồng thời và phục hồi. Phần trước của hệ CSDL gồm các công
cụ như: tạo mẫu (form), các bộ soạn báo cáo (report writer), giao diện đồ hoạ người dùng
(graphical user interface). Giao diện giữa phần trước và phần sau thông qua SQL hoặc một
chương trình ứng dụng. Các hệ thống server có thể được phân thành các phạm trù : server giao
dịch (transaction server), server dữ liệu (data server).





Network
Client Client Client Client
Server


Figure 3

• Hệ thống server giao dịch (transaction-server systems): còn được gọi là hệ thống
server vấn tin (query-server system), cung cấp một giao diện mà các client có thể gửi
đến nó các yêu cầu thực hiện một hành động. Để đáp ứng các yêu cầu, hệ thống thực
hiện các hành động và gửi lại client các kết quả. Các người sử dụng có thể đặc tả các
yêu cầu trong SQL hoặc trong một giao diện trình ứng dụng sử dụng một cơ chế gọi thủ
tục xa ( remote-procedure-call ).
o Các servers giao dịch ( Transaction servers ): Trong các hệ thống tập trung,
phần trước (front-end) và phần sau (back-end) được thực hiện trong một hệ
thống. Kiến trúc server giao dịch cho phép chia chức năng giữa phần trước và
phần sau. Chức năng phần trước được hỗ trợ trên các máy tính cá nhân (PC).
Các PC hành động như những khách hàng của các hệ thống server nơi lưu trữ
một khối lượng lớn dữ liệu và hỗ trợ các chức năng phần sau. Các clients gửi
các giao dịch đến các hệ thống server tại đó các giao dịch được thực hiện và
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
10
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
các kết quả được gửi trả lại cho các clients, người giữ trách nhiệm hiển thị dữ
liệu.
ODBC ( Open DataBase Connectivity ) được phát triển để tạo giao diện
giữa các clients và các servers. ODBC là một giao diện trình ứng dụng cho
phép các clients sinh ra các lệnh SQL và gửi đến một server tại đó lệnh được
thực hiện. Bất kỳ client nào sử dụng giao diện có thể nối với bất kỳ một server
nào cung cấp giao diện này.
Các giao diện client-server khác ODBC cũng được sử dụng trong một số
hệ thống xử lý giao dịch. Chúng được xác định bởi một giao diện lập trình ứng
dụng, sử dụng nó các clients tạo ra các lời gọi thủ tục giao dịch từ xa
( transactional remote procedure calls ) trên server. Các lời gọi này giống như
các lời gọi thủ tục gốc đối với người lập trình nhưng tất cả các lời gọi thủ tục từ
xa của một client được bao trong một giao dịch ở server cuối. Như vậy nếu
giao dịch bỏ dở, server có thể huỷ bỏ hiệu quả của các lời gọi thủ tục xa riêng
lẻ.
• Hệ thống server dữ liệu ( Data-server systems ): cho phép các clients trao đổi với các
server bằng cách tạo ra các yêu cầu đọc hoặc cập nhật dữ liệu trong các đơn vị như file
hoặc trang. Ví dụ, các file-servers cung cấp một giao diện với hệ thống file tại đó các
clients có thể tạo, cập nhật, đọc hoặc xoá files. Các servers dữ liệu của cơ sở dữ liệu
cung cấp nhiều chức năng hơn; chúng hỗ trợ các đơn vị dữ liệu nhỏ hơn file như trang,
bộ ( tuple ) hoặc đối tượng. Chúng cũng cung cấp phương tiện dễ dàng để lấy chỉ mục
(indexing) dữ liệu, phương tiện dễ dàng để tạo giao dịch.
o Các server dữ liệu (Data Servers): Các hệ thống server dữ liệu được sử dụng
trong các mạng cục bộ, trong đó có một nối kết tốc độ cao giữa các máy clients
và máy server, các máy clients có sức mạnh xử lý tương thích với máy server
và các công việc phải được thực hiện là tăng cường tính toán. Trong một môi
trường như vậy, có thể gửi dữ liệu đến các máy client để thực hiện tất cả các xử
lý tại máy clients sau đó gửi dữ liệu trở lại đến máy server. Kiến trúc này đòi
hỏi các tính năng back-end đầy đủ tại các clients. Kiến trúc server dữ liệu
thường được gặp trong các hệ CSDL hướng đối tượng (Object-Oriented
DataBase Systems)
Gửi trang đối lại với gửi hạng mục (Page shipping versus item shipping):
Đơn vị liên lạc dữ liệu có thể là các "hạt thô" (Coarse granularity) như một
trang, hay hạt min (fine granularity) như một bộ (tuple)/ đối tượng (object).
Ta dùng thuật ngữ hạng mục để chỉ bộ hay đối tượng. Nếu đơn vị liên lạc là
một hạng mục sẽ dẫn đến tổng chi phí truyền thông điệp tăng. Đem về hạng
mục (fetching item) trước khi nó được yêu cầu, được gọi là đem về trước
(Prefetching). Gửi trang có thể được xem như một dạng của đem về trước nếu
một trang chứa nhiều hạng mục.
Chốt (Locking): Các chốt thường được cấp bởi server trên các hạng mục mà
nó gửi cho các máy clients. Khi client giữ một chốt trên một hạng mục dữ liệu,
nó có quyền “sử dụng” hạng mục dữ liệu này, hơn nữa trong khoảng thời gian
client giữ chốt trên hạng mục dữ liệu không một client nào khác có thể sử dụng
hạng mục dữ liệu này. Bất lợi của gửi trang là các máy client có thể được cấp
các chốt "hạt quá thô" một chốt trên một trang ẩn chứa các chốt trên tất cả
các hạng mục trong trang. Các kỹ thuật nhằm tiết giảm chốt (lock deescalation)
được đề nghị, trong đó server có thể yêu cầu các clients truyền trả lại các chốt
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
11
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
trên các hạng mục cấp phát trước. Nếu máy client không cần hạng mục cấp
phát trước, nó có thể truyền trả lại các chốt trên hạng mục cho server và các
chốt này có thể được cấp phát cho các clients khác.
Trữ dữ liệu (Data caching): Dữ liệu được gửi đến một client với danh nghĩa
một giao dịch có thể được trữ ở client, ngay cả khi giao dịch đã hoàn tất, nếu
không gian lưu trữ có sẵn. Các giao dịch liên tiếp tại cùng một client có thể
dùng dữ liệu được trữ. Tuy nhiên, sự kết dính dữ liệu là một vấn đề cần phải
được xem xét: một giao dịch tìm thấy dữ liệu được trữ, nó phải chắc chắn rằng
dữ liệu này là "mới nhất" vì các dữ liệu này có thể được cập nhật bởi một client
khác sau khi chúng được trữ. Như vậy, vẫn phải trao đổi với server để kiểm tra
tính hợp lệ của dữ liệu và để giành được một chốt trên dữ liệu.
Trữ chốt (Lock caching): Các chốt cũng có thể được trữ lại tại máy client.
Nếu một hạng mục dữ liệu được tìm thấy trong cache và chốt yêu cầu cho một
truy xuất đến hạng mục dữ liệu này cũng tìm thấy trong cache, thì việc truy
xuất có thể tiến hành không cần một liên lạc nào với server. Tuy nhiên, server
cũng phải lưu lại vết của các chốt được trữ. Nếu một client đòi hỏi một chốt từ
server, server phải gọi lại tất cả các chốt xung đột trên cùng hạng mục dữ liệu
từ tất cả các máy clients đã trữ các chốt.






SQL
user-interface
Form
interface
Report writer
Graphical
interface
SQL engine
Phần trước
(front-end)
Phần sau
(Back-end)
interface(SQL&API)
Figure 4
CÁC HỆ SONG SONG (Parallel Systems):
Các hệ song song cải tiến tốc độ xử lý và tốc độ I/O bằng cách sử dụng nhiều CPU và
nhiều đĩa song song. Trong xử lý song song, nhiều hoạt động được thực hiện đồng thời. Một
máy song song "hạt thô" (coarse-grain) gồm một số nhỏ các bộ xử lý mạnh. Một máy song
song đồ sộ (massively parallel) hay "hạt mịn" (fine-grain) sử dụng hàng ngàn bộ xử lý nhỏ hơn.
Có hai biện pháp chính để đánh giá hiệu năng của một hệ CSDL. Thứ nhất là năng lực truyền qua
(throughput): số công việc có thể được hoàn tất trong một khoảng thời gian đã cho. Thứ hai là
thời gian đáp ứng (response time): lượng thời gian cần thiết để hoàn thành một công việc từ lúc
nó được đệ trình. Một hệ thống xử lý một lượng lớn các giao dịch nhỏ có thể cải tiến năng lực
truyền qua bởi xử lý song song nhiều giao dịch. Một hệ thống xử lý các giao dịch lớn có thể cải
tiến thời gian đáp ứng cũng như năng lực truyền qua bởi thực hiện song song các công việc con
(subtask) của mỗi giao dịch.
• Tăng tốc độ và tăng quy mô (Speedup & Scaleup): Tăng tốc độ ám chỉ việc chạy
một công việc đã cho trong thời gian ngắn hơn bằng cách tăng bậc song song. Tăng quy
mô ám chỉ việc quản lý các công việc lớn bằng cách tăng bậc song song. Chúng ta hãy
xét một ứng dụng CSDL chạy trên một hệ thống song song với một số processor và một
số đĩa. Giả sử, chúng ta tăng kích cỡ của hệ thống bằng cách tăng số processor, đĩa, và
các thành phần khác của hệ thống. Mục đích là xử lý công việc trong thời gian tỷ lệ
nghịch với số processor và đĩa được cấp phát.
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
12
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Giả sử, thời gian thực hiện một công việc trên một máy tính lớn là T
L
, thời gian thực
hiện cùng công việc này trên máy tính nhỏ là T
S
. Tăng tốc độ nhờ song song được định
nghĩa là tỷ số T
S
/T
L
, hệ thống song song được gọi là tăng tốc độ tuyến tính nếu tốc độ
tăng là N khi hệ thống lớn có N lần tài nguyên (CPU, đĩa ) lớn hơn hệ thống nhỏ.
Nếu tốc độ tăng nhỏ hơn N, hệ thống được gọi là tăng tốc độ hạ tuyến tính (sublinear).
Tăng quy mô liên quan đến khả năng xử lý các công việc lớn trong trong cùng một
lượng thời gian bằng cách cung cấp thêm tài nguyên. Giả sử, Q là một công việc, Q
N

một công việc N lần lớn hơn Q. Giả sử thời gian thực hiện công việc Q trên một máy M
S

là T
S
và thời gian thực hiện công việc Q
N
trên một máy song song M
L
, N lần lớn hơn M
S
,
là T
L
. Tăng quy mô được định nghĩa là T
S
/T
L
. Hệ song song M
L
được gọi là tăng quy
mô tuyến tính trên công việc Q nếu T
S
= T
L
. Nếu T
L
> T
S
, hệ thống được gọi là tăng quy
mô hạ tuyến tính. Tăng quy mô là một độ đo (metric) quan trọng hơn trong đo lường
hiệu quả của các hệ CSDL song song. Đích của song song trong các hệ CSDL là đảm
bảo hệ CSDL có thể tiếp tục thực hiện ở một tốc độ chấp nhận được, ngay cả khi kích cỡ
của CSDL và số giao dịch tăng lên. Tăng khả năng của hệ thống bằng cách tăng sự song
song cung cấp một con đường thuận tiện hơn cho sự phát triển hơn là thay thế một hệ tập
trung bởi một máy nhanh hơn. Một số nhân tố ảnh hưởng xấu đến tính hiệu quả của hoạt
động song song và có thể làm giảm cả tăng tốc độ và tăng quy mô là:
o Chi phí khởi động ( Startup Costs ): Có một chi phí khởi động kết hợp với sự khởi
động một xử lý. Trong một hoạt động song song gồm hàng ngàn xử lý, thời gian
khởi động (Startup time) có thể làm lu mờ thời gian xử lý hiện tại, ảnh hưởng bất
lợi tới tăng tốc độ.
o Sự giao thoa ( Interference ): Các xử lý thực hiện trong một hệ song song thường
truy nhập đến các tài nguyên chia sẻ, một sự giao thoa của mỗi xử lý mới khi nó
cạnh tranh với các xử lý đang tồn tại trên các tài nguyên bị chiếm như bus hệ
thống, đĩa chia sẻ, thậm chí cả đồng hồ. Hiện tượng này ảnh hướng đến cả tăng tốc
độ lẫn tăng quy mô.
o Sự lệch ( Skew ): Bằng cách chia một công việc thành các bước song song, ta làm
giảm kích cỡ của bước trung bình. Tuy nhiên, thời gian phục vụ cho bước chậm
nhất sẽ xác định thời gian phục vụ cho toàn bộ công việc. Thường khó có thể chia
một công việc thành các phần cùng kích cỡ, như vậy cách mà kích cỡ được phân
phối là bị lệch. Ví dụ: một công việc có kích cỡ 100 được chia thành 10 phần và sự
phân chia này bị lệch, có thể có một số phần có kích cỡ nhỏ hơn 10 và một số
nhiệm vụ có kích cỡ lớn hơn 10, giả sử trong đó có phần kích cỡ 20, độ tăng tốc
nhận được bởi chạy các công việc song song chỉ là 5, thay vì 10.
• Các mạng hợp nhất (Interconnection Network): Các hệ thống song song gồm một
tập hợp các thành phần ( Processors, memory và các đĩa ) có thể liên lạc với nhau thông
qua một mạng hợp nhất. Các ví dụ về các mạng hợp nhất là:
o Bus: Toàn bộ các thành phần hệ thống có thể gửi và nhận dữ liệu qua một bus liên
lạc. Các kiến trúc bus làm việc tốt với một số nhỏ các processor. Tuy nhiên, chúng
không có cùng quy mô khi tăng sự song song vì bus chỉ điều khiển liên lạc từ chỉ
một thành phần tại một thời điểm.




CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
13
bus
P P P P P
M
M
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU

Figure 5

o Lưới ( Mesh): Các thành phần được sắp xếp như các nút của một lưới, mỗi thành
phần được nối với tất cả các thành phần kề với nó trong lưới. Trong một lưới hai
chiều mỗi nút được nối với 4 nút kề.















o Siêu lập phương ( Hypercube ): Các thành phần được đánh số theo nhị phân, một
thành phần được nối với thành phần khác nếu biểu diễn nhị nhân số của chúng sai
khác nhau đúng một bit. Như vậy, mỗi một thành phần trong n thành phần được
nối với log(n) thành phần khác. Có thể kiểm nghiệm được rằng trong một sự hợp
nhất siêu lập phương một thông điệp từ một thành phần đến một thành phần khác
đi quá nhiều nhất log(n) nối kết, còn trong lưới là 1−n
• Các kiến trúc cơ sở dữ liệu song song: Có một vài mô hình kiến trúc cho các máy
song song:
( Ký hiệu: = processor, = Memory, = đĩa )
o Bộ nhớ chia sẻ ( Shared memory ): Tất cảc các processor chia sẻ một bộ nhớ
chung. Trong mô hình này các processor và các đĩa truy xuất một bộ nhớ chung,
thường thông qua một bus hoặc một mạng hợp nhất. Thuận lợi của chia sẻ bộ nhớ
là liên lạc giữa các processor là cực kỳ hiệu quả: dữ liệu trong bộ nhớ chia sẻ có
thể được truy xuất bởi bất kỳ processor nào mà không phải di chuyển bởi phần
mềm. Một processor có thể gửi thông điệp cho một processor khác bằng cách viết
vào bộ nhớ chia sẻ, cách liên lạc này nhanh hơn nhiều so với các liên lạc khác. Tuy
nhiên, các máy bộ nhớ chia sẻ không thể hỗ trợ nhiều hơn 64 processor vì nếu
nhiều hơn, bus hoặc mạng hợp nhất sẽ trở nên dễ bị nghẽn ( bottle-neck ).
Kiến trúc bộ nhớ chia sẻ thường có những cache lớn cho mỗi processor, như vậy
việc tham khảo bộ nhớ chia sẻ có thể tránh được mỗi khi có thể.
P
M


P P P P
P P P
P
P
P P P
P P P P

mạng hợp nhất hình lưới


P
0 1

P

Siêu lập phương một chiều


P

10

11

P





P

00

01

P

Siêu lập phương hai chiều


P

101


P

111


P

100


P

110


P

001


P

011


P

000


P

010
Siêu lập phương ba chiều
Figure 6
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU
Trang
14

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán lưu chuyển hàng hóa nhập khẩu tại công ty xuất nhập khẩu xi măng

Công tác quản lý luôn đợc hoàn thiện theo hớng phù hợp với quy chế
quản lý của Nhà nớc, quy chế của Tổng công ty xi măng Việt Nam nhất là
trong việc quản lý tài chính và xuất nhập khẩu. Đồng thời phải đảm bảo các
hợp đồng thơng mại phù hợp với thông lệ quốc tế. Công ty luôn thực hiện đầy
đủ và kịp thời trách nhiệm với Nhà nớc nhất là về thuế và trái phiếu do Ngành,
Nhà nớc huy động. Công ty luôn xác định lấy công tác kế toán tài chính làm
trọng tâm, thờng xuyên phân tích hợp đồng kinh tế để rút ra các bài học kinh
nghiệm.
2.Tình hình và kết quả kinh doanh của công ty.
Công ty xuất nhập khẩu xi măng ngày một hoàn thiện về cơ cấu tổ chức,
hoạt động ngày càng đi vào ổn định làm ăn có hiệu quả. Đặc biệt trong những
năm vừa qua với sự cố gắng nỗ lực của cán bộ công nhân viên đã góp phần
giúp cho việc bình ổn thị trờng xi măng trong nớc và phát triển ngành xi măng
ngày một tốt hơn.
Điều này thể hiện rất rõ nét qua việc công ty luôn luôn hoàn thành kế
hoạch và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nớc.
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Năm 2002-2003
Phần I: Lãi (lỗ) (Đơn vị tính: VND)
SốTT Chỉ tiêu Năm 2002 Năm 2003
Chênh lệch
Số tiền Tỷ lệ
(%)
1 2 3 4=3-2 5
Tổng
doanh
thu
trong đó:
DT hàng
xuất khẩu
245.121.867.30
7
0
0
449.614.278.21
0
0
0
204.492.410.90
3
183
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
5
Các
khoản
giảm trừ
1 Doanh thu
thuần
245.121.867.30
7
449.614.278.21
0
204.492.410.90
3
183
2 Giá vốn
hàng bán
236.369.842.88
3
434.125.228.54
2
197.755.385.65
9
186
3 Lợi nhuận
gộp
7.642.024.424 15.489.049.668 6.737.025.244 177
4 Chi phí
bán hàng
1.914.401.799 9.195.904.509 7.281.502.710 480
5 Chi phí
quản lý
doanh
nghiệp
4.779.955.177 5.897.536.574 1.117.581.397 123
6 Lợi nhuận
thuần từ
hoạt động
KD
2.057.667.448 395.608.585 (1.662.058.863) 19
7 Thu nhập
từ hoạt
động tài
chính
1.950.201.900 2.004.191.844 53.989.944 102,8
8 Chi phí
hoạt động
tài chính
314.818.852 719.551.506 404.732.654 228,2
9 Lợi nhuận
từ hoạt
động tài
chính
1.635.383.048 1.284.640.338 (350.742.710) 78,55
10 Các
khoản thu
nhập bất
thờng
1.851.443.131 1.000.610.409 (850.832.722) 54
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
6
11 Chi phí
bất thờng
47.692.250 33.376.445 (14.315.805) 70
12 Lợi nhuận
bất thờng
1.803.750.881 967.233.964 (836.516.917) 53,6
13 Tổng lợi
nhuận tr-
ớc thuế
Các
khoản chi
phí không
tính vào
3.861.418.329
390.483.051
1.362.842.549
619.999.999
(2.498.575.780) 35,29
14 Thuế thu
nhập
doanh
nghiệp
phải nộp
1.235.653.865 436.109.616 (799.544.249) 35,29
15 Lợi nhuận
sau thuế
2.625.764.464 926.732.933 (1.699.031.529) 35,29
Ghi chú:
Lợi nhuận không chịu thuế là lãi cổ phiếu trái phiếu của công ty
Các khoản chi phí không đợc tính vào lợi nhuận trớc thuế là các khoản
chi vợt trội trên tổng chi phí (thờng 7%) theo quy định của Bộ tài chính.
Qua những số liệu trên cho ta thấy rõ tình hình hoạt động kinh doanh
của công ty trong 2 năm gần đây. Các chỉ tiêu về doanh thu thuần, tổng lợi
nhuận trớc thuế và lợi nhuận sau thuế ở mức ổn định. Doanh số của công ty
ngày một tăng cao
Cụ thể là:
Tỷ trọng về doanh thu thuần của năm 2003 so với năm 2002 tăng là:
449.614.278.210
245.121.867.307
= 183 %
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
7
Tơng ứng là 204.492.410.900 (đ), việc tăng doanh thu này là do công ty
đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất cũng nh việc mở rộng
thị trờng. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế của công ty đã giảm đáng kể cụ thể là
lợi nhuận năm 2003 đã giảm so với năm 2002 là 1.699.031.529 (đ) tơng ứng là
35,29%. Việc giảm lợi nhuận này nguyên nhân là do giá cả của thị trờng có
nhiều biến động, cũng nh các chi phí cho hoạt động nhập khẩu của công ty
ngày một tăng cao.
Nhìn chung là tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
năm 2003 là đi theo chiều hớng tơng đối tốt. Mặc dù so với những năm trớc thì
vẫn cha đợc cao.
. Chiến lợc phát triển của công ty trong những năm tới
Ngoài những thuận lợi căn bản của một doanh nghiệp nhà nớc (nh
những u đãi về vốn ngân sách cấp, đợc sự hỗ trợ của Tổng công ty ) Công ty
cũng gặp không ít khó khăn do yêu cầu ngày càng cao đối với hàng nhập khẩu,
đòi hỏi Công ty xuất nhập khẩu xi măng phải phấn đấu đổi mới không những
để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất mà còn phải cải tiến và nâng cao chất lợng
dịch vụ sau bán hàng. ngoài ra các mặt hàng nhập khẩu của Công ty còn chịu
tác động của tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền Việt Nam và các đồng tiền thanh
toán (thờng là đồng đô la - USD). Nếu tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và VNĐ biến
động tăng sẽ ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh hàng nhập khẩu của
công ty. Bên cạnh đó nguồn ngoại tệ ở các ngân hàng cũng hạn chế đã gây
không ít khó khăn cho công ty trong việc mua ngoại tệ để trả nợ ngời bán bên
nớc ngoài.
Thấy đợc những thuận lợi và khó khăn đó, Công ty xuất nhập khẩu xi
măng đã đa ra những biện pháp nhằm tháo gỡ khó khăn, từng bớc cải tiến cách
nghĩ cách làm, nên cơ bản đã hoàn thành đợc các chỉ tiêu đề ra của năm 2003.
Đồng thời đa ra các định hớng phát triển tiếp theo cho công ty trong những
năm tới để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Các mục tiêu cụ thể nh: Phấn đấu
tạo thêm việc làm đảm bảo doanh thu, lợi nhuận, đảm bảo nghĩa vụ nộp ngân
sách, các khoản trích nộp theo Luật định và nâng cao đời sống CBCNV; tập
trung chỉ đạo thực hiện đầy đủ trách nhiệm với các công trình đầu t phát triển
đang triển khai nh công trình dự án xi măng Hải Phòng mới, dự án nhà máy
sản xuất vỏ bao Đà Nẵng và các công trình đang thực hiện các thủ tục xin
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
8
phép đầu t; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Tổng công ty và các đơn vị
khác trong ngành xi măng để nắm rõ những đòi hỏi, những yêu cầu và cụ thể
là nhu cầu về mặt hàng mình cung cấp; tạo uy tín vững chắc cho bạn hàng
trong và ngoài nớc
II. Chức năng và nhiệm vụ
Công ty xuất nhập khẩu xi măng có chức năng kinh doanh chủ yếu là:
Nhập khẩu xi măng, clinker, tấm lợp và thiết bị phụ tùng vật t cho ngành sản
xuất xi măng.
Theo quyết định của Bộ trởng Bộ xây dựng, công ty có 7 nhiệm vụ và
quyền hạn chính sau:
- Thực hiện chức năng kinh tế đối ngoại của Tổng Công ty xi măng.
- Nghiên cứu điều tra tìm hiểu thị trờng trong và ngoài nớc để xây dựng
kế hoạch xuất nhập khẩu hàng năm và dài hạn nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu
sản xuất kinh doanh và tiêu thụ của các đơn vị trong Tổng Công ty xi măng.
- Tìm hiểu xu hớng phát triển ngành xi măng của các nớc trên thế giới,
khả năng hợp tác đầu t với nớc ngoài, khả năng nhập khẩu vật t phụ tùng thiết
bị lẻ chuyên ngành và khả năng xuất khẩu sản phẩm ra thị trờng thế giới.
- Thu thập và phổ biến thông tin kinh tế kỹ thuật, thị trờng giá cả trên
thế giới cho các đơn vị thành viên trong Tổng Công ty để tiếp cận với thị tròng
thế giới.
- Chịu trách nhiệm quản lý tập trung quỹ ngoại tệ của toàn Tổng công ty
dể thanh toán và sử dụng có hiệu quả theo kế hoạch đã đợc cấp trên phê duyệt.
Tuân thủ đúng các chế độ chính sách về quản lý kinh tế, tài chính, xuất nhập
khẩu và các quy chế giao dịch đối ngoại của Bộ, Nhà nớc quy định.
Đợc vay vốn tiền Việt Nam và ngoại tệ tại Ngân hàng Việt Nam và nớc
ngoài, đợc phép huy động vốn của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nớc theo
hớng dẫn chung của Nhà nớc để phục vụ cho sản xuất kinh doanh phát triển
ngành trên nguyên tắc tự chịu trách nhiệm trang trải vốn vay.
- Thực hiện các cam kết trong hợp tác quốc tế thông qua hợp đồng thơng
mại thờng xuyên bồi dỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ nhân viên
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nớc.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
9
- Công ty thực hiện các nghiệp vụ kinh tế đối ngoại và kinh doanh xuất
nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng đã đợc Bộ ngoại thơng nay là Bộ Thơng mại
thoả thuận tại công văn số 1387/HĐBT - TCCB ngày 12/5/1988.
Đợc trực tiếp quan hệ với các tổ chức kinh tế và thơng nhân nớc ngoài
để ký các hợp đồng kinh tế, tiến hành các hợp đồng mua - bán, hợp tác đầu t.
Đợc cử cán bộ tham gia hội thảo, hội chợ, đợc trao đổi thông tin kinh tế kỹ
thuật của các ngành công nghiệp xi măng theo các quy định tiến hành của Bộ,
Nhà nớc và luật Quốc tế.
III. Đặc điểm hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý
của công ty
1. Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh
Công ty Xuất nhập khẩu xi măng là công ty xuất nhập khẩu chuyên
ngành xi măng với quy mô lớn, tập trung chuyên môn hoá phục vụ cho toàn
ngành xi măng về công tác đầu t phát triển ngành với doanh số kim ngạch xuất
nhập khẩu lớn. Công ty kinh doanh theo lĩnh vực kinh tế thơng mại về nhập
khẩu chuyên ngành vật t, thiết bị phụ tùng và thiết bị toàn bộ phục vụ sản xuất
xi măng; nhập khẩu xi măng, clinker thực hiện mục tiêu ổn định thị trờng
trong nớc trên cơ sở hạch toán đủ bù đắp chi phí có lợi nhuận, bảo toàn và phát
triển đợc vốn kinh doanh, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nớc
theo luật định.
Ngoài các mặt hoạt động phục vụ trực tiếp cho các đơn vị thành viên
trong Tổng công ty xi măng Việt Nam, trong những năm qua công ty cũng
tham gia một số công việc cho các công ty liên doanh nh: t vấn trong thơng
thảo hợp đồng cho Công ty xi măng Nghi sơn, tham gia thảo luận hợp đồng
cung cấp thiết bị vật t cho công ty xi măng Chinfon và công ty xi măng Sao
Mai, tham gia nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị ngoài ngành nh: Nhà máy vỏ
bao Nam Hà, Công ty cổ phần bao bì Bỉm sơn
Với chức năng hoạt động trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại thông qua các
nghiệp vụ xuất nhập khẩu trực tiếp và uỷ thác, công ty đã xây dựng đợc mối
quan hệ bạn hàng với trên 100 công ty nớc ngoài trong đó có nhiều bạn hàng
đợc xây dựng thành những mối quan hệ hợp tác lâu dài nh: Những nhà cung
cấp thiết bị và dịch vụ kỹ thuật cho các dây chuyền sản xuất xi măng: FLS
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
10
(Đan Mạch), Polysius (Đức), Tecknik CLE (Pháp) ; các nhà sản xuất thiết bị
chuyên dụng cho khai thác vận chuyển nguyên liệu nh: Volvo, Atlat Copco
(Thuỵ Điển), Sumitomo (Nhật Bản), CICA (Anh) ; Các nhà cung cấp clinker
( nguyên liệu chính để sản xuất xi măng) nh: Indo Energy PTE (Indonexia),
SGS (Thái Lan)
Công ty xuất nhập khẩu xi măng là một đơn vị trực thuộc Tổng công ty
xi măng Việt Nam với chức năng hoạt động trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại
thông qua nhân viên trực tiếp. Là công ty xuất nhập khẩu nhng hoạt động chủ
yếu là nhập khẩu.
2. Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh.
Lĩnh vực kinh doanh chính của công ty là xuất nhập khẩu chuyên ngành
xi măng. Do đó nó sẽ tác động trực tiếp đến các mặt hàng kinh doanh của
công ty. Các mặt hàng chính mà công ty tiến hành xuất nhập khẩu là: Clinker,
các chủng loại xi măng, vật t, thiết bị phụ tùng và thiết bị toàn bộ cho ngành xi
măng trong nớc.
+ Vật t: Giấy krat, hạt nhựa PP dùng để sản xuất vỏ bao xi măng, gạch
chịu lửa, vữa chịu lửa để xây lò xi măng, thạch cao để pha cùng phụ gia và
clinker thành xi măng, sợi amiăng sản xuất tấm lợp.
+ Thiết bị phụ tùng: Các loại thiết bị chuyên dùng trong dây chuyền sản
xuất xi măng, các loại xe chuyên dùng nh xe ủi, xe xúc, xe tải trọng lớn và
các phụ tùng thay thế trong dây chuyền sản xuất.
+ Thiết bị toàn bộ cho cả nhà máy mới công suất 1,2 đến 1,4 triệu tấn/1
năm chủ yếu phục vụ cho việc đầu t và phát triển ngành xi măng hoặc thiết bị
toàn bộ để cải tạo môi trờng hoặc nâng cấp công suất của các nhà máy xi
măng.
Khác với các công ty xuất nhập khẩu khác, công ty Xuất nhập khẩu xi
măng chuyên nhập khẩu thiết bị vật t phục vụ sản xuất trong ngành. Vì vậy từ
đầu năm công ty luôn nắm bắt đựơc nhu cầu về thiết bị vật t toàn bộ cho các
đơn vị thành viên.
Cần lu ý rằng: Do công ty áp dụng hai phơng thức nhập khẩu là: nhập
khẩu trực tiếp và nhập khẩu uỷ thác, nên các mặt hàng nhập khẩu chính tạo
nên doanh thu kinh doanh của công ty là mặt hàng: clinker, gạch chịu lửa, hạt
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
11
nhựa PP , còn đối với doanh thu từ hoạt động uỷ thác thì công ty chủ yếu
nhập khẩu các thiết bị phụ tùng lẻ, đơn chiếc và dây chuyền đồng bộ cho các
nhà máy xi măng .
3. Thị trờng kinh doanh.
Với chức năng nhập khẩu thiết bị phụ tùng, vật t, clinker phục vụ cho
dây chuyền sản xuất xi măng trong nớc và nhập khẩu xi măng nhằm ổn định
thị trờng. Do đó thị trờng tiêu thụ hàng nhập khẩu của công ty là những đơn vị
trong ngành sản xuất xi măng nh: Công ty xi măng Hoàng Thạch, Công ty bao
bì Bỉm Sơn, Công ty xi măng Hà Tiên, Công ty xi măng Nghi Sơn, Công ty xi
măng Hoàng Mai, Công ty xi măng Bút sơn công ty xuất nhập khẩu xi măng
thực hiện bán hàng tại các cảng, kho đầu mối của các nhà máy xi măng trong
ngành. Công ty ngày càng tạo dựng đợc uy tín về chất lợng cũng nh giá cả của
các mặt hàng nhập khẩu trực tiếp, uỷ thác đối với các công ty xi măng trong
toàn quốc.
Về xuất khẩu, với xu hớng hội nhập ASEAN, hiện tại Tổng công ty xi
măngViệt Nam đã bắt đầu nghiên cứu đến thị trờng tiềm năng để tiến tới xuất
khẩu xi măng và Công ty xuất nhập khẩu xi măng sẽ là đầu mối trong việc xúc
tiến thơng mại và tiến hành xuất khẩu uỷ thác mặt hàng này.
IV. Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh tại
công ty xuất nhập khẩu xi măng
1. Đặc điểm tổ chức quản lý và phân cấp quản lý.
Công ty xuất nhập khẩu xi măng VINACIMEX là đơn vị trực thuộc
Tổng công ty xi măng Việt Nam (VNCC) trong số 17 đơn vị trực thuộc Tổng
công ty nh: Công ty xi măng Hải Phòng, Công ty xi măng Hoàng Thạch, Công
ty xi măng Bút Sơn, Công ty xi măng Bỉm Sơn, Công ty xi măng Hoàng Mai,
Công ty xi măng Hải Vân, Công ty xi măng Hà Tiên Cho nên hoạt động kinh
doanh hàng nhập khẩu của công ty cũng theo sự chỉ đạo, hớng dẫn, điều hành
của Tổng công ty xi măng. Công ty hàng năm thực hiện nhập khẩu clinker, xi
măng, vật t, thiết bị phụ tùng theo các chỉ tiêu kế hoạch mà Tổng công ty xi
măng Việt Nam giao cho.
VINACIMEX là một công ty tuy mới thành lập không lâu nhng đã thực
hiện đợc các quy chế về tổ chức quản lý điều hành sản xuất kinh doanh về mọi
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
12
mặt đợc quán triệt theo chế độ quản lý và pháp luật của Nhà nớc hiện hành.
Căn cứ vào:
+ Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công tác xuất nhập khẩu xi măng.
+ Phơng án tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty.
+ Các yêu cầu quản lý của nhà nớc.
Hiện nay công ty có trên 65 cán bộ công nhân viên có đầy đủ các ngành
nghề chuyên môn, nhân viên đợc bố trí tại văn phòng công ty gồm 5 phòng và
2 chi nhánh:
- Phòng tổng hợp
- Phòng kế toán tài chính
- Phòng thiết bị phụ tùng
- Phòng vật t
- Phòng dự án
- Chi nhánh công ty xuất nhập khẩu xi măng tại Hải Phòng
- Chi nhánh công ty xuất nhập khẩu xi măng tại Thành phố Hồ Chí
Minh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
13
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty đợc thể hiện qua sơ đồ sau:
Trong đó:
- Giám đốc công ty là đại diện pháp nhân của công ty điều hành hoạt
động kinh doanh của công ty theo chế độ một thủ trởng và chịu trách nhiệm tr-
ớc Tổng giám đốc Tổng công ty xi măng Việt Nam và Hội Đồng Quản Trị
Tổng công ty xi măng Việt Nam về việc điều hành hoạt động của Công ty theo
quy định của cấp trên và luật pháp hiện hành của Nhà nớc. Chịu trách nhiệm
chỉ đạo trực tiếp các mặt chính sau: Công tác tổ chức cán bộ, công tác kế toán
thống kê tài chính, công tác kế hoạch, công tác lao động tiền lơng, công tác
đầu t phát triển công ty và các công tác nghiệp vụ khác theo chức năng nhiệm
vụ của công ty .
- Hai phó giám đốc phụ trách các lĩnh vực công tác phân công và giúp
giám đốc trong công tác quản lý.
+ Phó giám đốc 1 giúp giám đốc chỉ đạo các mặt công tác sau:
Công tác xuất nhập khẩu cuả phòng Xi măng - Clinker, phòng thiết bị -
phụ tùng ( trừ thiết bị toàn bộ)
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Nguyễn Thị Phơng Mai
14
Phó giám đốc 1
Giám đốc
Phó giám đốc 2
Phòng
kế toán
tài chính
Phòng
tổng hợp
Phòng
thiết bị
phụ tùng
Phòng
vật tư xi
măng
Phòng
dự án
Chi
nhánh
tại Hải
Phòng
Chi
nhánh
tại
TPHCM

Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế tài chính tỉnh thái nguyên.pdf


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
1.3.4- Quy trình quản lý giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên 26
1.3.5- Các yếu tố ảnh hƣởng tới kết quả giáo dục tƣ tƣởng chính trị,
đạo đức cho sinh viên 28
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC TƢ TƢỞNG CHÍNH
TRỊ, ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN Ở TRƢỜNG CĐ KINH TẾ
- TÀI CHÍNH TỈNH THÁI NGUYÊN 31
2.1- Vài nét về trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính tỉnh Thái Nguyên 31
2.1.1- Truyền thống và phát triển của trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính
Tỉnh Thái Nguyên 31
2.1.2- Chức năng nhiệm vụ - cơ cấu tổ chức 34
2.1.3- Đội ngũ giảng viên 38
2.1.4- Tình hình sinh viên nhà trƣờng 39
2.2- Thực trạng công tác quản lý giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức
cho sinh viên ở trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính tỉnh Thái Nguyên 40
2.2.1- Nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về vai
trò của giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên ở
Trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên 40
2.2.2- Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục tƣ tƣởng
chính trị, đạo đức cho sinh viên của Trƣờng CĐKTTC TN 43
2.2.3- Kết quả đạt đƣợc của công tác giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo
đức qua đánh giá về ý thức, đạo đức, rèn luyện của sinh viên. 55
Chƣơng 3- CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM TĂNG CƢỜNG GIÁO
DỤC TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƢỜNG CĐ KINH TẾ - TÀI CHÍNH TỈNH THÁI NGUYÊN 66
3.1- Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 66
3.1.1- Những căn cứ pháp lý xây dựng biện pháp giáo dục tƣ tƣởng
chính trị, đạo đức cho sinh viên 66

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
3.1.2- Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 67
3.1.2.1- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý hoạt
động giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên. 67
3.1.2.2- Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 67
3.1.2.3- Nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục tư
tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên trên quan điểm tiếp
cận hoạt động và nhân cách 68
3.1.2.4- Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chỉ đạo của nhà
quản lý vai trò chủ đạo của giảng viên với vai trò tích
cực chủ động của sinh viên 69
3.1.2.5- Đảm bảo tính thực tiễn 72
3.1.2.6- Đảm bảo tính toàn diện 72
3.2- Các biện pháp 73
3.2.1- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện đổi mới mục tiêu, nội dung
chƣơng trình giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên 73
3.2.2- Chỉ đạo đổi mới phƣơng pháp, hình thức tổ chức giáo dục tƣ
tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên 74
3.2.3- Củng cố các thiết chế và cơ chế phối hợp các lực lƣợng để
giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên 76
3.2.4- Chỉ đạo đổi mới phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo
dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên 77
3.2.5- Tăng cƣờng xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động
giảng dạy, giáo dục của nhà trƣờng 79
3.3- Mối quan hệ giữa các biện pháp và điều kiện thực hiện các biện pháp 80
3.3.1- Mối quan hệ giữa các biện pháp 80
3.3.2- Điều kiện để thực hiện các biện pháp 80

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
3.4- Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 81
3.4.1- Mục đích khảo nghiệm 81
3.4.2- Nội dung khảo nghiệm 81
3.4.3- Phƣơng pháp hình thức khảo nghiệm 81
3.4.4- Kết quả khảo nghiệm 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1- Kết luận 86
II- Kiến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91






Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

CĐ KT - TC Cao đẳng Kinh tế -Tài chính
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
QĐ số 50 Quyết định số 50
TW Trung ƣơng
CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH Chủ nghĩa xã hội
XHCN Xã hội chủ nghĩa
NXB Nhà xuất bản
HSSV Học sinh sinh viên
SV Sinh viên
KTX Ký túc xá
HV Học viên
UBND Uỷ ban nhân dân
BGH Ban giám hiệu


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Cơ cấu tổ chức - đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên nhà trƣờng 36
Bảng 2.2. Kết quả hội thi GV dạy giỏi cấp trƣờng, cấp tỉnh, cấp toàn
quốc từ năm 2005 đến 2008 39
Bảng 2.3. Thống kê số lƣợng HSSV hệ chính quy từ năm 2005 đến
2008 (số liệu của phòng công tác HSSV) 39
Bảng 2.4. Nhận thức của cán bộ quản lý về công tác giáo dục tƣ tƣởng
chính trị, đạo đức cho sinh viên nhà trƣờng 41
Bảng 2.5. Nhận thức của cán bộ giảng viên về công tác giáo dục tƣ tƣởng
chính trị, đạo đức cho sinh viên Trƣờng CĐKTTC Thái Nguyên. 42
Bảng 2.6. Công tác tổ chức quản lý hoạt động giáo dục tƣ tƣởng chính trị,
đạo đức cho SV của trƣờng Cao Đẳng KT-TC Thái Nguyên 44
Bảng 2.7. Thực trạng công tác chỉ đạo của nhà trƣờng về giáo dục tƣ
tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên 46
Bảng 2.8. Thực trạng các biện pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo
dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho viên của trƣờng Cao
Đẳng KT-TCTN 47
Bảng 2.9. Đánh giá của SV về hoạt động GD tƣ tƣởng chính trị, đạo
đức cho SV của trƣờng CĐ Kinh tế tài chính 49
Bảng 2.10. Mức độ tiến hành giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho
SV của trƣờng CĐ Kinh tế tài chính 50
Bảng 2.11. Thực trạng tham gia hoạt động giáo dục tƣ tƣởng chính trị,
đạo đức của sinh viên do nhà trƣờng tổ chức 51
Bảng 2.12. Kết quả thu hoạch của SV sau khi tham gia hoạt động do
trƣờng tổ chức 52
Bảng 2.13. Tổng hợp kết quả rèn luyện HSSV trong 3 năm từ 2005-2008 58

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Bảng 2.14. Số SV ƣu tú đi học lớp bồi dƣỡng kết nạp Đảng và số đƣợc
đứng trong hàng ngũ Đảng 59
Bảng 2.15. Thống kê số liệu HSSV bị kỷ luật 61
Bảng 2.16. Số SV vi phạm quy chế trong các kỳ thi hết học phần, thi tốt
nghiệp 3 năm (2005-2008) 62
Bảng 3.1. Đánh giá của chuyên gia, cán bộ quản lý, giảng viên về tính
khả thi của các biện pháp quản lý nhằm tăng cƣờng giáo dục
tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên 82





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ý thức, chính trị là sự phản ánh các quan hệ kinh tế - xã hội, phản ánh
những lợi ích căn bản và địa vị của các giai cấp và mối quan hệ giữa các giai
cấp đó. Giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức là giáo dục cho ngƣời học có ý
thức về chính trị, ý thức về pháp luật, ý thức đạo đức. Đây là hoạt động có tổ
chức có mục đích có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm chuyển hóa những
chuẩn mực giá trị tƣ tƣởng chính trị, đạo đức và phẩm chất xã hội thành
những phẩm chất và giá trị của mỗi cá nhân. Giúp ngƣời học có ý thức đúng,
về tinh thần dân tộc về đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc, về quyền và nghĩa
vụ của công dân, về việc chấp hành pháp luật và thực hiện các chuẩn mực đạo
đức đối với xã hội, đối với cộng đồng, gia đình và cá nhân. Hiện nay công tác
Giáo dục - Đào tạo cùng với việc dạy chữ thì việc dạy ngƣời, việc rèn luyện,
tu dƣỡng đạo đức cho sinh viên trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ
sinh viên là những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc, là nguồn lực thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nƣớc, là những ngƣời kế thừa chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Tƣơng lai đất nƣớc Việt Nam phát triển ra sao, có vị thế nhƣ
thế nào trên trƣờng quốc tế, nền văn hoá truyền thống của chúng ta sẽ đƣợc kế
thừa, phát huy, nâng lên tầm cao mới cho phù hợp với xã hội hiện đại nhƣ thế
nào phụ thuộc rất nhiều vào thế hệ sinh viên ngày hôm nay. Đó là vinh dự,
trách nhiệm rất nặng nề của các trƣờng đại học và cao đẳng trong công tác
đào tạo sinh viên.
Trong cấu trúc nhân cách của con ngƣời giữa hai phần tài đức có mối
quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đức phải là gốc. Vì vậy việc giáo dục tƣ
tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên càng vô cùng quan trọng, trong xu thế
toàn cầu hóa, quốc tế hóa vấn đề hội nhập, vấn đề bản sắc dân tộc là nội
dung giáo dục mà các nhà trƣờng cần quan tâm để giáo dục cho sinh viên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Để thực hiện nội dung đó đòi hỏi các nhà trƣờng cần nâng cao nhận thức,
năng lực tƣ duy sáng tạo, quan tâm bồi dƣỡng phẩm chất đạo đức cho sinh
viên trong việc dạy ngƣời, dạy chữ, dạy nghề thì dạy ngƣời là mục tiêu cao
nhất. Cần giáo dục cho học sinh, sinh viên lòng yêu nƣớc, yêu chủ nghĩa xã
hội, có bản lĩnh vững vàng, có tƣ duy sáng tạo và năng lực thực hành giỏi,
có kỹ năng hòa nhập, có ý thức vƣơn lên trong học tập, rèn luyện để lập
thân, lập nghiệp, vững vàng tiếp bƣớc các thế hệ đi trƣớc, góp phần xây
dựng đất nƣớc giầu đẹp.
Phòng công tác HSSV là những ngƣời trực tiếp tham mƣu cho lãnh
đạo công tác giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên trong những
năm qua chúng tôi nhận thấy: Trong các trƣờng đại học cao đẳng nói chung,
trƣờng cao đẳng kinh tế tài chính Tỉnh Thái Nguyên nói riêng cùng với việc
nâng cao chất lƣợng đào tạo, nhà trƣờng đã từng bƣớc đƣợc nâng cao về mặt
tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, nếp sống lối sống cho sinh viên. Tuy nhiên kết
quả vẫn còn nhiều điểm cần phải quan tâm, bên cạnh những mặt tốt của đại đa
số sinh viên thì một bộ phận trong sinh viên vẫn còn:
+ Mơ hồ về lý tƣởng cách mạng, ngại tham gia các hoạt động xã hội,
đoàn thể, thờ ơ với chính trị, với hoạt động chung của tập thể, của đất nƣớc, ý
thức phấn đấu chƣa cao.
+ Một bộ phận còn lƣời học, có một số vi phạm pháp luật, vi phạm nội
quy, quy chế, thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi cử, một bộ
phận nhỏ sinh viên chỉ đòi hƣởng thụ, không nghĩ đến nghĩa vụ và trách
nhiệm cống hiến, ý thức chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp chƣa cao.
+ Một số ít sinh viên còn biểu hiện lối sống thực dụng, đua đòi, buông
thả ăn chơi sa đọa, sống tha hóa quá với điều kiện cho phép, một số ít mắc
vào các tệ nạn xã hội

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại yếu kém, trong đó có
nguyên nhân do Công tác tuyên truyền, giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức
lối sống, ý thức chấp hành pháp luật, nội quy, quy chế chƣa thƣờng xuyên,
chƣa đầy đủ do đó hiệu quả chƣa cao.
Chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Các biện pháp quản lý
nhằm tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho sinh viên
Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên”.
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý các hoạt động giáo tƣ tƣởng
chớnh trị, đạo đức cho sinh viên và thực trạng quản lý giáo dục tƣ tƣởng chính
trị, đạo đức cho SV ở trƣờng Cao đẳng Kinh tế Tài chính tỉnh Thái Nguyên.
Trên cơ sở đó xây dựng các biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động giáo dục tƣ
tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên trƣờng Cao đẳng Kinh tế Tài chính Tỉnh
Thái Nguyên góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục đào tạo của nhà trƣờng.
3- ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1- Đối tƣợng nghiên cứu
Các biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động giáo dục tƣ tƣởng chính
trị, đạo đức cho sinh viên trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên
3.2- Khách thể nghiên cứu
Là quá trình quản lý giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho SV
trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Thái Nguyên
3.3- Khách thể điều tra
- Cán bộ quản lý trƣờng cao đẳng Kinh tế - Tài chính Tỉnh thái Nguyên
- Giảng viên, sinh viên Trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên
4- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục tƣ tƣởng chính
tri, đạo đức cho sinh viên ở Trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên.
4.2- Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục tƣ tƣởng chính
trị, đạo đức cho sinh viên ở Trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
4.3- Xây dựng các biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động giáo dục tƣ
tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên ở Trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Tỉnh
Thái Nguyên.
5- GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
- Một trong những nguyên nhân dẫn tới tƣ tƣởng chính trị, đạo đức hiện
nay của sinh viên Trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên chƣa cao
là do công tác quản lý giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức chƣa tốt. Nếu xây
dựng đƣợc hệ thống các biện pháp tăng cƣờng quản lý giáo dục tƣ tƣởng
chính trị, đạo đức cho SV có tính khoa học, đồng bộ, phù hợp sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh
viên trong nhà Trƣờng CĐ Kinh tế - Tài chính Tỉnh Thái Nguyên.
6-PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1-Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp khái quát hóa hệ thống hóa lý luận đề tài.
6.2-Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp điều tra bằng an két về thực trạng quản lý giáo dục tƣ
tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên trƣờng Cao đẳng Kinh tế - Tài chính
Tỉnh Thái Nguyên.
- Phƣơng pháp quan sát các hoạt động giáo dục tƣ tƣởng chính trị,
đạo đức.
- Phƣơng pháp phỏng vấn giảng viên cán bộ quản lý, sinh viên.
- Phƣơng pháp chuyên gia xin ý kiến về các biện pháp quản lý giáo dục
tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên.
6.3-Nhóm phƣơng pháp toán học
7-PHẠM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Đề tài chỉ nghiên cứu các biện pháp tăng cƣờng quản lý hoạt động giáo
dục tƣ tƣởng chính trị, đạo đức cho sinh viên ở Trƣờng CĐ Kinh tế - Tài
chính Tỉnh Thái Nguyên theo cách tiếp cận chức năng quản lý.