Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý SV nội trú của tr-
ờng CĐSP Hòa Bình đối tợng là SV hệ Cao đẳng chính quy.
7. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng kết hợp các
nhóm phơng pháp nghiên cứu sau:
7.1. Các phơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, khái quát các tài liệu nghiên cứu lý luận và các văn bản
nghị quyết của Nhà nớc và các quy chế, quy định của ngành giáo dục và đào
tạo có liên quan đến đề tài.
7.2. Các phơng pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Để tìm hiểu sinh viên nội trú ở trờng CĐSP Hòa Bình, chúng tôi
xây dựng các mẫu phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ quản lý nhà trờng;
giảng viên; sinh viên và một số đối tợng liên quan đến việc quản lý sinh
viên. Trên cơ sở những thông tin thu đợc từ những phiếu xin ý kiến,
chúng tôi tập hợp phân tích thực trạng, chỉ ra những mặt mạnh và những
hạn chế trong công tác quản lý sinh viên nội trú của nhà trờng; trên cơ
sở đó đa ra những biện pháp quản lý nhằm tăng cờng hiệu quả công tác
này.
7.2.2. Phơng pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với CBQL, GV, và sinh viên
nhằm thu thập thêm thông tin bổ sung cho phần thực trạng.
7.2.3. Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm
Nghiên cứu tổng kết thực tiễn việc quản lý SV nội trú ở trờng CĐSP
Hòa Bình trong những năm gần đây, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm
cho việc quản lý này đạt hiệu quả.
7.3. Phơng pháp thống kê toán học
Dùng phơng pháp thống kê toán học để tổng hợp số liệu thu đợc từ
phiếu hỏi, tính tỷ lệ % để phân tích, so sánh, đánh giá cho chính xác.
8. Cấu trúc luận văn
5
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận
văn đợc trình bày thành 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chơng 2. Thực trạng SV nội trú và công tác quản lý SV nội trú của tr-
ờng Cao đẳng S phạm Hòa Bình.
Chơng 3. Một số biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại trờng Cao
đẳng S phạm Hòa Bình.
6
chơng 1
Cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài ngời, đợc thực hiện một
cách tự giác, vợt qua ngỡng tập tính của các giống loài động vật bậc
thấp khác. Cũng nh mọi hoạt động khác của xã hội loài ngời, sự ra đời
của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo
dục và từ đó cũng xuất hiện khoa học về QLGD. Là ng ời học. Ngời học
vừa là đối tợng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất lợng
đào tạo ngoài việc xem xét các yếu tố ng ời dạy, nội dung, chơng trình, cơ
sở vật chất thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tợng ngời
học. Xung quanh vấn đề ngời học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu
trong đó có vấn đề ngời học trong quá trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục
ở trong khu nội trú.
Trớc đây, phần lớn SV đến học tại các trờng Cao đẳng, Đại học hầu
hết đều đợc ở trong KTX nhng hiện nay nhu cầu ở KTX của SV tại các cơ sở
GD đại học không đáp ứng đợc vì quy mô đào tạo của các trờng Cao đẳng,
Đại học trong những năm gần đây phát triển không ngừng. Vấn đề nghiên
cứu về quản lý SV nội trú ít đợc đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên
cứu liên quan đến việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác
nhau nh: Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang - Công tác giáo
dục ngoài giờ lên lớp ở trờng tiểu học (Giáo trình dành cho hệ tại chức đào
tạo giáo viên tiểu học) Trờng Đại học S phạm Hà Nội, Hà Nội 1995.
Năm 1997 Bộ GD&ĐT ban hành riêng Quy chế học sinh, sinh
viên nội trú trong các trờng đại học, cao đẳng, TCCN nhằm quy định rõ
trách nhiệm và quyền hạn của các trờng trong việc tổ chức quản lý khu
nội trú, quyền và nghĩa vụ của học sinh, sinh viên trong các khâu liên
7
quan đến việc ăn, ở, học tập, sinh hoạt trong khuôn viên nội trú của các
trờng đào tạo.
Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, ngày 18
tháng 10 năm 2002 Bộ trởng Bộ GD&ĐT đã ký Quyết định số
41/2002/QĐ-BGD&ĐT về việc sửa đổi bổ xung công tác HSSV nội trú.
Ngày 26/7/2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Thông t số
27/2011/TT-BGD&ĐT về việc Ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú
tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thông t này có
hiệu lực thi hành ngày 10 tháng 8 năm 2011 và thay thế Quyết định số
2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997 của Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về
việc ban hành Quy chế công tác học sinh sinh viên nội trú trong các trờng
Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; Quyết định số
41/2002/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 10 năm 2002 của Bộ trởng Bộ Giỏo
dục và Đào tạo.
Quản lý SV nội trú là vấn đề mới cha đợc nghiên cứu nhiều tuy nhiên
có một số tác giả nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau về quản
lý ngời học. Có thể kể đến các công trình sau: Đề tài luận văn thạc sỹ
QLGD: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học của sinh viên tr-
ờng Dự bị đại học dân tộc trung ơng - Việt Trì - Phú Thọ của Lê Trọng
Tuấn năm 2001 đã đánh giá thực trạng năng lực tự học của sinh viên trờng
Dự bị Đại học Dân tộc trung ơng và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng
cao năng lực tự học của sinh viên; Đối với đề tài nghiên cứu việc quản lý
sinh viên nội trú vùng miền núi phía bắc có công trình nghiên cứu của Bùi Sĩ
Đức: Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú ở trờng CĐSP Yên Bái năm
2007 đã đánh giá thực trạng công tác quản lý SV nội trú của trờng CĐSP
Yên Bái và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao biện pháp quản lý
SV nội trú.
Đề tài nghiên cứu khoa học của Nguyễn Thị Thìn: Kế thừa và phát
triển các giá trị đạo đức truyền thống trong giáo dục sinh viên trờng Cao
đẳng S phạm Hòa Bình hiện nay năm 2011.
8
Những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác quản lý sinh
viên trong đó có quản lý sinh viên nội trú và từ đó đề xuất các biện pháp
quản lý. Tuy nhiên những nghiên cứu cụ thể áp dụng trong những môi tr-
ờng cụ thể, của từng trờng trong khi đó công tác quản lý SV nội trú lại
phụ thuộc vào đặc thù của từng nhà trờng.
Trờng Cao đẳng S phạm Hòa Bình cũng gặp phải vấn đề nan giải
trong công tác quản lý SV nh các trờng khác nói chung nhng xuất phát từ
đặc điểm riêng của mỗi trờng nên không áp dụng biện pháp quản lý của
trờng này vào trờng khác. Do vậy, vấn đề Biện pháp quản lý sinh viên
nội trú tại trờng Cao đẳng S phạm Hòa Bình là vấn đề cần đợc nghiên
cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Lịch sử đã chứng minh rằng, để tồn tại và phát triển, ngay từ khi loài
ngời xuất hiện trên trái đất, con ngời đã liên kết với nhau thành nhóm để
thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt đợc với t cách là những cá
nhân riêng lẻ, nhằm chống lại sự tiêu diệt của thú dữ và thiên nhiên, đồng
thời cũng xuất hiện một loạt các mối quan hệ: quan hệ con ngời với con ng-
ời, giữa con ngời với thiên nhiên, giữa con ngời với xã hội và cả con ngời
với chính bản thân con ngời. Trong quá trình đó đã xuất hiện một số ngời có
năng lực chi phối đợc ngời khác, cũng nh điều khiển mọi hoạt động của
nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung. Những ngời đó đóng vai trò thủ
lĩnh để quản lý nhóm, điều đó đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Nh vậy,
hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm nh một yếu tố cần thiết để phối hợp
những nỗ lực cá nhân hớng tới những mục tiêu chung và nó tồn tại, phát
triển cho đến ngày nay.
Nói đến hoạt động quản lý, ngời ta thờng nhắc đến ý tởng sâu sắc của
Các Mác: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
9
điều hòa sự hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung
phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một ngời độc
tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có
nhạc trởng [11,tr.480 ].
Còn theo H.Koontz Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo
sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt đợc mục đích của tổ chức.
Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trờng mà trong đó con ngời
có thể đạt đợc mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình
thành môi trờng mà trong đó con ngời có thể đạt đợc các mục đích của mình
với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất [21,tr. 33].
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau
cũng đã đa ra những khái niệm quản lý:
Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn
Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng Quản lý là quá trình đạt đến
mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra [10,tr. 1 ].
Một xu hớng nghiên cứu phơng pháp luận quản lý ở Việt Nam trong
cuốn Khoa học quản lý của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn
Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ
thống vận động theo mục tiêu đặt ra tính đến trạng thái có chất lợng mới
[3,tr.176]. Quản lý về bản chất bao gồm quá trình quản và quá trình lý.
Quản là coi sóc giữ gìn, duy trì sự ổn định của hệ. Lý là sửa sang, sắp
xếp, đổi mới, tạo ra sự phát triển của hệ. Hệ ổn định mà không phát triển tất
yếu sẽ suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ dẫn đến rối ren.
Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự suy thoái và rối ren. Nếu ngời đứng đầu tổ
chức chỉ lo việc quản tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì
trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới việc lý tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ
chức. đổi mới mà không đạt nền tảng của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ
chức không bền vững. Trong quản phải có lý trong lý phải có quản
10
để động thái của hệ ở thế cân bằng động. Hệ vận động phù hợp, thích ứng
và có hiệu quả mong muốn tơng tác giữa các yếu tố bên trong với các nhân
tố bên ngoài.
Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nớc,
tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể kết luận: Quản
lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan
của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tợng quản lý) nhằm khai thác
và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể quản lý để đạt
đến mục tiêu quản lý trong một môi trờng luôn biến động.
Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Là khoa học vì nó là
những tri thức đợc hệ thống hóa và là đối tợng nghiên cứu khách quan đặc
biệt. Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là
mối quan hệ giữa chủ và khách thể quản lý. Là nghệ thuật bởi nó là hoạt
động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng
những kinh nghiệm đã quan sát đợc, những tri thức đã đợc đúc kết nhằm tác
động một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý.
Nh vậy, quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, mỗi
một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý
nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nớc, các nhà điều
khiển học thiên về quan điểm cho hệ thống. Cho nên khi đa các định nghĩa
về quản lý, các tác giả thờng gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ
thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình. Nhng, bất cứ
một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của
một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp đến một tập thể nhỏ
nh tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: ngời quản lý và
đối tợng đợc quản lý. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất
cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt
một mục tiêu chung. Vì vậy, những nhà quản lý phải luôn luôn mềm dẻo, linh
hoạt để vận dụng những nguyên tắc quản lý khác nhau trong từng lĩnh vực và
tình huống cụ thể cho phù hợp nhằm đạt đợc hiệu quả quản lý cao nhất.
11
* Các chức năng quản lý
+ Lập kế hoạch (thiết kế mục tiêu, chơng trình hành động).
+ Tổ chức thực hiện (phân công công việc, sắp xếp con ngời).
+ Chỉ đạo điều hành.
+ Kiểm tra (giám sát hoạt động của bộ máy nhằm kịp thời điều chỉnh
sai sót, đa bộ máy đạt mục tiêu đã xác định).
+ Thông tin (là công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý, cần
thiết cho tất cả các chức năng quản lý. Đây là quá trình hai chiều, trong đó
mỗi ngời vừa là nguồn phát vừa là nguồn thu nhận) [26,t r.2]
Có bốn chức năng cơ bản của quản lý liên quan mật thiết với nhau, đó
là: lập kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện; kiểm tra đánh giá, trong đó
thông tin là trung tâm của quản lý.
Bên cạnh 4 chức năng cơ bản của quản lý, còn rất nhiều vấn đề liên
quan khác nh: Dự đoán; động viên; điều chỉnh, đánh giá, thông tin phản hồi,
ra quyết định Các chức năng cơ bản của quản lý tạo thành một hệ thống
thống nhất, không đợc coi nhẹ một chức năng nào. Để các chức năng của
quản lý vận hành có hiệu quả, vấn đề thông tin đóng vai trò là trung tâm; tất
cả các chức năng của quản lý thực hiện đợc đều phải đảm bảo sự thu thập
thông tin; phân tích thông tin và ra quyết định quản lý cho đúng đắn. Vì
thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là
tiền đề của một quá trình quản lý tiếp theo.
1.2.1.2. Phơng pháp quản lý
Phơng pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối
tợng quản lý nhằm đạt đợc mục đích đặt ra. Trong quản lý hiện đại, phơng
pháp quản lý đợc đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học xã hội
và khoa học hành vi. Phơng pháp quản lý rất phong phú, đa dạng và tùy theo
từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phơng pháp khác nhau hoặc kết hợp
các phơng pháp với nhau.
- Phơng pháp thuyết phục là phơng pháp dùng lý lẽ để tác động đến
nhận thức của con ngời.
12
- Phơng pháp kinh tế: là sự tác động của chủ thể đến đối tợng thông
qua các lợi ích kinh tế.
- Phơng pháp hành chính tổ chức: là cách thức tác động của chủ thể
đến đối tợng thông qua các lợi ích kinh tế.
- Phơng pháp hành chính tổ chức: là cách thức tác động của chủ thể
tới đối tợng trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính.
- Phơng pháp tâm lý, giáo dục: đây là cách thức tác động đến đối tợng
thông qua tâm lý, tình cảm, t tởng.
1.2.2. Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trờng.
1.2.2.1. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tợng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền
đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài ngời, nhờ có
giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và
nhân loại đợc kế thừa, bổ xung và trên cơ sở đó mà xã hội loài ngời không
ngừng tiến lên [41; tr 9].
Có thể khẳng định, giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành,
giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế di truyền kinh nghiệm lịch sử
xã hội của loài ngời, của thế hệ đi trớc cho thế hệ sau và để thế hệ sau có
trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo
dục và bản thân con ngời phát triển không ngừng. Để đạt đợc mục đích đó,
quản lý đợc coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên.
[ 22, tr.35]
Đối với cấp vĩ mô đó là quản lý một nền/ hệ thống giáo dục:
Quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các
mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trờng)
nhằm thực hiện có chất lợng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra cho ngành giáo dục. [22, tr.36]
Đối với cấp vi mô đó là quản lý một nhà trờng:
13
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến
tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, sinh viên, cha mẹ học
sinh, sinh viên và các lực lợng xã hội trong và ngoài nhà trờng nhằm thực
hiện có chất lợng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trờng. [22, tr.38]
Nói một cách khái quát: Quản lý giáo dục là một hiện tợng xã hội,
đồng thời là một dạng lao động đặc biệt, mà những nét đặc trng của nó là
tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục
đích đặt ra có kết quả là sự cải biến hiện thực. Do đó chủ thể quản lý phải
biết sử dụng không chỉ những chuẩn mực pháp quyền, mà còn sử dụng cả
những chuẩn mực đạo đức, xã hội, tâm lý nhằm đảm bảo sự thống nhất
và những mối quan hệ trong quá trình quản lý [23, tr.18]
Theo Phạm Khắc Chơng: QLGD theo nghĩa rộng nhất là quản lí quá
trình hình thành và phát triển nhân cách con ngời trong các chế độ chính
trị, xã hội khác nhau mà trách nhiệm là của nhà nớc và hệ thống đa cấp của
ngành giáo dục từ trung ơng cho đến địa phơng là Bộ Giáo dục, Sở giáo dục,
Phòng giáo dục, ở các quận, huyện và các đơn vị cơ sở là nhà trờng . [9, tr.
79]
- Bản chất của quản lý giáo dục là vì lợi ích phát triển của giáo dục,
nhằm mục tiêu tối u là hình thành và phát triển nhân cách ngời đợc giáo
dục, đối tợng và chủ thể giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội.
- Đối tợng của quản lý giáo dục là: Hệ thống giáo dục quốc dân, hệ
thống quản lý giáo dục, các quan hệ quản lý, các đối tợng của quản lý là cấp
dới, tập thể và cá nhân giáo viên và học sinh. [23, tr. 49]
Quản lý giáo dục có những đặc trng sau đây:
- Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên
quản lý giáo dục không phải dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản
phẩm, cũng nh không đợc phép tạo ra phế phẩm.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét