Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

vai trò của tri thức với hoạt động của con người

Khi cách mạng tháng Tám thành công, trong nhiều bộn bề lo toan của chính quyền
non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh chỉ thị chi các địa phương tìm kiếm người
hiền tài để báo cáo với Chính phủ. Bác Hồ là một chuẩn mực nhất về “chiêu hiền đãi
sỹ”, rất nhiều bậc nhất trí thức danh tiếng đã được Bác cảm hóa và phụng sự Tổ quốc
đến cùng.
Lịch sử loài người hiện nay đang ở trong thời kỳ bùng nổ về khoa học – công nghệ
với những thành tựu vượt bậc trong công nghệ thông tin đã đưa con người tiệm cận với
một nền văn minh mới: Nền văn minh của nên kinh tế trí thức. Nếu không có những
phát minh kỳ diệu của các nhà khoa học thì làm sao có được những thành tựu khoa học
– công nghệ mà con người có được ngày hôm nay. Con người vẫn là yếu tố hàng đầu để
quyết định mọi vấn đề.
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa là nền tảng đầu tiên để đưa nước ta thoát khỏi tình
trạng kém phát triển: cần phải tập trung nguồn lực đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ,
áo dụng những thành tựu về khoa học – công nghệ trong nước và ngoài nước để tạo
những bước đột phá trong lĩnh vực phát triển kinh tế, trong đó vấn đề năng suất – chất
lượng đạt được coi là yếu tố sống còn của nền kinh tế.
Hội nhập quốc tế là một cơ hội đồng thời đây là một thách thức đối với nước ta nói
chung và tỉnh Cà Mau nói riêng. Khi Việt Nam thành thành viên chính thức Wto, tổ
chức thương mại quốc tế lớn nhất hành tinh, đây là cơ hội vàng để các sản phẩm Việt
Nam được tham gia tự so trên thị trường thế giới và cũng là cơ hội đế đón nhận các làn
sóng đầu tư và du nhập các công nghệ mới. Nhưng chúng ta cũng đứng trước những
thách thức cực kỳ gay go phức tạp, đó là các sản phẩm hàng hóa Việt Nam muốn tham
gia hội nhập quốc tế phải vượt qua 2 rào cản đó là: Rào cản kỹ thuật và rào cản thương
mại.
Trước thời cơ vận hội và những thách thức đang đến với chúng ta vao trò của đội
ngũ trí thức trong ngành kinh tế - xã hội và kể cả quản lý nhà nước hết sức quan trọng.
5
Nói đúng hơn là không có đội ngũ này thì chúng ta rất khó khi tiến hành công nghiệp
hóa – hiện đại hóa và tham gia hội nhập quốc tế thành công.
Vì vậy cần phải chuẩn bị thật tốt các điều kiện để tham gia hội nhập quốc tế trong
đó nguồn nhân lực trí thức được coi là quan trọng hàng đầu. Đội ngũ trí thức trong thời
kỳ mới phải đầy đủ kỹ năng, bản lĩnh để cạnh tranh với thị trường quốc tế, phải có lòng
tự tôn tự hào dân tộc để ngẩng cao đầu và sánh vai với các cường quốc năm châu.
Khẩn trương hình thánh các vườn ươm khoa học công nghệ để thu hút, đào tạo,
tuyển chọn người tài để hình thành các doanh nghiệp khoa học – công nghệ, trong đó
chú trọng tiếp cận phát triển công nghệ cao, một xu hướng phát triển hiện nay của thế
giới.
Có chính sách đãi ngộ, đề bạt, cân nhắc đối với những trí thức có đóng góp đối với
kinh tế - xã hội tỉnh nhà. Thu hút người tài, trọng dụng kẻ sỹ vẫn là kế sách của muôn
đời nay, nhưng tài là phải là tài thật sự, tài phải có đức thì mới phụng sự Tổ quốc,
phụng sự nhân dân được.
3.Tri thức là sức mạnh của con người
- Trong lịch sử nước nhà, mỗi thắng lợi vang dội đều là kết quả của nguồn lực tổng
hợp toàn dân tộc, và trên mỗi chặng đường đều có dấu ấn để lại của những trí thức, kể
cả từ rất xa xưa như Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, La Sơn Phu Tử, Nguyễn Du… Để
thành công trong cuộc hội nhập khốc liệt hiện nay, chúng ta lại càng phải chân nhận rõ
những giá trị quý giá của dân tộc. Báo Điện tử VietNamNet cùng tạp chí Khoa học và
Tổ quốc sẽ cùng phối hợp mở cuộc thảo luận với chủ đề “Trí thức Việt Nam”. Để mở
đầu cuộc thảo luận, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của PGS. TS. Chu Hảo.
6
Thật ra ngay từ khi từ trí thức
(intellectuel), lần đầu tiên xuất hiện dưới
dạng danh từ chỉ một loại công dân của
Pháp thời kỳ sau Công xã Paris, cuối thế
kỷ 19, đã mang một ý nghĩa khá rõ ràng:
đó là những người không chỉ có học vấn
hay trình độ chuyên môn cao, mà hơn
hết phải là những người quan tâm và có
chính kiến trước những vấn đề chính trị
– xã hội nóng bỏng của thời cuộc.
(1)
Cũng trong tinh thần cách mạng ấy Karl
Marx đã coi trí thức là những người có
đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến
riêng đối với các vấn đề của xã hội nên
họ phải là những người “phê bình không
nhân nhượng những gì đang hiện hữu,
không nhân nhượng với nghĩa rằng họ
không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền,
bất cứ chính quyền nào”.
(2)
Với những hiểu biết trên đây, chúng ta có thể
suy ra rằng tầng lớp trí thức của xã hội có thiên chức
sau: Tiếp thu và truyền bá tri thức hoặc/và văn hóa;
Sáng tạo các giá trị mới của tri thức hoặc/và văn
hóa; Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ
trương chính sách và biện pháp giải quyết các vấn
đề của xã hội; Dự báo và định hướng dư luận xã hội.
Hình chụp năm 1948 tại chiến khu, với
những trí thức Việt Nam yêu nước, từ phải
sang trái là các vị Đinh Văn Thắng, Tôn
Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn
Huyên, Đỗ Xuân Hợp, Vũ Văn Cẩn,
Nguyễn Trinh Cơ (ảnh: www.hmu.edu.vn)
PGS. TS. Chu Hảo
7
Xã hội văn minh nào cũng phải có một tầng lớp trí thức ưu tú như vậy. Trong lịch
sử dân tộc ta, thời nào cũng có những trí thức kiệt xuất. Tầng lớp sỹ phu trong những
triều đại hưng thịnh của nước ta rõ ràng có nhiều điểm tương đồng với khái niệm tầng
lớp trí thức như được nói đến ở trên.
Ngày nay trong cụm từ “Liên minh Công – Nông – Trí” tôi ngờ rằng chúng ta đã
dùng từ “trí” để chỉ những người lao động trí óc (kỹ sư, bác sỹ, nhà văn, họa sỹ, v.v…)
chứ không phải là trí thức theo cách hiểu thông thường của thế giới hiện đại. Trong số
rất đông những người lao động trí óc đó chỉ có một số là trí thức thực thụ mà thôi. “Một
số” này đã quy tụ lại (chủ yếu là thông qua diễn đàn, dư luận) thành một tầng lớp trí
thức với đúng nghĩa của nó hay chưa vẫn còn là một vấn đề cần được thảo luận.
Đã là trí thức thì ở nước nào cũng vậy, thời đại nào cũng vậy, đều có tính cách
chung là: tôn thờ lý tưởng Chân – Thiện – Mỹ; độc lập tư duy; hoài nghi lành mạnh; và
tự do sáng tạo. Tuy nhiên mỗi dân tộc đều có tính cách riêng, tầng lớp trí thức của mỗi
dân tộc cũng có bản sắc riêng.
Chúng ta thường nghe nói: trí thức Trung Hoa thâm thúy (thâm nho), trí thức Nhật
khiêm tốn (đến khách khí), trí thức Nga sâu sắc đôn hậu, trí thức Mỹ thực dụng, trí thức
Anh lạnh lùng tỉnh táo, trí thức Pháp hào hoa phong nhã v.v… Vậy trí thức Việt Nam
có đặc điểm gì? Tôi đã từng nghe ông K.G. nói đến tính cách “phò chính thống”; bà
P.T.H. nói đến tính cách “quan văn”, tựu chung lại là tính “thích được chính quyền sử
dụng”. Có nhiều người nói là tính cách “tùy thời”, nghe có vẻ dễ chịu hơn chữ “cơ hội”
hay là “hèn” mà một số bạn đồng nghiệp của chúng ta không ngại ngần khẳng định.
Nguyên cớ gì mà phải “hèn”? Đã “hèn” làm sao có nhân cách? Thiếu nhân cách liệu có
xứng đáng là trí thức? Nhiều ý kiến cho rằng bi kịch của giới trí thức Việt Nam chính là
ở chỗ này! Nhưng như vậy có lẽ chưa được công bằng cho lắm! Vậy thực sự trí thức
Việt Nam có đặc tính gì?
8
Ngay từ những ngày đầu của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã từng nói: “Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng
chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó
khăn thêm nhiều”.
(3)
Chính Hồ Chủ Tịch là một trí thức đi làm cách mạng. Với tư cách ấy, có lẽ Người
đã nói về vai trò của trí thức một cách khiêm tốn như trên. Nhưng bây giờ, sau hơn nửa
thế kỷ nhìn lại, chúng ta có thể thấy rằng vai trò của họ trong những tháng năm đầu tiên
của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn quan trọng hơn thế nhiều. Hồ Chủ Tịch đã
hết sức trọng dụng tầng lớp trí thức ưu tú của dân tộc, tạo điều kiện cho họ được cống
hiến, được thể hiện đầy đủ nhất vai trò và trách nhiệm của mình trong sự nghiệp chung
của toàn dân.
Ngày nay, khi đất nước ta đang bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiếp tục đổi
mới toàn diện, hội nhập vào nền kinh tế tri thức toàn cầu thì vai trò và trách nhiệm của
tầng lớp trí thức càng quan trọng và nặng nề hơn. Đổi mới càng sâu sắc và toàn diện
càng đòi hỏi phải đổi mới tư duy triệt để; muốn vậy phải có tầm trí tuệ rất cao. Tầm trí
tuệ cao ấy phải có sự can dự của tầng lớp trí thức ưu tú của dân tộc.
Toàn cầu hóa buộc chúng ta phải hội nhập một cách ngang tầm trong mọi lĩnh vực.
Trí thức Việt Nam cũng phải phấn đấu để có thể ngang tầm với tầng lớp trí thức của các
nước tiên tiến khác. Điều đó thật không dễ dàng nếu chúng ta thẳng thắn và dũng cảm
nhìn vào thực trạng đội ngũ trí thức nước nhà. Không ai nâng cao được vai trò của trí
thức nếu giới trí thức của chúng ta không tự khẳng định được mình! Không ai san sẻ
trách nhiệm với trí thức được; chỉ có trí thức mới thi hành được thiên chức của mình;
vinh quang và cay đắng gắn liền với thiên chức ấy cũng chỉ dành riêng cho giới trí thức
mà thôi!
9
III.Vai trò của tri thức với xã hội
1. Vai trò tri thức đối với chính trị
Tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiến thức.Người có tri thức là
có khả năng tư duy lý luận,khả năng phân tích tiếp cận vấn đề một cách sát thực,đúng
đắn.Điều này rất quan trọng,một đất nước rất cần những con người như vây để điều
hành công việc chính trị.Nó quyết định đến vận mệnh của một quốc gia.Đại hội VI của
Đảng đã đánh dấu một sự chuyển hướng mạnh mẽ trong nhận thức về nguồn lực con
ngươì.Đại hội nhấn mạnh:”Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người
làm mục đích cao nhất của mọi hoạt đông”chiến lược phát triển con người đang là chiến
lược cấp bách.Chúng ta cần có những giải pháp trong việc đào tạo cán bộ và hệ thống tổ
chức :
Tuyển chọn những người học rộng tài cao,đức độ trung thành với mục tiêu xã hội
chủ nghĩa,thuộc các lĩnh vực,tập trung đào tạo,bồi dưỡng cho họ những tri thức còn
thiếu và yếu để bố trí vào các cơ quan tham mưu hoạch định đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật của nhà nước với những qui định cụ thể về chế độ trách nhiệm quyền
hạn và lợi ích.
Sắp xếp các cơ quan nghiên cứu khoa học –công nghệ và giáo dục-đào tạo thành
một hệ thống có mối liên hệ gắn kết với nhau theo liên ngành,tạo điều kiện thuận lợi tối
đa cho hợp tác nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tĩên. Hợp nhất các
viện nghiên cứu chuyên ngành vào trường đại học và gắn kết trường đại học và các
công ty,xí nghiệp.Các cơ quan nghiên cứu và đào tao được nhận đề tài, chỉ tiêu đào tạo
theo chương trình,kế hoạch và kinh phí dựa trên luận chứng khả thi được trách nhiệm
của người đứng đầu cơ quan.
Hàng năm theo định kỳ có những cuộc gặp chung giữa những người có trọng trách
và các nhà khoa học đầu nganh của các cơ quan giáo dục-đào tạo và trung tâm khoa
10
học lớn của quốc gia,liên hiệp các hội khoa học Việt Nam…với sự chủ tri của đồng trí
chủ tịch,sự tham gia của các thành viên Hội đồng giáo dục -đào tạo và khoa học-công
nghệ quốc gia về những ý kiến tư vấn,khuyến nghị của tập thể các nhà khoa học với
Đảng và nhà nước về định hướng phát triển giáo dục-đào tạo.Phát triển khoa học –công
nghệ,cách tuyển chon và giao chương trình đề tài,giới thiệu những nhà khoa học tài
năng để viết giáo khoa,giáo trình,làm chủ nhiệm chương trình,đề tài và tham gia các hội
đồng xét duyệt,thẩm định nghiệm thu các chương trình,đề tài khoa học cấp Nhà nước.
Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam cần thường xuyên và phát huy trí tuệ của các
nhà khoa học,dân chủ thảo luận để đưa ra được những ý kiến tư vấn,những khuyến nghị
xác thực có giá trị với Đảng,Nhà nước và động viên tập hợp lực lượng các hội viên tiến
quân mạnh mẽ vào các lĩnh vực khoa học và công nghệ mà đất nước đang mong chờ để
sớm thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển.
2. Vai trò tri thức đối với văn hoá-giáo dục
Tri thức cũng có vai trò rất lớn đến văn hoá -giáo dục của một quốc gia. Nó giúp
con người có được khả năng tiếp cận,lĩnh hội những kiến thức ,ý thức của con người
được nâng cao.Và do đó nền văn hoá ngày càng lành mạnh.Có những hiểu biết về tầm
quan trọng của giáo dục.Từ đó xây dựng đất nước ngày càng lớn mạnh,phồn vinh
Văn minh phương Tây có truyền thống giáo dục theo tinh thần tự do từ lâu đời, ở
đó kiến thức tổng quát, sự hiểu biết và tôn trọng ý kiến của người khác được coi là điểm
nhấn của toàn bộ sự phát triển cá nhân trong đó có việc đào t¹o nghề nghiệp.
Tư tưởng này có lẽ đã bắt đầu từ Hy lạp cổ đại và ngày càng trở nên rõ ràng hơn
đối với ba khoa là ngữ pháp, tu từ và logic, và sau này là tứ khoa dạy ở nhà trường
trung cổ: số học, hình học, thiên văn và âm nhạc. Truyền thống này vẫn tiếp tục đến
ngày nay và hiện nay giáo dục tri thức tổng quát theo tinh thần trên vẫn là một thành tố
quan trọng của giáo dục đại học ở tất cả các quốc gia phát triển. Vai trò của nó trong
11
việc tạo nên các nhà lãnh đạo và những công dân ưu tú thể hiện rất rõ trong lãnh vực
nhà nước cũng như tư nhân. Khó lòng có được một số liệu thống kê có tính toàn cầu,
nhưng ấn tượng dễ thấy là mối quan tâm đối với chương trình giáo dục tri thức tổng
quát đang phát triển mạnh ở phương Tây.
Có thể thấy rõ sự tương phản ở các quốc gia đang phát triển. Nhất là từ sau thế
chiến thứ hai, khi những quốc gia này giành được độc lập thì giáo dục tri thức tổng quát
trở thành một cái gì được coi là xa xỉ và không cần thiết. Điều đó được phản ánh trong
chương trình của cả giáo dục phổ thông lẫn giáo dục đại học, nơi mà việc đào tạo nghề
nghiệp thường được coi trọng hơn. Nhà nước tránh xa chương trình giáo dục tri thức
tổng quát, coi đó như sản phẩm của những kẻ coi mình là ưu việt, biểu tượng cho những
giá trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây đang bị thù ghét, và để có nó, ắt là phải trả
một giá đắt. Chỉ đến thời gian rất gần đây mới có những dấu hiệu cho thấy là thái độ đó
đang thay đổi, nhưng nhận thức về lợi ích của chương trình giáo dục tri thức tổng quát
vẫn còn là điều còn xa mới có thể trở thành phổ biến.
Bài viết này sẽ trình bày vai trò sống còn của giáo dục tri thức tổng quát đối với
các trường đại học và cao đẳng ở các quốc gia đang phát triển – cả trong chương trình
đào tạo đại học lẫn sau đại học. Những điều chúng tôi trình bày sau đây là sự suy xét
dựa trên kết quả nghiên cứu và quan sát ở nhiều quốc gia khác nhau. Tất nhiên chúng ta
phải hiểu rằng mỗi quốc gia là một trường hợp cụ thể và không thể đưa ra những chứng
minh đúng cho tất cả mọi trường hợp. Tuy vậy chúng tôi tin rằng những nhận định này
là dựa trên cơ sở lịch sử và logic.
IV. Vai trò của tri thức với kinh tế
1. Tri thức là nguồn lực quan trọng nhất của phát triển kinh tế
Phát triển là một quá trình qua đó con người trở nên ý thức được các cơ hội và
thách thức, hình thành nên các phản ứng, đưa ra các quyết định và khởi xướng ra các
12
hoạt động có tổ chức. Qúa trình này tuân theo một trình tự từ tri thức tới cảm hứng rồi
tới hành động. Con người tiếp nhận tri thức, qua đó họ nhận thức được các cơ hội và
thách thức. Khi tri thức đó đạt đến một mức nhất định (chín mùi), họ có động lực hay
cảm hứng để chuyển tri thức đó thành hành động. Không quan trọng cơ hội lớn như thế
nào hay sự cần thiết cấp bách ra sao, nếu không có tri thức đó thì chẳng có phản ứng
thích hợp nào xảy ra. Tri thức là nền tảng cho mỗi bước trong quá trình phát triển. Nó
cần cho việc tạo ra sự nhận thức về các cơ hội và thách thức, đánh giá thích hợp các
thay đổi, tạo ra các phản ứng, lập kế hoạch hiệu quả, đưa ra các sáng kiến và thực hiện
các sáng kiến này.
Tốc độ và mức độ phát triển phụ thuộc vào sự sẵn có của nguyên vật liệu, nguồn
lực tài chính và công nghệ, nhưng về cốt lõi, sự phát triển là một quá trình liên quan đến
con người, được xác định thông qua phản ứng của con người đối với môi trường xung
quanh. thức đóng góp cho sự phát triển theo nhiều cách khác nhau: như nguồn lực sản
xuất, như đầu vào chính yếu cho giáo dục, nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ;
như chất xúc tác cho thay đổi xã hội và phát triển kinh tế; và như nền tảng của sự văn
minh và các giá trị văn hoá thúc đẩy sự hài hoà xã hôi
2.Kinh tế tri thức
Nền kỉnh tế tri thức là nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận truyền bá, sử dụng,
khai thác,sáng tạo tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải.
- Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước
đó:
-Tri thức khoa học-công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là cơ sỏ chủ yếu và
phát triển rất mạnh
-Nguồn vốn quan trọng nhất,quý nhất là tri thức,nguồn vốn trí tuệ.
13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét