Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam- Hàn Quốc, thực trạng, triển vọng và giải pháp.DOC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Biểu đồ 2.1 : Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- Hàn Quốc
giai đoạn 1983-1992.
35
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch ngoại thương Việt Nam- Hàn Quốc
giai đoạn 1993-2006.
38
Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
Hàn Quốc giai đoạn 1993-2006
40
Biểu đồ 2.4: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc
giai đoạn 1993-2006
45
Biểu đồ 2.5: Thể hiện tỷ lệ vốn đầu tư của Hàn Quốc trong tổng số
vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2006
55
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ tăng của vốn đầu tư nước ngoài từ Hàn Quốc
vào Việt Nam giai đoạn 1996-2006
57
Biểu đồ 2.7: Cơ cấu đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam theo
ngành kinh tế
62
Biểu đồ 2.8: Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu của Hàn Quốc vào Việt
Nam năm 2006
62
5
CÁC TỪ
VIẾT TẮT
NGHĨA CỦA TỪ
NGHĨA TIẾNG ANH NGHĨA TIẾNG VIỆT
ASEAN
Association of Southeast Asia
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
DOC Department commerce Bộ thương mại Hàn Quốc
DSM Dispute Settlement Measures Cơ chế giải quyết tranh chấp
EP Export price Giá xuất khẩu
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
ITC
International Trade
Committee
Ủy ban Thương mại Quốc tế
MOT Ministry Of Trade Bộ Thương mại Việt Nam
UN United Nations Liên Hợp Quốc
USD United States Dollar Đô la Mỹ
VIETRADE Viet Nam Trade Promote
Cơ quan Xúc tiến Thương mại
Việt Nam
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
WB World Bank Ngân hàng thế giới
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
KOTRA
Korea Trade- Investment
Promotion Agency
Phòng xúc tiến thương mại và đầu tư
Hàn Quốc
JETRO
Japan Extenal Trade
Organization
Tổ chức xúc tiến thương mại
Nhật Bản
CHƯƠNG I
6
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC HỘI NHẬP TỚI QUAN HỆ KINH TẾ
VIỆT NAM- HÀN QUỐC
1.1 - Hội nhập kinh tế - khái niệm và bản chất
1.1.1. Hội nhập kinh tế - vấn đề mang tính khách quan của các nền kinh tế
hiện nay
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu của nền kinh
tế thế giới, từ thấp đến cao, từ quy mô hẹp đến quy mô ngày càng rộng lớn
hơn, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hóa, khu vực
hóa và quốc tế hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh
mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Trước đây, tính chất xã hội
hóa của quá trình sản xuất chủ yếu mới lan tỏa bên trong phạm vi biên giới của
từng quốc gia, nó gắn các quá trình sản xuất, kinh doanh riêng rẽ lại với nhau,
hình thành các tập đoàn kinh tế quốc gia và làm xuất hiện phổ biến các loại
hình công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc gia. Qua đó quan hệ sở hữu về tư
liệu sản xuất đã có sự thay đổi đáng kể, dần hình thành nên sở hữu hỗn hợp. Từ
đó, việc đáp ứng yêu cầu về quy mô vốn lớn cho sản xuất kinh doanh ngày
càng thuận lợi hơn. Tình hình này càng đòi hỏi sự tham gia ngày càng lớn của
chính phủ các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Bởi lẽ, các quốc gia này là
những quốc gia có thế mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý Ngày nay,
một mặt do trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất làm cho tính chất xã
hội hóa của chính nó càng vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lan tỏa sang
các quốc gia khu vực và thế giới nói chung. Mặt khác, tự do hóa thương mại
cũng đang trở thành xu hướng tất yếu, được xem là nhân tố quan trọng thúc
đẩy buôn bán giao lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng
cao mức sống của mọi quốc gia. Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế
giới theo định hướng phát triển của mình đều điều chỉnh các chính sách theo
7
hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện
cho việc lưu chuyển các nguồn lực và hàng hóa tiêu dùng giữa các quốc gia
ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng hơn. Không ngừng đẩy mạnh trao đổi
hàng hóa và dịch vụ, mở rộng sự phân công và hợp tác quốc tế trên các lĩnh
vực kinh tế, khoa học kỹ thuật là một nhu cầu không thể thiếu được của đời
sống kinh tế và là một tất yếu khách quan của thời đại, dù đó là nước lớn hay
nhỏ, nước công nghiệp phát triển hay kém phát triển, nước tư bản chủ nghĩa
hay xã hội chủ nghĩa.
Mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập để phát triển, trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt đều phải chú ý đến các quan hệ trong và ngoài khu vực. Về lâu
dài cũng như trước mắt, việc giải quyết các vấn đề của quốc gia đều phải tính
đến và cân nhắc với xu hướng hội nhập toàn cầu để đảm bảo được lợi ích phát
triển tối ưu của quốc gia. Việt Nam cũng không thể nằm ngoài quá trình này.
Trong điều kiện hội nhập, các quốc gia dù giàu có hoặc phát triển đến đâu cũng
không thể tự mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu của chính mình. Trình độ
phát triển càng cao càng phụ thuộc với mức độ nhiều hơn vào thị trường thế
giới. Đó là một vấn đề có tính quy luật. Những quốc gia chậm trễ trong hội
nhập kinh tế quốc tế thường phải trả giá bằng chính sự tụt hậu của mình, ngược
lại những nước vội vã không phát huy nội lực, không chủ động hội nhập cũng
đã bị trả giá. Bởi vậy, để hội nhập có hiệu quả, cần phải có quan điểm nhận
thức đúng đắn, nhất quán, cơ chế chính sách thích hợp, tận dụng tốt cơ hội,
không bỏ lỡ thời cơ, giảm thách thức, hạn chế rủi ro trong quá trình tiến lên của
mình.
1.1.2. Khái niệm
Hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiện trong vài thập kỷ
gần đây. Nhưng cho đến nay vẫn đang tồn tại các cách hiểu khác nhau về hội
nhập kinh tế quốc tế. Có loại ý kiến cho rằng: hội nhập kinh tế quốc tế là sự
phản ánh quá trình các thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký
kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa
8
dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia
và quốc tế. Loại ý kiến khác lại cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình
loại bỏ dần các hàng rào thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và di chuyển
các nhân tố sản xuất giữa các nước.
Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau, nhưng hiện nay khái niệm
tương đối phổ biến được nhiều nước chấp nhận về hội nhập như sau: Hội nhập
kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp
tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên
có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối. Nói một cách khái quát
nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh
tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực
hiện thuận lợi hóa và tự do hóa thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối
ngoại khác.
*Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm giải quyết 6 vấn đề chủ yếu:
 Đàm phán cắt giảm thuế quan;
 Giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan;
 Giảm bớt các hạn chế đối với dịch vụ;
 Giảm bớt các trở ngại đối với đầu tư quốc tế;
 Điều chỉnh các chính sách thương mại khác;
 Triển khai các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế có tính chất toàn cầu.
1.1.3. Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập là kết quả chính trị có chủ đích rõ ràng nhằm hình thành một tập
hợp khu vực để thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường cho sản phẩm dịch vụ
nước mình. Do đó Hội nhập là hoạt động chủ quan của con người, ở đây là các
chính phủ, nhằm lợi dụng sức mạnh của thời đại để tăng cường sức mạnh dân
tộc mình. Hội nhập quốc tế trước kia cũng như hiện nay cùng có mục đích
giống nhau là lợi dụng đến mức tối đa sự hợp tác quốc tế để tăng cường sức
mạnh dân tộc. Hội nhập quốc tế ngày nay với toàn cầu hoá tuy là hai quá trình
khác nhau vì hội nhập quốc tế là hành động chủ quan còn toàn cầu hoá là hiện
tượng khách quan nhưng chúng có mối quan hệ thân thiết và phụ thuộc lẫn
9
nhau. Do vậy, khi tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế cần phải có những
bước đi cụ thể được tính toán cẩn thận, phải xây dựng lộ trình hội nhập phù
hợp với khả năng và lợi ích của dân tộc. Hội nhập giúp chúng ta tìm được chỗ
thích hợp nhất trong con tàu toàn cầu hoá, nhưng mặt khác toàn cầu hoá lại chỉ
là con tàu chỉ chạy một chiều và không đậu lại ở một bến nào cả, nên muốn
không bị nhỡ hoặc bị văng va khỏi con tàu này, tức là tụt hậu thì quá trình hội
nhập nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng cũng phải khẩn trương và
có những quyết định mạnh dạn.
Về bản chất, hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện chủ yếu ở một số
mặt sau đây:
 Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế quốc gia với nhau và với nền kinh tế thế giới. Nó vừa là
quá trình hợp tác cùng phát triển, vừa là quá trình đấu tranh rất phức tạp,
đặc biệt là đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích của
mình vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cường
quốc kinh tế và các công ty xuyên quốc gia;
 Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xóa bỏ từng bước và từng phần các rào
cản về thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hóa kinh
tế;
Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh
nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có
những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường;
 Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công cuộc cải
cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu cầu, sức ép đối với mỗi
nước trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, đặc biệt là các chính
sách và phương thức quản lý vĩ mô.
 Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự tạo dựng các nhân tố và điều kiện mới
cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ
phát triển ngày càng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất.
10
 Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng chảy nguồn lực
trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao công
nghệ và các kinh nghiệm quản lý.
1.2 Nội dung của các quan hệ kinh tế quốc tế( đặc biệt là quan hệ
thương mại và đầu tư)
1.2.1 Quan hệ hợp tác về thương mại
1.2.1.1 Khái niệm về thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các chủ
thể có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường là vượt
qua ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt động mua
bán, lấy tiền làm môi gới. Đây là một trong những hình thức chủ yếu
của hoạt động kinh doanh quốc tế.
Trong thập kỷ vừa qua, thương mại đóng vai trò ngày càng tăng đối
với phần lớn các nền kinh tế thế giới. Một chỉ số để đánh giá tầm quan
trọng của thương mại đối với một quốc gia là xem xét tương quan giữa
quy mô thương mại của mỗi nước đối với tổng sản lượng của nước đó.
Có những nước trên thế giới, chẳng hạn như Singapore, chỉ số này lớn
hơn 100% (tức là giá trị thương mại của nước đó đã vượt quá giá trị
hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra).
1.2.1.2 Đặc điểm của thương mại quốc tế
Một là, hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế
giới, có thể là thị trường toàn thế giới, thị trường khu vực hay thị
trường của nước xuất khẩu hoặc nước nhập khẩu. ở đó diễn ra các
hoạt động mua bán hàng hoá của các bên tham gia trao đổi.
Hai là, các bên tham gia thương mại quốc tế là những người khác
quốc gia, có thể là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể
hoặc tư nhân. Mục đích tham gia buôn bán quốc tế của họ là có lợi
11
trong việc trao đổi. Cái lợi trong việc buôn bán quốc tế tư nhân là lợi
nhuận có được do việc mua rẻ và bán đắt.
Ba là, hàng hoá trao đổi trong thương mại quốc tế là hàng hoá vật
chất, hàng hoá dịch vụ… Trao đổi quốc tế về hàng hoá vật chất gọi là
thương mại hàng hoá quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là ngoại
thương. Hàng hoá vật chất là những hàng hóa tồn tại dưới dạng vật
chất, định lượng được, dự trữ được như hàng hoá lương thực thực
phẩm và phi lương thực thực phẩm. Trong trao đổi, người mua và
người bán mua bán với nhau quyền sở hữu và sử dụng hàng hoá. Do
có sự cách biệt về địa lý, hàng hoá vật chất có sự di chuyển qua biên
giới từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Cùng với các nghiệp vụ
mua, bán hàng hoá có cả dịch vụ kèm theo như: vận chuyển, bảo
quản, bảo hành, bảo hiểm, thanh toán quốc tế…
Trao đổi quốc tế về hàng hoá và dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ
quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ. Hàng
hoá dịch vụ là những hàng hoá tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó
định lượng được, không dự trữ được. Quá trình cung cấp diễn ra
đồng thời với quá trình tiêu thụ (sử dụng) hàng hoá dịch vụ. Trong
trao đổi người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (người
nhận dịch vụ) mua bán với nhau về quyền sử dụng hàng hoá dịch vụ.
Do sự cách biệt về địa lý giữa người cung cấp và người nhận dịch vụ,
hàng hoá dịch vụ có thể di chuyển hoặc không di chuyển qua biên
giới.
Bốn là, phương tiện thanh toán trong thương mại quốc tế giữa
người mua và người bán là đồng tiền có khả năng chuyển đổi.
Những đặc điểm phát triển thương mại quốc tế hiện
nay:
12
Một là, thương mại quốc tế đang phát triển với quy mô lớn, tốc độ
tăng nhanh. Năm 2000, tốc độ tăng trưởng thương mại quốc tế đạt
10%, cao hơn 2 lần so với 4,3% năm 1999 và hơn 2,5 lần so với mức
3,8% năm 1998. Những năm gần đây, sản xuất quốc tế mở rộng
mạnh mẽ là do các liên kết kinh tế quốc tế được tăng cường trên khắp
các châu lục. Sự phát triển liên kết kinh tế quốc tế đã giúp thương
mại hàng hoá quốc tế tăng nhanh. Trao đổi hàng hoá quốc tế ngày
càng thuận lợi nhờ phương tiện thông tin và giao thông vận tải phát
triển. Điều kiện buôn bán quốc tế ngày càng thông thoáng do các
nước áp dụng các biện pháp giảm dần thuế qua và bớt dần hàng rào
phi thuế quan.
Hai là, các hình thức thương mại đa dạng. Những năm gần đây,
thương mại quốc tế phát triển đa dạng về hình thức, như: thương mại
hàng hoá, thương mại dịch vụ và thương mại các yếu tố sản xuất
(vốn, sức lao động, khoa học công nghệ). Sự phát triển của thương
mại quốc tế với đặc điểm nổi bật là sự gia tăng thương mại phi hàng
hoá nhanh hơn sự gia tăng thương mại hàng hoá. Sự phát triển đa
dạng của thương mại quốc tế đánh dấu bước phát triển mới trong trao
đổi và phân công lao động quốc tế ở tầm cao không chỉ dừng ở mức
thông qua thị trường quốc tế đơn phương mà đã tiến đến sự hợp tác
song phương, đa phương, hợp tác khu vực trên các lĩnh vực trao đổi
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, khoa học công nghệ… Sự phát triển nhanh
chóng của thương mại phi hàng hoá phản ánh đặc điểm sản xuất quốc
tế hiện nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng giữa các quốc gia không chỉ bằng những
hàng hoá vật chất mà còn cả những hàng hoá phi vật chất. Tốc độ gia
tăng nhanh chóng của thương mại phi hàng hoá tạo ra nguồn thu
ngoại tệ lớn cho các nước đặc biệt là đối với các nước phát triển. Nếu
13
thế kỷ XIX, xuất khẩu hàng hoá chiếm vị trí bao trùm thì trong thế kỷ
XX, xuất khẩu tư bản ngày càng nổi trội: tổng số vốn đầu tư ra nước
ngoài tăng nhanh. Năm 1990, đầu tư quốc tế trực tiếp (FDI) đạt 151
tỷ USD, năm 1999 đạt 865 tỷ USD.
Ba là, thương mại quốc tế phát triển lôi cuốn tất cả các quốc gia
đều tham gia, nhưng cũng tập trung chủ yếu vào các nước công
nghiệp phát triển. Những thập kỷ gần đây, trong xu thế phát triển của
kinh tế thế giới - toàn cầu hoá và "mở cửa kinh tế" quốc gia, các
nước trên thế giới không thể phát triển kinh tế riêng rẽ được, phải có
hoạt động kinh tế với nước ngoài. Phát triển thương mại quốc tế là
một trong những định hướng kinh tế được các nước lựa chọn. Ngày
nay, tất cả các nước đều có thương mại quốc tế, song thương mại
quốc tế phát triển chủ yếu tập trung ở các nước công nghiệp phát
triển. Hai vấn đề này phản ánh lực lượng sản xuất của thế giới phát
triển đáng kể và tiềm lực kinh tế của các nước công nghiệp ngày một
tăng, ưu thế ngày càng lớn.
Bốn là, các trung tâm thương mại quốc tế đã và đang hình thành. Trên
thế giới có 3 trung tâm kinh tế lớn là Mỹ - Canada, Tây Âu và Đông Bắc á,
ngoài ra còn các khối, ASEAN, Trung Mỹ, Tây Phi… đã và đang hình thành.
Nhìn chung, các trung tâm, từng khối kinh tế đang và ngày càng hoàn thiện, tận
dụng các mối quan hệ thuận lợi của nhau về địa lý, tính văn hoá dân tộc, về lợi
ích, khắc phục các mâu thuẫn, bất đồng, tăng cường đoàn kết, nhằm phát triển
kinh tế và thương mại, mở rộng quan hệ kinh tế với các trung tâm, các khối bên
ngoài để cùng phát triển.
1.2.1.3 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế
- Thương mại quốc tế có vai trò rất quan trọng trong phát triển và tăng trưởng
kinh tế. Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả tới tăng trưởng kinh tế. (1),
(2), (3), (4) Giáo trình kinh tế phát triển, trang 303, 305. Mối quan hệ này được
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét