Các khoản thu và chi phí cho hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản được
hạch toán vào thu nhập và chi phí của doanh nghiệp.
- Điều chuyển tài sản cho đơn vị khác theo quyết định của đại diện chủ sở
hữu vốn. Trường hợp điều chuyển cho các đơn vị ngoài bộ, địa phương, tổng công
ty phải có sự thoả thuận của đại diện chủ sở hữu vốn bên nhận.
Căn cứ Biên bản giao nhận tài sản, doanh nghiệp giao, nhận tài sản hạch
toán tăng, giảm vốn theo giá trị trên sổ kế toán của bên giao. Trường hợp bên nhận
không chấp nhận giá trên sổ kế toán của bên giao thì hai bên thoả thuận giá giao
nhận. Phần chênh lệch so với giá ghi trên sổ kế toán hạch toán vào kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, những tài sản không cần
dùng, tài sản ứ đọng, tài sản chờ thanh lý chưa được xử lý thì không tính vào giá trị
doanh nghiệp. Doanh nghiệp tiếp tục xử lý số tài sản này trước khi có quyết định
giá trị doanh nghiệp. Đến thời điểm có quyết định giá trị doanh nghiệp, nếu còn tài
sản chưa xử lý, doanh nghiệp có trách nhiệm bảo quản, chuyển giao cho Công ty
Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp để xử lý theo quy định hiện
hành. Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp không bán lại tài
sản này cho doanh nghiệp.
c. Tài sản là công trình phúc lợi trước đây được đầu tư bằng nguồn quỹ phúc
lợi, khen thưởng được xử lý theo quy định tại khoản 3, Điều 10 Nghị định
187/2004/NĐ-CP.
d. Việc xác định giá trị và chia cổ phần cho người lao động đối với tài sản
dùng trong sản xuất kinh doanh đầu tư bằng nguồn Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi
được xử lý theo quy định tại khoản 4, Điều 10 Nghị định 187/2004/NĐ-CP. Cổ
phần chia cho người lao động được xác định theo giá đấu thành công bình quân.
đ. Tài sản phúc lợi được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hoặc có nguồn
gốc từ ngân sách, nếu doanh nghiệp cổ phần hoá tiếp tục sử dụng được tính vào giá
trị doanh nghiệp cổ phần hoá.
1.2. Nợ phải thu.
Các khoản nợ phải thu được xử lý theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 11
Nghị định 187/2004/NĐ-CP, trong đó:
a. Đối với những khoản nợ phải thu có đủ tài liệu chứng minh không có khả
năng thu hồi theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng thì xác
định rõ nguyên nhân, trách nhiệm cá nhân, tổ chức để xử lý bồi thường theo quy
định của pháp luật hiện hành. Phần tổn thất sau khi xử lý doanh nghiệp dùng nguồn
- 5 -
dự phòng nợ phải thu khó đòi để bù đắp, nếu thiếu thì hạch toán vào chi phí kinh
doanh của doanh nghiệp.
b. Đối với các khoản nợ phải thu quá hạn khác doanh nghiệp phải tiếp tục
đòi nợ hoặc bán nợ cho Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp
theo giá thoả thuận, không được trực tiếp bán nợ cho khách nợ. Khoản tổn thất từ
việc bán nợ được hạch toán vào chi phí kinh doanh.
c. Đối với các khoản doanh nghiệp đã trả trước cho người cung cấp hàng
hoá, dịch vụ như : tiền thuê nhà, tiền thuê đất, tiền mua hàng, tiền công nếu đã
hạch toán hết vào chi phí kinh doanh, doanh nghiệp đối chiếu hạch toán giảm chi
phí tương ứng với phần hàng hoá, dịch vụ chưa được cung cấp hoặc thời gian thuê
chưa thực hiện và hạch toán tăng khoản chi phí trả trước (hoặc chi phí chờ phân
bổ).
1.3. Nợ phải trả
Nguyên tắc xử lý nợ phải trả thực hiện theo quy định tại Điều 12 Nghị định
187/2004/NĐ-CP, trong đó:
a. Đối với các khoản nợ phải trả nhưng không phải thanh toán được hạch
toán tăng vốn nhà nước.
b. Đối với khoản nợ tồn đọng về thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà
nước được xử lý như sau:
Trường hợp bị lỗ, không thanh toán được thì doanh nghiệp lập hồ sơ đề nghị
giãn nợ, hoặc xoá nợ theo mức tối đa bằng số lỗ luỹ kế đến thời điểm xác định giá
trị doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành.
Doanh nghiệp có đủ điều kiện được xóa nợ và đã làm đủ thủ tục, nộp Hồ sơ
đề nghị xoá nợ, nhưng đến thời điểm quyết định giá trị doanh nghiệp vẫn chưa
nhận được quyết định xoá nợ thì cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh
nghiệp xem xét cho tạm giảm trừ nợ, giảm lỗ để xác định giá trị doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có trách nhiệm tiếp tục phối hợp với cơ quan tài chính để xử
lý. Khi có quyết định xử lý của Bộ Tài chính, nếu có chênh lệch so với số đã tạm
giảm trừ nợ doanh nghiệp hạch toán điều chỉnh báo cáo tài chính ở thời điểm chính
thức chuyển thành công ty cổ phần.
c. Đối với các khoản nợ tồn đọng vay ngân hàng thương mại nhà nước và
Quỹ Hỗ trợ phát triển:
- Trường hợp bị lỗ, không thanh toán được các khoản nợ quá hạn, doanh
nghiệp làm thủ tục đề nghị khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ theo quy định của pháp luật
hiện hành.
- 6 -
Đối với khoản nợ lãi vay chưa thanh toán (bao gồm cả lãi đã nhập gốc) được
ngân hàng thương mại nhà nước, Quỹ Hỗ trợ phát triển xem xét, xoá nợ với mức
không vượt quá số lỗ còn lại (sau khi đã xử lý nợ tồn đọng về thuế và các khoản
phải nộp ngân sách nhà nước).
Trong thời gian tối đa 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ của
doanh nghiệp, ngân hàng thương mại cho vay và Quỹ Hỗ trợ phát triển phải có ý
kiến xử lý bằng văn bản thông báo cho doanh nghiệp. Trường hợp đến thời điểm
công bố giá trị doanh nghiệp mà vẫn chưa nhận được ý kiến xử lý của bên cho vay,
doanh nghiệp được tạm loại khoản nợ lãi vay đề nghị xoá khỏi giá trị doanh nghiệp
để cổ phần hoá. Khi có quyết định xoá nợ, nếu có chênh lệch so với số đã tạm loại
ra khỏi giá trị, doanh nghiệp hạch toán điều chỉnh báo cáo tài chính trước khi chính
thức chuyển thành công ty cổ phần.
- Khoản nợ gốc quá hạn không được xóa xử lý như sau:
+ Doanh nghiệp làm đầy đủ thủ tục để chuyển giao cho công ty cổ phần kế
thừa trả nợ.
+ Thoả thuận với ngân hàng thương mại cho vay để chuyển nợ thành vốn
góp cổ phần.
+ Phối hợp với ngân hàng thương mại cho vay và Quỹ Hỗ trợ phát triển thực
hiện xử lý nợ theo phương thức bán nợ cho Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn
đọng của doanh nghiệp theo giá thoả thuận.
d. Đối với các khoản nợ vay nước ngoài quá hạn có bảo lãnh, doanh nghiệp
và người bảo lãnh phải đàm phán với chủ nợ để có phương án xử lý theo quy định
của pháp luật về quản lý vay nợ và trả nợ vay nước ngoài.
đ. Đối với khoản nợ bảo hiểm xã hội, nợ cán bộ công nhân viên, doanh
nghiệp có trách nhiệm thanh toán dứt điểm trước khi chuyển thành công ty cổ phần
để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
e. Việc chuyển nợ phải trả (bao gồm cả nợ phải trả người lao động) thành
vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần phải tuân thủ các quy định của Nhà nước về
quyền mua cổ phần lần đầu và quyền nắm giữ cổ phần chi phối của Nhà nước tại
doanh nghiệp, giá cổ phần phải xác định thông qua đấu giá.
1.4. Các khoản dự phòng, lỗ và lãi
Các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi,
dự phòng giảm giá chứng khoán, chênh lệch tỷ giá, dự phòng trợ cấp mất việc làm,
dự phòng tài chính và các khoản lỗ, lãi được xử lý theo quy định tại Điều 13 Nghị
định 187/2004/NĐ- CP, trong đó:
- 7 -
a. Số dư dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dùng để bù đắp khoản chênh lệch
giảm giá hàng tồn kho (kể cả khoản giảm giá do đánh giá lại hàng tồn kho ở thời
điểm xác định giá trị doanh nghiệp), phần còn lại hoàn nhập vào kết quả kinh
doanh.
b. Số dư dự phòng nợ phải thu khó đòi dùng để bù đắp nợ phải thu không có
khả năng thu hồi, phần còn lại hoàn nhập vào kết quả kinh doanh.
c. Số dư dự phòng chênh lệch giảm giá chứng khoán dùng để bù đắp phần
giảm giá chứng khoán thực tế, phần còn lại hoàn nhập vào kết quả kinh doanh.
d. Số dư dự phòng chênh lệch tỷ giá được sử dụng để bù đắp chênh lệch tỷ
giá phát sinh, phần còn lại hoàn nhập vào kết quả kinh doanh.
đ. Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm (trích lập đầy đủ theo chế độ quy
định) dùng để thanh toán trợ cấp cho lao động dôi dư trong quá trình cổ phần hoá.
Đến thời điểm chính thức chuyển sang công ty cổ phần, nếu còn thì hoàn nhập vào
kết quả kinh doanh.
e. Quỹ dự phòng rủi ro, dự phòng nghiệp vụ:
- Số dư Quỹ dự phòng rủi ro của các ngân hàng thương mại nhà nước xử lý
theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.
- Số dư Quỹ dự phòng nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm xử lý theo
hướng dẫn của Bộ Tài chính.
g. Quỹ dự phòng tài chính để bù lỗ (nếu có), bù đắp các khoản tổn thất về tài
sản (bao gồm cả giá trị theo sổ kế toán của tài sản không cần dùng, chờ thanh lý
không tính vào giá trị doanh nghiệp), nợ không thu hồi được, còn lại tính vào giá trị
phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
h. Lãi phát sinh để bù lỗ các năm trước (nếu có), bù đắp các khoản tổn thất
về tài sản (bao gồm cả giá trị theo sổ kế toán của tài sản không cần dùng, chờ thanh
lý không tính vào giá trị doanh nghiệp), giảm giá tài sản, nợ không có khả năng thu
hồi, còn lại phân phối theo quy định hiện hành .
i. Các khoản lỗ doanh nghiệp dùng quỹ dự phòng tài chính và lợi nhuận
trước thuế để bù đắp. Trường hợp thiếu thực hiện biện pháp xoá nợ ngân sách nhà
nước và nợ ngân hàng thương mại nhà nước theo quy định tại điểm 1.3 phần B
Mục II Thông tư này.
Sau khi áp dụng các giải pháp trên mà doanh nghiệp cổ phần hoá vẫn còn lỗ,
cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét giảm vốn nhà nước.
1.5. Vốn đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp khác như góp vốn liên doanh,
liên kết, góp vốn cổ phần, góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và các
- 8 -
hình thức đầu tư dài hạn khác được xử lý theo quy định tại Điều 14 Nghị định
187/2004/NĐ-CP, trong đó:
a. Trường hợp doanh nghiệp có kế thừa liên doanh, phải tính giá trị vốn góp
liên doanh vào giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Điều 20 của Nghị định
187/2004/NĐ-CP
b. Trường hợp các doanh nghiệp không kế thừa liên doanh thì cơ quan có
thẩm quyền quyết định cổ phần hoá xem xét, xử lý như sau:
- Bán lại khoản vốn góp của doanh nghiệp cho đối tác hoặc nhà đầu tư khác.
Giá bán phải sát với giá thị trường, nhưng không thấp hơn giá trị phần vốn góp theo
báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất với thời điểm bán.
- Chuyển giao cho doanh nghiệp khác làm đối tác sau khi thỏa thuận, thống
nhất với đối tác liên doanh.
- Trường hợp doanh nghiệp và đối tác liên doanh thống nhất chấm dứt hợp
đồng liên doanh xử lý theo pháp luật hiện hành về xử lý tài chính đối với công ty
nhà nước khi doanh nghiệp liên doanh chấm dứt hoạt động.
1.6. Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi:
a. Số dư bằng tiền của Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi được chia cho
người lao động có tên trong danh sách thường xuyên của doanh nghiệp tại thời
điểm quyết định cổ phần hoá để mua cổ phần. Giám đốc doanh nghiệp quyết định
việc phân chia sau khi thoả thuận với tổ chức công đoàn.
b. Trường hợp doanh nghiệp đã chi quá nguồn Quỹ khen thưởng, phúc lợi
được giảm trừ vào giá trị thực tế của tài sản đang sử dụng cho sản xuất kinh doanh
được đầu tư bằng nguồn quỹ khen thưởng, phúc lợi. Nếu còn thiếu xử lý như sau:
- Đối với khoản đã chi trực tiếp cho người lao động có tên trong danh sách
thường xuyên tại thời điểm có quyết định cổ phần hoá thì doanh nghiệp phải thu
hồi trước khi thực hiện bán cổ phần ưu đãi.
- Đối với các khoản còn lại như: khoản bị xuất toán, chi biếu tặng; chi cho
người lao động đã nghỉ mất việc, thôi việc trước thời điểm quyết định cổ phần hoá
thì doanh nghiệp báo cáo cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp xử lý như đối với
khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi.
2. Từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp đến thời điểm chính thức
chuyển thành công ty cổ phần.
2.1. Thời gian được xử lý tài chính giữa hai thời điểm này không quá 6 tháng
kể từ ngày công bố giá trị doanh nghiệp.
- 9 -
2.2. Khi có quyết định công bố giá trị, doanh nghiệp có trách nhiệm:
a. Điều chỉnh sổ kế toán và bảng cân đối kế toán theo chế độ kế toán Nhà
nước quy định.
b. Bảo quản và bàn giao các khoản nợ và tài sản đã loại trừ khi xác định giá
trị doanh nghiệp (kèm theo hồ sơ có liên quan) cho Công ty Mua bán nợ và tài sản
tồn đọng của doanh nghiệp trong thời gian tối đa là 30 ngày.
c. Hạch toán đầy đủ các khoản chi phí liên quan đến việc thực hiện cổ phần
hoá phát sinh.
2.3. Trong thời gian 30 ngày sau khi chính thức chuyển thành công ty cổ
phần, doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính tại thời điểm được cấp chứng nhận
đăng ký kinh doanh gửi các cơ quan quản lý theo quy định của pháp luật về chế độ
quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trong thời gian 30 ngày sau khi nhận được báo cáo tài chính, cơ quan có
thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp thực hiện kiểm tra, xử lý những vấn đề
tài chính phát sinh giữa hai thời điểm; xác định lại giá trị phần vốn nhà nước, quyết
định điều chỉnh vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; tổ chức bàn giao giữa doanh
nghiệp và công ty cổ phần; gửi kết quả xác định lại giá trị doanh nghiệp cho Bộ Tài
chính.
2.4. Khoản chênh lệch giữa giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại thời điểm
công ty nhà nước chuyển sang công ty cổ phần với giá trị thực tế phần vốn nhà
nước tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được xử lý như quy định tại Điều
25 của Nghị định 187/2004/NĐ-CP. Trường hợp phát sinh chênh lệch giảm (bao
gồm cả do kinh doanh bị thua lỗ) phải làm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan
trước khi xử lý, trong đó:
a. Chênh lệch giảm do nguyên nhân khách quan là các khoản tổn thất do
thiên tai, địch hoạ; do Nhà nước thay đổi chính sách hoặc do biến động của thị
trường quốc tế và các nguyên nhân bất khả kháng khác.
b. Các trường hợp còn lại được xác định là nguyên nhân chủ quan. Cơ quan
quyết định cổ phần hoá không lựa chọn các cá nhân có trách nhiệm đến khoản
chênh lệch giảm làm đại diện phần vốn Nhà nước góp tại công ty cổ phần.
3. Bàn giao tài sản, vốn.
Căn cứ quyết định điều chỉnh giá trị doanh nghiệp tại thời điểm đăng ký kinh
doanh chuyển thành công ty cổ phần, Ban chỉ đạo cổ phần hoá chỉ đạo doanh
nghiệp điều chỉnh sổ kế toán, lập hồ sơ bàn giao và tổ chức bàn giao giữa doanh
nghiệp và công ty cổ phần.
- 10 -
3.1. Hồ sơ bàn giao bao gồm:
a. Hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp và quyết định công bố giá trị doanh
nghiệp.
b. Báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán thuế tại thời điểm chính thức
chuyển thành công ty cổ phần .
c. Quyết định giá trị doanh nghiệp tại thời điểm chuyển thành công ty cổ
phần của cơ quan có thẩm quyền.
d. Biên bản bàn giao tài sản, tiền vốn được lập tại thời điểm bàn giao .
3.2. Thành phần bàn giao gồm:
a. Đại diện Bộ quản lý ngành hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương và đại diện Bộ Tài chính (trường hợp cổ phần hoá toàn bộ tổng
công ty).
b. Đại diện tổng công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị (trường hợp cổ phần
hoá doanh nghiệp thành viên tổng công ty), giám đốc, kế toán trưởng công ty nhà
nước đại diện cho bên giao.
c. Chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc, kế toán trưởng và đại diện tổ chức
công đoàn công ty cổ phần đại diện cho bên nhận.
3.3. Biên bản bàn giao phải có đầy đủ chữ ký của thành phần bàn giao và
phải ghi rõ:
a. Tình hình tài sản, tiền vốn, lao động có tại thời điểm bàn giao.
b. Quyền lợi và nghĩa vụ công ty cổ phần tiếp tục kế thừa.
c. Những tồn tại công ty cổ phần có trách nhiệm tiếp tục giải quyết.
III. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
A. PHƯƠNG PHÁP TÀI SẢN
1. Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ
sở đánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm
xác định giá trị doanh nghiệp.
- 11 -
2. Đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp cổ phần hoá, trừ những doanh
nghiệp thuộc đối tượng phải áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu quy định
tại điểm 2 phần B Mục III Thông tư này.
3. Giá trị doanh nghiệp theo sổ kế toán là tổng giá trị tài sản thể hiện trong
Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo sổ kế toán bằng giá trị
doanh nghiệp theo sổ kế toán trừ (-) các khoản nợ phải trả, số dư Quỹ phúc lợi,
khen thưởng và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có).
4. Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có
của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp có tính đến khả năng
sinh lời của doanh nghiệp.
4.1. Giá trị thực tế của doanh nghiệp không bao gồm:
a. Giá trị tài sản thuê, mượn, nhận góp vốn liên doanh, liên kết;
b. Giá trị tài sản không cần dùng, ứ đọng, chờ thanh lý;
c. Các khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi;
d. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang của công trình đã bị đình hoãn trước thời
điểm xác định giá trị doanh nghiệp theo quyết định của cấp có thẩm quyền;
đ. Các khoản đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác được chuyển cho đối tác
khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
e. Tài sản thuộc công trình phúc lợi được đầu tư bằng nguồn Quỹ khen
thưởng, Quỹ phúc lợi của doanh nghiệp và nhà ở của cán bộ, công nhân viên trong
doanh nghiệp.
4.2. Căn cứ xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm xác định
giá trị doanh nghiệp:
a. Số liệu trên sổ kế toán của doanh nghiệp;
b. Số lượng và chất lượng tài sản theo kiểm kê phân loại thực tế;
c. Tính năng kỹ thuật của tài sản, nhu cầu sử dụng và giá thị trường;
d. Giá trị quyền sử dụng đất, khả năng sinh lời của doanh nghiệp (vị trí địa
lý, uy tín của doanh nghiệp, mẫu mã, thương hiệu, ).
5. Xác định giá trị thực tế tài sản:
- 12 -
Giá trị thực tế tài sản được xác định bằng đồng Việt Nam. Tài sản đã hạch
toán bằng ngoại tệ được quy đổi thành đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình
quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại
thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
5.1. Đối với tài sản là hiện vật:
a. Chỉ đánh giá lại những tài sản mà công ty cổ phần tiếp tục sử dụng.
b. Giá trị thực tế của tài sản = Nguyên giá tính theo giá thị trường nhân (x)
Chất lượng còn lại của tài sản tại thời điểm định giá.
Trong đó:
- Giá thị trường là:
+ Giá tài sản mới đang mua, bán trên thị trường bao gồm cả chi phí vận
chuyển lắp đặt (nếu có). Nếu là tài sản đặc thù không có trên thị trường thì tính
theo giá mua mới của tài sản cùng loại, cùng nước sản xuất, có cùng công suất hoặc
tính năng tương đương. Trường hợp không có tài sản tương đương thì tính theo giá
tài sản ghi trên sổ kế toán.
+ Đơn giá xây dựng cơ bản, suất đầu tư do cơ quan có thẩm quyền quy định
đối với tài sản là sản phẩm xây dựng cơ bản. Trường hợp chưa có quy định thì tính
theo giá trị quyết toán công trình được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Riêng đối với các công trình mới hoàn thành đầu tư xây dựng trong 03 năm
trước khi xác định giá trị doanh nghiệp: sử dụng giá trị quyết toán công trình đã
được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Chất lượng của tài sản được xác định bằng tỷ lệ phần trăm so với chất
lượng của tài sản cùng loại mua sắm mới hoặc đầu tư xây dựng mới, phù hợp với
các quy định của Nhà nước về điều kiện an toàn trong sử dụng, vận hành tài sản;
chất lượng sản phẩm sản xuất; vệ sinh môi trường theo hướng dẫn của các Bộ quản
lý ngành kinh tế kỹ thuật. Nếu chưa có quy định của Nhà nước thì chất lượng tài
sản được đánh giá không thấp hơn 20%.
c. Tài sản cố định đã khấu hao thu hồi đủ vốn; công cụ lao động, dụng cụ
quản lý đã phân bổ hết giá trị vào chi phí kinh doanh nhưng công ty cổ phần tiếp
tục sử dụng phải đánh giá lại để tính vào giá trị doanh nghiệp theo qui định tại điểm
5.1 b phần A Mục III Thông tư này.
5.2. Tài sản bằng tiền gồm tiền mặt, tiền gửi và các giấy tờ có giá (tín phiếu,
trái phiếu, ) của doanh nghiệp được xác định như sau:
a. Tiền mặt được xác định theo biên bản kiểm quỹ.
b. Tiền gửi được xác định theo số dư đã đối chiếu xác nhận với ngân hàng.
- 13 -
c. Các giấy tờ có giá thì xác định theo giá giao dịch trên thị trường. Nếu
không có giao dịch thì xác định theo mệnh giá của giấy tờ.
5.3. Các khoản nợ phải thu tính vào giá trị doanh nghiệp được xác định theo
số dư thực tế trên sổ kế toán sau khi xử lý như quy định tại điểm 1.2 phần B Mục II
Thông tư này.
5.4. Các khoản chi phí dở dang: đầu tư xây dựng cơ bản, sản xuất kinh
doanh, sự nghiệp được xác định theo thực tế phát sinh hạch toán trên sổ kế toán.
5.5. Giá trị tài sản ký cược, ký quỹ ngắn hạn và dài hạn được xác định theo
số dư thực tế trên sổ kế toán đã được đối chiếu xác nhận.
5.6. Giá trị tài sản vô hình (nếu có) được xác định theo giá trị còn lại đang
hạch toán trên sổ kế toán. Riêng giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo quy
định tại điểm 6 phần A Mục III Thông tư này.
5.7. Giá trị lợi thế kinh doanh
Giá trị lợi thế kinh doanh tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá theo quy
định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định 187/2004/NĐ-CP, trong đó giá trị lợi thế kinh
doanh của doanh nghiệp được xác định theo công thức sau:
Giá trị lợi thế
kinh doanh của
doanh nghiệp
=
Giá trị phần vốn
nhà nước theo sổ
kế toán tại thời
điểm định giá
x
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên vốn nhà nước
bình quân 3 năm trước
thời điểm xác định giá
trị doanh nghiệp
-
Lãi suất trái phiếu Chính
phủ có kỳ hạn 10 năm
trở lên tại thời điểm gần
nhất với thời điểm xác
định giá trị doanh nghiệp
Trong đó:
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên vốn nhà nước
Lợi nhuận sau thuế bình quân 3 năm liền kề
trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
Bình quân 3 năm trước = x 100%
thời điểm xác định
giá trị doanh nghiệp
Vốn nhà nước theo sổ kế toán bình quân 3 năm liền
kề trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
5.8. Giá trị vốn đầu tư dài hạn của doanh nghiệp tại các doanh nghiệp khác
được xác định theo quy định tại Điều 20 Nghị định 187/2004/NĐ-CP.
6. Giá trị quyền sử dụng đất.
Việc tính giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị doanh nghiệp theo quy
định tại khoản 1, khoản 2 Điều 19 Nghị định 187/2004/NĐ-CP, trong đó:
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét