Chuyên đề tốt nghiệp
-Uống chè làm cho tâm t tĩnh lặng, cho tâm hồn thanh tao, giảm bớt u
phiền, hết mọi cảm giác uể oải , buồn ngủ, hăng hái làm việc, học tập hơn.
-Chè có giá trị trong giao tiếp, là cầu nối trong các mối quan hệ
-Ngày nay khi khoa học ngày càng phát triển thì mọi ngời nhận thấy
rằng chè là thức uống bổ dỡng, có tác dụng dợc lí quí giá. Chất cafein và một
số hợp chất alkaloit khác trong chè có khả năng kích thích vỏ đại não, làm cho
tinh thần minh mẫn tăng cờng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, nâng
cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những lúc lao động. Hỗn hợp
tanin trong chè làm cho chè có khả năng giải khát gây cảm giác hng phấn cho
ngời uống chè. Ngời ta còn sử dụng chè trong trị liệu bệnh, uống chè thờng
xuyên sẽ làm giảm quá trình viêm ở ngời bị bệnh khớp, hay viên gan mãn tính,
có tác dụng làm tăng tính đàn hồi của thành mạch máu , điều chuỉnh có hiệu
quả bệnh lị, xuất huyết dạ dày và đờng ruột, xuất huyết não và suy yếu mao
mạch do tuổi già. Chè còn có tác dụng chống nhiễm phóng xạ ,chống ung th
,và có tác dụng rất tốt chữa các loại bệnh về răng miệng .
Nhận thấy tác dụng, hiệu quả của việc uống chè đối với sức khoẻ do vậy
nhu cầu của ngời dân gia tăng, mặt khác do môi trờng sinh thái của con ngời
ngày càng ô nhiễm, thực phẩm rất dễ bị nhiễm chất độc hoá học có hại cho sức
khoẻ, chè là một loại thực phẩm ít bị ảnh hởng. Đặc biệt ngày nay ngành chè
tăng cờng mở rộng dự án trồng các loại chè sạch, chè hữu cơ, chè thảo dợc, chè
gừng, chè thảo mộc phục vụ tốt nhất nhu cầu của ngời tiêu dùng .
Nh vậy, nhu cầu tiêu dùng chè nội địa là rất cao và đang có xu hớng gia
tăng đây là cơ hội hay là thị trờng đâỳ tiềm năng giúp cho các doanh nghiệp
Việt Nam có định hớng phát triển mở rộng sức tiêu dùng tăng thị phần thị trờng
phục vụ của mình trên thị trờng .
1.3.Đặc điểm tiêu dùng chè :
a.Đặc điểm sản phẩm : chè là cây công nghiệp dài ngày mang giá trị
kinh tế cao, sản phẩm thu hoạch là lá, thời gian thu hoạch một lứa từ 9- 10
ngày. Sau khi thu hoạch chè đợc bón phân vô cơ hoặc hữu cơ, gốc cây đợc làm
cỏ sạch , mỗi năm thu hoạch khoảng 20 lứa chè . Chè đợc trồng chủ yếu trên
đất đồi núi nhiều tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, miền Trung (Hà Tĩnh ),
miền Nam (Lâm Đồng ,Gia Lai ) dới 2 hình thức chủ yếu nông trờng và hộ gia
đình .
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Từ nguyên liệu chè tơi ngời ta thực hiện chế biến thành nhiều loại chè
khác nhau dựa trên việc thực hiện chuyển hoá các chất trong chè đặc biệt hệ
enzim có sẵn trong búp chè tơi .Các sản phẩm đợc chế biến bao gồm :
Chè đen :
Đợc sản xuất theo phơng pháp : héo, sấy, cho lên men cho đến khi đạt đ-
ợc vị nồng và có màu hổ phách đậm. Sản phẩm chè đen có màu nớc đỏ tơi ,có
vị chát hậu dịu ngọt và hơng thơm của hoa tơi quả chín .Chè đen đợc phân loại
dựa trên kích thớc và tỉ trong cánh chè .
Chè cánh gồm OP-P-PS cánh chè xoăn đều, chắc đen tự nhiên, khá
nhiều tuyết, nớc pha có màu đỏ nâu trong sáng khá sánh rõ viền vàng, hơng
thơm đợm khá hài hoà hấp dẫn.Đây là các sản phẩm chè cấp cao .
Chè mảnh gồm FBOP BPS :Loại chè nhỏ mảnh, đều đen khá
chắc nhiều tuyết, nớc pha có màu đỏ nâu, mùi thơm khá hài hoà, đậm dịu rõ
hậu .
Chè vụn F-D : nhỏ đều, tơng đối nặng, sạch, tơng đối đen, nớc có
màu đỏ nâu, mùi thơm nhẹ dễ chịu, vị đậm .
Chè xanh:
Từ nguyên liệu chè búp tơi thu mua ngời sản xuất tiến hành diệt men,
vò, làm khô, phân loại, thành chè xanh thành phẩm.Chè xanh sản phẩm nớc có
màu xanh tơi hoặc vàng sáng, có vị chát đợm, hậu ngọt và có hơng thơm tự
nhiên, có mùi cốm nhẹ, mùi mật ong .
Phân chia chè bán thành phẩm gồm 3 dạng:
Chè cánh gồm OP-P-PS
Chè mảnh gồm BP, BPS
Chè vụn gồm F, D
Phân chia khối chè bán thành phẩm theo cấp loại ban đầu của nguyên
liệu sau khi đã bỏ bồm cẫng và chè vụn.
Nguyên liệu sản phẩm
Chè A hái đặc biệt chè đặc biệt
Chè A chè loại 1
Chè B chè loại 2.
Chè olong, chè vàng, chè đỏ là loại chè trung gian thực hiện lên men
một nửa.
Ngoài ra còn có chè dợc thảo, tuy gọi là chè nhng nguyên liệu không
phải từ chè búp tơi mà từ các loại chè dây, chè thanh nhiệt .
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhìn chung các loại chè đều có tác dụng tốt cho sức khoẻ. Một mặt là
loại nớc giải khát, thứ nớc uống hàng ngày, mặt khác có tác dụng chữa bệnh .
b.Đặc điểm tiêu dùng :
Thị trờng nội địa chỉ a dùng chè xanh, đặc biệt chè sao chế theo phơng
pháp thủ công ở các vùng đất chè nổi tiếng nh chè Thái, chè Shan, chè blao
Thú uống chè xuất hiện từ lâu trong văn hoá tiêu dùng ngời Việt, hình thức
uống chè đợc khởi nguồn từ chùa chiền .
Trớc kia phong thái và cách thức thởng thức chè của ngời Việt có khác
nhau trong từng giai tầng xã hội : Vua quan thờng a thích các sản phẩm chè tàu
của Trung Quốc, uống chè nh bằng chứng thể hiện sự giàu sang quyền quí để
phân biệt đẳng cấp thứ bậc dân trong xã hội. Cách thức uống chè rất cầu kì.Các
tầng lớp nông dân thờng uống chè tơi, chè tự sao chế lấy .
Ngày nay, thói quen uống chè vẫn tồn tại nhng dần dần nó xoá đi những
rào cản về tuổi tác về giai tầng, sự khác nhau trong uống trà cũng chỉ do sở
thích.Đa phần mọi ngời thờng thích uống chè mộc nhất là các sản phẩm chè
gốc Thái rất đợc a chuộng, họ thích cái vị đậm chát có hậu dịu ngọt của chén
chè nóng, thờng các sản phẩm này đợc sao theo phơng pháp thủ công truyền
thống, chè đợc nớc ngon nhất và có hơng thơm là chè xuân.Trong cách thởng
thức chè cũng có phần đơn giản hơn.
Lại có những ngời khi uống chè muốn có thêm hơng thơm của các loại
hoa: chè ớp hơng sen, chè hoa ngâu, chè nhài .Để chế ra các sản phẩm chè ớp
hơng thờng là rất cầu kì đòi hỏi mất thời gian điều này không cho phép nhất là
trong thời nay, thì nhu cầu của ngời dân là các sản phẩm nhanh gọn tiện do vậy
chè nhài, chè sen nhúng, chè hoà tan có sức tiêu thụ tăng .
Nhu cầu các sản phẩm chè đen và chè thảo mộc có chiều hớng gia tăng .
1.4.Các nhân tố thuộc về đặc điểm tiêu dùng chè :
-Tính ổn định và ít co dãn về mặt cung cầu :
Các sản phẩm chè phục vụ trực tiếp cho nhu cầu cơ bản thờng xuyên
trong cuộc sống hàng ngày của ngời dân.Việc tiêu dùng chè hầu nh không phụ
thuộc vào giá cả thị trờng vì mỗi ngời tiêu dùng mỗi loại chè với một số lợng
nhất định tuỳ thuộc vào những giới hạn sinh lí .
-Việc tiêu dùng chè mang tính thời vụ rõ nét ;
Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rõ nét, vì thế nhu
cầu tiêu dùng chè trên thị trờng không cân bằng cả về mặt không gian và thời
gian.Nhìn chung nhu cầu tiêu dùng chè thờng rất lớn vào những dịp lễ lớn hoặc
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
dịp đầu xuân vì đây là mùa của những lễ hội truyền thống. Nhng vụ chè thờng
vào tháng 3 đến tháng 11 vì thế đòi hỏi nhà cung ứng sản phẩm chè phải dự trữ
một lợng nhất định để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong những dịp này.Trớc
đặc điểm câu tiêu dùng nh vậy đòi hỏi ngời cung ứng phải có biên pháp bảo vệ
sự hài hoà cung cầu .
-Thị trờng tiêu dùng chè là thị trờng cạnh tranh tơng đối hoàn hảo.
Ngời sản xuất chỉ cung ứng ra thị trờng một khối lợng chè rất nhỏ so với
lợng cung của xã hội. Do không thể độc quyền về lợng cung cho nên không thể
độc quyền về giá cả mà buộc phải chấp nhận mức giá khách quan trên thị trờng
.
Xu hớng tiêu dùng chè cũng biến đổi theo cơ cấu tuổi của dân số .
Thật vậy, Việt Nam là nớc có dân số trẻ, trên 50% dân số ở độ tuổi lao
động nên yếu tố này ảnh hởng đến nhu cầu tiêu dùng các loại chè. Mức tiêu
dùng các sản phẩm chè xanh, chè mộc, chè hơng truyền thống có xu hớng ổn
định, hoặc tăng tơng đối nhỏ, còn nhu cầu đối với các sản phẩm chè nhúng,
chè hoà tan, chè thảo mộc đang tăng mạnh, nhu cầu này biến đổi theo cơ cấu
nhóm tuổi .
-Nhóm ngời ở độ tuổi trung niên và cao tuổi.
Sở thích uống chè chung của những ngời ở lứa tuổi này là các sản phẩm
chè mộc, chè mạn, chè hơng truyền thống. Đa phần những ngời này rất sành
trong cách thởng thức chè. Trong cách lựa chọn cho tiêu dùng họ có khuynh h-
ớng gắn với những đặc trng về nội chất gồm cả hơng và vị của chè, họ đánh giá
chất lợng chè dựa trên sự cảm nhận của chính mình về hơng thơm, mùi vị và
màu sắc của trà .
Có các loại chè:
Chè xanh đặc biệt: Đây là loại chè cấp cao, sản phẩm có màu xanh tự
nhiên, cánh chè dài xoăn đều non, có tuyết.Nớc pha phải có màu vàng trong
sáng, hơng của trà thơm mạnh tự nhiên, thoáng có mùi cốm, sau khi thởng thức
chè ngời uống thấy vị đậm dịu có hậu ngọt .
Chè loại 1: Theo kinh nghiệm của những ngời uống chè sành là chè có
màu xanh tự nhiên, cánh chè dài xoăn tơng đối đều nớc của chén chè sau khi
đợc pha lên có màu vàng xanh sáng, hơng thơm tự nhiên tơng đối mạnh, vị
chát đậm dịu dễ chịu .
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Chè loại 2 có màu xanh tự nhiên, cánh chè ngắn hơn tơng đối xoăn
thoáng cẫng, màu nớc của chè có màu vàng sáng, màu xanh tự nhiên vị chát t-
ơng đối dịu, có hậu ngọt .
Chè loại 3: Màu vàng xanh xám, mảnh nhỏ tơng đối đều, màu nớc vàng
hơi đậm hơng thơm vừa thoáng hăng gì vị chát hơi xít .
Chè đợc đánh giá là ngon là loại chè có màu nớc xanh tơi hoặc vàng
sáng, có vị chát đậm, có hậu ngọt, hơng thơm tự nhiên, có mùi cốm nhẹ và mùi
mật ong.Chính vì vậy khi mua chè họ phải lựa chọn những loại chè đặc sản gắn
liền với vùng đất chè: chè chính Thái (Tân Cơng - Thái Nguyên), chè Lục (Yên
Bái ), các loại chè Shan trên vùng núi cao suối Giàng, chè Blao (Bảo Lộc- Lâm
Đồng ).
Các loại chè xanh đợc tiêu thụ chủ yếu trên thị trờng là chè chế biến
theo phơng pháp thủ công,và đợc nhóm ngời trung và cao tuổi lựa chọn, bởi vì
họ ít quan tâm đến nhãn mác, bao bì sản phẩm. Còn các sản phẩm chè xanh
chế biến ở các nhà mày chủ yếu phục vụ cho nhu cầu biếu tặng .
Nhóm ngời này có nhu cầu tiêu dùng rất lớn , chè đã trở thành thứ nớc
uống quen thuộc từ lâu trong gia đình, trong các cuộc họp hội nghị, nhất là đối
với nhóm ngời cao tuổi, trong các buổi họp câu lạc bộ thì chén chè chính là
cầu nối tâm giao giữa con ngời với con ngơì , bên chén chè nóng vừa bình dị
vừa đơn sơ các cụ ngồi bàn chuyện văn chơng, thơ ca, chơi cờ chia xẻ với nhau
những vui buồn của tuổi già .
Bên cạnh nhu cầu về chè mộc, nhóm ngời này còn thích uống chè ớp h-
ơng,thông thờng các loại hoa quả ớp hơng chè phải là thứ hoa quí, thanh tao
nh hoa ngâu, hoa sói, hoa sen, hoa nhài, hoa cúc .Đặc biệt thứ chè ớp hơng sen
là thứ chè quí dùng để tiếp khách chi âm hoặc làm quà biếu .
Qua phân tích đặc điểm tiêu dùng các loại chè của nhóm tuổi này, ta
thấy vấn đề coi trọng trớc tiên là chất lợng chè mà ít quan tâm đến bao bì mẫu
mã sản phẩm.Bên cạnh sở thích uống chè mộc, nhóm ngời này cũng rất a thích
sản phẩm chè ớp hơng.Qua đây đòi hỏi các công ty chè phải tìm biện pháp
nâng cao chất lợng sản phẩm, tạo những hơng vị đặc trng cho sản phẩm chè
của mình có nh vậy mới thu hút thêm nhu cầu tiêu dùng của nhóm ngời thuộc
lứa tuổi này .
-Nhóm ngời ở độ tuổi thanh niên:
Do yêu cầu của cuộc sống mà quĩ thời gian đối với họ rất eo hẹp xu h-
ớng tiêu dùng của những ngời thuộc lứa tuổi này là những sản phẩm nhanh
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
gọn, tiện dụng. Chính dựa vào đặc điểm này mà trong những năm qua các công
ty luôn đa ra sản phẩm mới nh chè hoà tan, chè túi nhúng với nhiều mùi vị
khác nhau chanh, cam xoài
Khi các sản phẩm này ra đời đã nhanh chóng thu hút đợc giới trẻ. Nhìn
chung giới trẻ uống chè với nhu cầu giải khát, họ ít quan tâm đến vị chát đợm,
hậu ngọt hay nớc của chè mà mà họ quan tâm đến mẫu mã, bao bì và sự tiện
dụng của sản phẩm. Họ yêu cầu về chất lợng chè không cao, khi lựa chọn chè
họ quan tâm đến hơng vị của chè và đặc biệt là nhãn hiệu sản phẩm. Mục đích
tiêu dùng của họ là muốn định vị chính mình, thể hiện phong cách của riêng
mình do đó nhãn hiệu chè nổi tiếng là yếu tố ảnh hởng quyết định đến sự lựa
chọn của họ.
Việc thu hút sức tiêu dùng của những ngời thuộc nhóm lứa tuổi này, các
công ty chè nớc ngoài rất thành công,họ liên tiếp tiến hành quảng bá và đa ra
thị trờng những sản phẩm chè mới đa dạng về mùi vị và chủng loại. Còn các
sản phẩm chè nhúng chè hoà tan của các công ty trong nớc tuy mẫu mã và h-
ơng vị không thua kém chè nớc ngoài nhng các công ty cha có chiến lợc định
vị phù hợp với tâm lí chung của giới trẻ .Trong tơng lai các công ty chè trong
nớc phải tích cực xây dựng chiến lợc phát triển khẳng định đợc hình ảnh của
mình mở rộng sức tiêu dùng chè .
Nhu cầu tiêu dùng chè cũng mang những khác biệt ở mỗi vùng khác
nhau.
Thú uống chè của ngời Việt đã trở thành văn hoá tập quán tiêu dùng,
khắp đất nớc từ đồng bằng đến miền núi, từ nông thôn đến thành thị không
vùng nào là không biết uống chè.Nhng ở mỗi vùng cách tiêu dùng chè của ngời
dân mang những đặc trng riêng .
Đối với ngời dân Bắc, có lẽ chè là thứ nớc uống gắn bó nhất trong
đời sống hàng ngày.
Văn hoá uống chè cũng mang những đặc trng riêng biệt của từng dân
tộc, dờng nh đồng bào dân tộc nào cũng uống chè và sành về chè theo cách
riêng của họ. Nh khu vực vùng núi cao Hà Giang ,Yên Bái có chè đặc sản là
chè tuyết,tuy vậy
Đối với ngời Dao (Yên Bái ) ngời dân thờng chọn bút non, lá non hái về
sao khô để qua đêm sau đó nhồi vào những ống bơng to rồi đa lên gác bếp.Khi
nhà có khách quí họ chỉ cần lấy trên gác bếp một ống bơng, quét sạch bồ hóng
rồi thận trọng gỡ bỏ nút lá chuối, rồi dùng móc lôi ra từng lớp chè giống nh
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
10
Chuyên đề tốt nghiệp
thuốc lào đóng bánh. Nớc ma đã đợc để giành cho vào ấm đun sôi rồi sau đó
cho những bánh chè vào ấm, một lúc sau khoảng 5 đến 10 phút thì rót chè ra
bát.
Chè cán pái hở của ngời Hà Giang lại khác uống với chè ống bơng của
ngời Dao ở Yên Bái,chè mọc trên vùng núi cao quanh năm mây che phủ, chè
sống bằng mùn đất do gió mang về và sống bằng hơi sơng khi mùa hanh khô
đến.Chè chỉ tơi tốt vào mùa xuân vào những ngày cuối xuân đầu hạ những ngời
dân ở Lũng Phìn Đồng Văn lên núi tìm chè.Chè đợc sao khô đợc cho vào hũ
hoặc chum hoặc gói buộc cẩn thận bằng lá dong lá chuối khô.Vào những ngày
phiên chợ đồng bào mang chè xuống chợ bán. Chè cán pái hở khi pha đợc n-
ớc rót ra bát, cạn nớc đến ngày hôm sau đổ đi không vấy bẩn chén, nhất là khi
đợc thởng thức chè trong ngôi nhà sàn bập bùng ánh lửa, chênh vênh trên sờn
núi cao hẳn là chẳng bao giờ quên cái tình ngời và cả hơng vị đậm đà nguyên
sơ của cán pái hở đã quấn quýt hoà quyện vào nhau.
Trong dân gian vẫn có câu Chè Mai Hiếu, điếu Sơn Vi, rợu Hạ Bì, men
Tòng Lệnh là ngời ta nói đến nét độc đáo của nền văn hoá ẩm thực trên vùng
đất Thanh Thuỷ - Phú Thọ. Ngời dân Mai Hiếu không hái búp làm chè khô mà
chỉ chuyên hái chè xanh, cây chè ở đây qua nhiều năm chăm sóc nên phát triển
rất tốt, lá chè nhỏ và dày, răng của mép lá đều, bẻ, vò giòn lách tách, mặt lá
ánh màu vàng xanh, khi nấu nớc vàng sánh toả mùi thơm hấp dẫn đặc trng của
chè. Ngời dân ở đây có cách nấu và uống chè xanh rất sành. Nớc nấu phải kén,
lấy nớc giếng đồi trong vắt hoặc nớc ma mái ngói, nớc ma giữa trời lọc sạch.
Không nấu nớc giếng có vôi sẽ làm cho chất chè có màu vàng đục uống nhạt
và mất mùi thơm. Khi nấu cần rửa chè từ hai đến ba nớc vuốt từng lá chè cho
sạch rồi bỏ vào xoong, cứ một lít nớc với một nắm lá chè to là vừa. Lúc đun
điểm chính là cho lửa cháy đều liên tục khi nớc sôi lấy đũa sạch đảo cho lớp
chè trên lật xuống dới, bỏ vào vài lát gừng thái mỏng cho dậy mùi, đậy vung
kín bắc xuống để độ 10 - 15 phút cho lá chè chín dần rồi chắt ra bát, màu nớc
chè vàng sánh nh mật toả ra mùi thơm ngọt, tuỳ thuộc vào sở thích của từng
ngời mà uống nóng hay uống nguội.
Cách thởng thức chè của ngời dân đồng bằng sông Hồng lại đợc đặc tr-
ng nổi bật nhất là thú uống chè của ngời Hà Nội. Vẻ thanh lịch trang nhã, sự
cầu kì trong ẩm thực của ngời Hà Nội đã nâng tính thẩm mỹ của chén chè lên
một trình độ cao. Xuất phát từ nông thôn nhng chính ngời Hà Nội có công giữ
gìn và đa dạng văn hoá uống chè của ngời Việt Nam. Ngời Hà Nội chỉ thích
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
11
Chuyên đề tốt nghiệp
uống chè Chính Thái đó là các sản phẩm chè mộc từ vùng Tân Cơng - Thái
Nguyên, ngời Hà Nội thờng tìm mua chè Thái ở các phố Hàng Điếu, phố Chùa
Bộc, Đây là hai dãy phố chuyên bán các sản phẩm chè rời, chè cân đóng
trong túi nilông. Hà Nội cũng chính là nơi xuất phát của cách uống chè ớp h-
ơng hoa. Các loại hoa để ớp chè cũng phải là thứ hoa qúi, thanh tao nh hoa
ngâu, hoa sói, hoa sen, hoa nhài, hoa cúc, Đặc biệt chè ớp hơng sen là thứ
chè quí, mỗi cân chè ngon ớp từ 100 -120 bông sen hồ Tây, phải là thứ sen cha
bóc cánh. ở Hà Nội hiện nay còn kkhoảng 30 gia đình làm loại chè này.
Khi nền kinh tế thị trờng phát triển nhất là khu vực thị trờng Hà Nội có
sự tràn ngập của nhiều loại nớc uống, nớc giải khát, cái phong thái, cái thanh
tao trong cách uống chè của ngời Hà Nội đã mai một. Nhận thấy điểm này mà
thành phố Hà Nội đã thực hiện chủ trơng của nhà nớc, xây dựng thủ đô văn
minh, hiện đại nhng vẫn giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống
tốt đẹp đã có trong tiềm thức của ngời dân. Nay để gợi cho ngời tiêu dùng
những nét văn hoá truyền thống, trở về với cội nguồn trở về với phong thái tĩnh
lặng khoan thai trong cách uống chè của ngời xa mà chè trở vềvới hàng loạt
những của hàng vừa bán chè khô vừa bán trà thơm ngon nổi tiếng: hàng cô Dầu
ở chợ Đồng Xuân, quán Nghệ sĩ ở Đinh Tiên Hoàng, quán Thăng Long ở Hàng
Gai, quán Dung Phi ở Cầu Gỗ, quán Bạch Ngọc sau đền Bà Triệu, các quán trà
tuần ở khu tập thể Thanh Xuân
Nét đặc trng trong phong cách uống trà của ngời Hà Nội là những quán
nớc trà bình dân. Có một thống kê cha đầy đủ về các quán hiện nay ở Hà Nội
là khoảng trên dới con số một ngàn có thể khẳng định ở thủ đô không phố
không đờng, không bến tàu xe nào là không có dăm 3 quán chè. Ngay cả
những phố trọng điểm nh phố Tràng Thi, Tràng Tiền, hàng Khay cũng không
thể không có những quán chè chén .Những quán chè vỉa hè Hà Nội thật đơn
giản mộc mạc và tràn đầy bụi bặm phố xá.Với ngời Hà Nội a chuộng nhất vẫn
là các sản phẩm chè mộc, ngày trớc thời bao cấp khi các loại nớc giải khát
không phong phú nh hiện nay thì chè năm xu vẫn là thứ nớc uống khoái khẩu
của tất cả các tầng lớp nhân dân, có lẽ vì đã ăn sâu vào tiềm thức nên chè quán
cóc là không thể thiếu . Ngoài cách uống chè nóng ngời dân còn uống chè
đá .Những quán cóc vỉa hè vừa là chỗ để mọi ngời tâm tình nói chuyện, vừa là
chỗ để cho mọi ngời giải khuây trao đổi các vấn đề về chính trị, thời sự .Không
giống nh một truyền thống nào nhng những quán cóc vỉa hè -quán nớc bụi lại
giống nh một điều gì đó khi nhớ về Hà Nội .
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy có nét khác biệt trong phong cách thởng thức chè nhng tựu chung
lại chè vẫn là thứ nớc uống số một của ngời dân miền Bắc, họ không chỉ uống
chè vào buổi sáng mà uống chè bất cứ khi nào trong ngày. Song buổi sáng sớm
khi mọc trời cha rạng, đợc coi là thời điểm tốt nhất để thởng thức cái tinh tuý
của chè. Uống chè có nhiều hình thức : Độc ẩm, song ẩm, tam ẩm. Ngời xa có
câu trà tam tửu tứ hay trà ngon phải có bạn hiền. Những giờ phút thởng
thức chè là những lúc gia đình bạn bè quây quần chia sẻ với nhau những vần
thơ, những triết lí của cuộc sống.Phong cách uống chè của ngời dân Bắc rất cầu
kì, chè ngon không chỉ phụ thuộc vào loại chè mà còn phụ thuộc vào cách pha
chế. Một số nơi rất cầu kì chọn nớc pha chè là nớc ma, đun bằng than củi, ấm
pha chè phải là ấm nung có hình hài nhỏ, trớc khi pha cả ấm cả chén đợc
nhúng vào nớc sôi cho có độ nóng, chè đợc rót vào chén tống sau đó từ chén
tống mới chiết ra chén quân, với các loại chè ngon khi vừa rót ra hơng thơm
bay ngào ngạt .
Nh vậy, truyền thống uống chè của ngời dân miền Bắc và ngời dân Hà
Nội mang phong cách rất đặc trng. Đây là cơ sở hay là nền tảng để các công ty
chè Việt nam có thể tôn vinh quảng cáo nhãn hiệu chè thông qua các trơng
trình mùa xuân tôn vinh văn hoá dân tộc, tuần văn hoá chè hoặc mở các
quán chè Việt mang phong cách trà đạo Việt nam ở các khu vực thành phố lớn
nh Hà Nội, Hải Phòng, Việt trì đồng thời thực hiện phát triển mở rộng ra khu
vực thị trờng miền Trung và miền Nam .
Trong chiến lợc phát triển của mình các công ty phải đặc biệt trú trọng
sự phù hợp của văn hoá tiêu dùng của từng vùng .
Đối với ngời miền Nam
Phong cách của ngời dân miền Nam có gì đó cởi mở, quan điểm sống rất
nổi bật chứ không kín đáo kiểu thanh tao nh của ngời Bắc, cho nên sở thích và
phong cách uống chè của ngời dân miền Nam thờng không cầu kì. Đa phần ng-
ời dân miền Nam thích chè uống hoa nhài, hoa sói, hoa ngâu để tăng thêm h-
ơng thơm cho mỗi chén chè. Đặc biệt nơi đây có khí hậu ôn đới rất thuận lợi để
phát triển loại chè có vị hoa quả, nhất là trong vùng Cần Thơ, Long An cho nên
có các loại chè có vị hoa quả mang nét đặc trng của vùng. Ngời miền Nam th-
ờng uống cafe vào các buổi sáng do đó uống chè chỉ đống vai trò thứ yếu, ngời
ta dùng chè để uốngđệm nên không có gì cầu kì trong cách uống , chè ngon ít
hay ngon nhiều không quan trọng .
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Phong cách uống chè của ngời miền trung nhất là ở Huế, lại thể hiện
sự giao hoà giữa hai miền Nam Bắc, ngời Huế vừa uống chè nóng, vừa uống
chè đá, xong lại thiên về chè nóng hơn. Chè dùng của ngời Huế vừa ớp hoa vừa
không ớp hoa, nhng sở thích có thêm hơng hoa vẫn là phần nhiều .ở miền
Trung chè đợc trồng ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế . Có lẽ
không có nơi đâu ngời dân lại thích uống chè xanh nh ở Nghệ An, việc buôn
chè xanh đã trở thành phờng hội .Cũng nh nhiều vùng nông thôn nớc ta, nớc
chè xanh xứ Nghệ đợc sử dụng nh một chất keo đặc biệt gắn bó tình cảm bà
con lân bang làng xóm .Sau một ngày lao động vất vả, ăn cơm tối xong ngời ta
nhóm họp nhau để uống chè xanh và trao đổi chuyện trò . Để đêm nào cũng đ-
ợc uống chè ngon các gia đình thờng luân phiên nhau nấu .
Qua những nét khác biệt trong phong cách uống chè của ngời dân Việt ở
các miền, đòi hỏi các công ty hay những ngời làm công tác nghiên cứu thị tr-
ờng phải hiểu rõ những nét đặc trng này từ đó mới đa ra những sản phẩm mới
và hình thức phân phối phù hợp .
Dự kiến nhu cầu tiêu dùng chè trong cả nớc
Đơn vị: Tấn
Thị trờng 2000 2010
Cả nớc
A.Phân theo khu vực
- Thành thị
- Nông thôn
40.000
22.000
18.000
60.000
38.000
22.000
Phạm Thị Thanh Thuỳ Marketing 41A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét