Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Vai trò của ngân hàng trong việc phục vụ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường ở nước ta

Mở đầu
Trong điều kiện đất nớc ta đang trên đà phát triển. Có rất nhiều mặt
trong lĩnh vực kinh tế xã hội mà ta cần phải phát huy. Trong đó tín dụng
có vai trò trong việc đa kinh tế phát triển cao, xoá dần khoảng cách về mức
sống giữa các vùng thành thị với nông thôn. Trớc khi tìm hiểu về vấn đề tín
dụng ở Việt Nam trớc tiên nghiên cứu về định hớng XHCN của kinh tế thị tr-
ờng của Việt Nam.
Kinh tế thị trờng ở Việt Nam sẽ đợc phát triển theo định hớng XHCN.
Đó là sự định hớng của một xã hội mà sự hùng mạnh của nó nhờ vào sự giàu
có và hạnh phúc của dân c. Xã hội không còn chế độ ngời bóc lột ngời, dựa
trên cơ sở nhân dân lao động làm chủ, con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức,
bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hởng theo lao động, có cuộc sống ấm
no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Xã hội có
nền kinh tế phát triển cao trên cơ sở khoa học, công nghệ và lực lợng sản
xuất hiện đại.
Định hớng XHCN nêu trên không chỉ phản ánh nguyện vọng và lý t-
ởng của Đảng ta, Nhà nớc t bản chủ nghĩa đã lợi dụng đợc những thành tựu
của cách mạng khoa học, công nghệ, tranh thủ mở rộng và phát triển nền
kinh tế của mình. Họ đã ra sức điều chỉnh để thích nghi, nên đã đa lại sự tăng
trởng kinh tế của mình. Họ đã ra sẽ điều chỉnh để thích nghi, nên đã đa lại sự
tăng trởng kinh tế cao và có sự cải thiện nhất định về mặt xã hội. Song điều
đó cũng cho thấy những tiền đề về kinh tế và xã hội cho một xã hội tơng lai
đang đợc chuẩn bị ngay trong lòng CNTB.
Lịch sử phát triển của CNTB đã cho thấy khi hình thành những yếu tố
khẳng định quan hệ sản xuất TBCN thì cũng đồng thời xuất hiện những yếu
tố tự phủ định nó. Sự tác động của những yếu tố này không có tính nhất thời,
mà là cả một quá trình. CNTB không phải là hình thái kinh tế xã hội vĩnh
viễn. Theo quy luật tiến hoá và lý luận về Hình thái kinh tế xã hội của C.Mác
thì sớm hay muộn CNTB cũng phải nhờng chỗ cho một xã hội văn minh hơn,
1
đó là CNXH. Đúng nh văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII. Đảng cộng sản
Việt Nam đã khẳng định: Lịch sử thế giới đang trải qua những bớc quanh
co, song loài ngời cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH. Đó là quy luật tiến
hoá của lịch sử.
Định hớng XHCN của nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là cần thiết và có
tính khách quan. Xây dựng nền kinh tế thị trờng không có gì mâu thuẫn với
định hớng XHCN. Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta đã khẳng định: Cơ chế
thị trờng đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế xã
hội. Nó chẳng những không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần
thiết của việc xây dựng và phát triển đất nớc theo con đờng xã hội chủ nghĩa.
Nội dung định hớng XHCN của kinh tế thị trờng nớc ta đã đợc hội
thảo khoa học nhiều lần. Theo ý kiến của đa số các nhà khoa học Việt Nam,
có thể quan niệm định hớng XHCN của kinh tế thị trờng ở nớc ta có những
nội dung chính nh sau:
Hai mặt kinh tế xã hội của nền kinh tế thị trờng nớc ta đợc chủ động
kết hợp với nhau ngay từ đầu thông qua pháp luật, chính sách kinh tế và
chính sách xã hội trên cả tầm quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô. Nếu ở tầm vi
mô, các chủ doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm mục tiêu xác định hiệu quả của
hoạt động sản xuất kinh doanh, thì ở tầm vi mô, Nhà nớc dùng hiệu quả kinh
tế xã hội làm mục tiêu quản lý nhằm thực hiện tăng trởng kinh tế và công
bằng xã hội.
Vấn đề dân chủ và công bằng xã hội ở đây đợc hiểu theo nghĩa những
đơn vị và cá nhân trong xã hội đợc làm những gì mà pháp luật không cấm, đ-
ợc tự do sản xuất và kinh doanh, đợc hởng những thành quả lao động của
mình và đợc thừa kế tài sản theo luật định. Đơng nhiên, trong nền kinh tế thị
trờng có sự phân hoá giàu nghèo. Điều quan trọng ở đây là cần có các chính
sách kinh tế xã hội để mọi ngời đem hết sức sản xuất, kinh doanh làm
giàu cho mình và nhờ đó xã hội cũng trở nên giàu có. Đồng thời cũng cần có
2
những giải pháp đều tiết mức thu nhập của các tầng lớp dân c nhằm thực hiện
một xã hội văn minh.
Cùng với sự tăng trởng và phát triển kinh tế, môi trờng sinh thái của
đất nớc đợc chủ động bảo vệ qua các dự án đầu t môi sinh và qua việc chấp
hành một cách đúng đắn luật pháp, chính sách môi trờng của Nhà nớc trong
từng thời kỳ.
Nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN là nền kinh tế có trình độ
phát triển cao. Nếu nh nền kinh tế trì trệ, kém phát triển, tổng sản phẩm xã
hội và thu nhập quốc dân thấp kém thu nhập bình quân của dân c còn thấp,
không có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thì không thể gọi là định hớng XHCN
đợc. Đành rằng nếu chỉ có nội dung này thì cha đủ, bởi vì đã có nhiều nớc có
nền kinh tế phát triển cao nhng đó lại không phải là nền kinh tế định hớng
XHCN.
Định hớng XHCN còn đợc thể hiện trong cơ cấu kinh tế nớc ta. Để có
định hớng XHCN, kinh tế Nhà nớc phát huy đợc vai trò chủ đạo, nó cùng với
kinh tế hợp tác là nền tảng của nền kinh tế.
Ngoài ra Nhà nớc đầu t phát triển các doanh nghiệp trong các thành
phần kinh tế khác nhằm tạo ra nhiều việc làm cho dân c và góp phần tạo ra
nhiều sản phẩm cho xã hội. Các thành phần kinh tế đợc phát triển một cách
bình đẳng với nhau. Cơ cấu kinh tế nh vậy đòi hỏi phải giải quyết vấn đề
phân phối thu nhập một cách công bằng. Ngoài tiền lơng, tiền công ngời lao
động còn đợc hởng thu nhập từ các nguồn hữu sản của họ thông qua phân
phối theo tài sản (hay theo vốn). Cơ cấu kinh tế mới đợc hình thành một phần
do sự tự điều chỉnh của các quan hệ thị trờng, một phần do Nhà nớc điều tiết.
Phát triển kinh tế nhiều thành phần sẽ tạo đợc môi trờng cạnh tranh và huy
động đợc tối đa những nguồn lực của xã họi vào việc phát triển kinh tế xã
hội.
Nhà nớc XHCN quản lý nền kinh tế thị trờng vì mục tiêu dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng văn minh. Trong thời kỳ đầu chuyển sang kinh tế thị
3
trờng Nhà nớc ta thực hiện vai trò bà đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế
thị trờng phát triển đúng hớng. Vai trò đợc thể hiện bằng hệ thống luật pháp,
bảo vệ quyền tự do dân chủ, công bằng xã hội và mở rộng phúc lợi xã hội cho
nhân dân.
Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là nền kinh tế dân tộc hoà nhập với kinh
tế quốc tế. Với xu hớng phát triển kinh tế mở, nội dung này có ý nghĩa rất
lớn, một mặt nó phát huy đợc lợi thế so sánh của nền kinh tế nớc ta từng bớc
hoà nhập vào kinh tế khu vực và thị trờng thế giời, từ đó có điều kiện tiếp thu
những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật, công nghệ thế giời, thực hiện
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc.
Thị trờng là gì?
Theo nghĩa ban đầu nghĩa nguyên thủy, thị trờng gắn liền với một
địa điểm nhất định. Nó là nơi diễn ra các quá trình trao đổi, mua bán hàng
hoá. Thị trờng có tính không gian và thời gian. Theo nghĩa này, thị trờng có
thể là hội chợ các địa d hoặc các khu vực tiêu thụ phân theo các mặt hàng,
ngành hàng.
Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, lợng sản phẩm hàng hoá lu
thông trên thị trờng ngày càng dồi dào và phong phú; thị trờng mở rộng. Thị
trờng hiểu theo nghĩa đầy đủ hơn. Nó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua
tiền tệ làm môi giới. Tại đây ngời mua và ngời bán tác động qua lại lẫn nhau
đề xác định giá cả và số lợng hàng lu thông trên thị trờng.
Nói tới thị trờng, trớc hết phải nói tới các nhân tố cơ bản cấu thành thị
trờng đó là hàng và tiền (H và T) ngời mua, ngời bán. Từ đó hình thành các
quan hệ hàng hoá - tiều tệ, mua bán, cung cầu và giá cả hàng hoá.
Nói tới thị trờng là nói tới tự do kinh doanh, tự do mua bán, thuận mua
vừa bán, tự do giao dịch. Quan hệ giữa các chủ thể kinh tế bình đẳng.
Trong thực tế, ngời ta còn dùng rất nhiều thuật ngữ gắn liền với khái
niệm thị trờng nh:
4
- Thị trờng bán buôn
- Thị trờng bán lẻ
- Thị trờng hàng tiêu dùng
- Thị trờng sản xuất
- Thị trờng cung ứng
- Thị trờng Nhà nớc
- Thị trờng tiền tệ
- Thị trờng nhân lực
- v.v
Vai trò của thị trờng:
Nh phần trên đã khẳng định kinh tế hàng hoá gắn liền với thị trờng.
Sản xuất cho thị trờng. Tiêu dùng phải thông qua thị trờng. Thị trờng là trung
tâm của toàn bộ quá trình tái sản xuất.
Sản xuất là sự kết hợp giữa t liệu sản xuất và sức lao động theo quan hệ
tử lệ nhất định. Quan hệ tỉ lệ này tuỳ thuộc vào trình độ kỹ thuật của sản
xuất. Nếu kỹ thuật tiến bộ thì một lợng sức lao động nhất định sẽ vận hành đ-
ợc nhiều t liệu sản xuất hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn. Để sản xuất cần
phải có các yếu tố sản xuất. Thị trờng chính là nơi cung cấp những yếu tố đó
bảo đảm cho quá trình sản xuất đợc tiến hành bình thờng. Sản xuất hàng hoá
là sản xuất để trao đổi, để bán. Thị trờng là nơi tiêu thụ những hàng hoá cho
các doanh nghiệp. Thông qua thị trờng giá trị hàng hoá đợc thực hiện và các
doanh nghiệp thu hồi đợc vốn.
Nh vậy, doanh nghiệp là ngời mua các yếu tố sản xuất và bán những
sản phẩm mình làm ra. Quy mô của việc mua vào và bán ra này sẽ quyết định
quy mô của sản xuất. Nếu coi doanh nghiệp nh những cơ thể sống thì thị tr-
ờng là nơi bảo đảm các yếu tố cho sự sống đó và cũng là nơi thực hiện sự trao
5
đổi chất để cho sự sống tồn tại và phát triển. Trên ý nghĩa đó, thị trờng chính
là điều kiện và là môi trờng cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp.
Thị trờng là nơi kiểm tra cuối cùng chủng loại các hàng hoá, số lợng
hàng hoá cũng nh chất lợng sản phẩm. Thị trờng kiểm nghiệm tính phù hợp
của sản xuất và là động lực của sản xuất kinh doanh. Thông qua thị trờng,
hoạt độgn kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng năng động hơn, sáng
tạo hơn, hiệu quả của sản xuất kinh doanh ngày càng tốt hơn. Thị trờng còn
là nơi cuối cùng để chuyển lao động t nhân cá biệt thành lao động xã hội.
Vai trò của ngân hàng trong việc phục vụ và thúc đẩy nền kinh tế
thị trờng ở nớc ta.
Ngân hàng là một trong những chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế
thị trờng đó là kinh doanh trên lĩnh vực thị trờng vốn tiền tệ. Vì vậy phải kinh
doanh có hiệu quả kinh tế phải đảm bảo lãi xuất dơng nhằm thu đợc lợi
nhuận lớn nhất.
- Tích luỹ theo chủ nghĩa xã hội.
- Cải thiện đời sống cán bộ tạo đà cho ngân hàng phát triển.
Đảm bảo việc phục vụ và thúc đẩy nền kinh tế thị trờng phát triển.
- Đảm bảo đủ vốn trong huy động để cho vay phát triển kinh tế đối với
mọi thành phần kinh tế.
- Tham gia quản lý vĩ mô để cùng với các thành viên trong nhà nớc
định hớng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế.
Ngân hàng phải chuyển đổi cơ chế hoạt động phù hợp với nền kinh tế
thị trờng, cụ thể phải đổi mới trên ba mặt theo cơ chế hoạt động của ngân
hàng nh:
- Đổi mới tổ chức cán bộ.
- Đổi mới chính sách tiền tệ
- Đổi mới công tác điều hành và lề lối làm việc
6
Cơ cấu thị trờng?
Sự vận động của giá cả thị trờng cũng có tác động tới quan hệ cung
cầu hàng hoá. Nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó giảm xuống, nó sẽ
kích thích mức cầu, làm cho mức cầu của thị trờng về loại hàng hoá này tăng
lên. Đồng thời giá cả giảm xuống lại hạn chế mức cung làm cho mức cung
giảm xuống. Ngợc lại nếu giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, nó
sẽ kích thích mức cung làm cho mức cung tăng lên, đồng thời hạn chế mức
cầu làm cho mức cầu giảm xuống. Nh vậy có thể nhận biết đợc quan hệ cung
cầu qua giá cả thị trờng. Quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trờng là biểu
hiện của quan hệ giữa những ngời bán và những ngời mua cũng nh quan hệ
giữa những ngời sản xuất và những ngời tiêu dùng. Trên thị trờng, ngời bán
hàng hoá của mình với giá cao, ngời mua lại luôn luôn muốn mua hàng hoá
với giá thấp. Trên cơ sở giá trị thị trờng, giá cả thị trờng là kết qảu của sự
thoả thuận giữa ngời mua với ngời bán. Giá cả thị trờng điều hòa đợc quan hệ
giữa ngời mua với ngời bán.
Thông qua sự biến động của giá cả thị trờng, quy luật giá trị có tác
dụng điều tiết sản xuất và lu thông hàng hoá.
Lợi nhuận là động lực thúc đẩy hoạt động của cơ chế thị trờng. Theo
C.Mác, những nhà kinh doanh dới CNTB ghét cay ghét đắng tình trạng
không có lợi nhuận hay lợi nhuận quá ít, chẳng khác gì giới tự nhiên ghê sợ
chân không.
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta đã đợc hình thành và
đang phát triển, vì vậy thị trờng ở nớc ta cũng đợc hình thành và phát triển.
Xem xét một cách khái quát về thị trờng ở nớc ta trong những năm vừa qua
thì thấy thị trờng ở nớc ta còn lại là thị trờng ở trình độ thấp. Tính chất của nó
còn hoang sơ. Dung lợng thị trờng còn thiếu và có phần rối loạn. Chúng ta
mới từng bớc có thị trờng hàng hoá nói chung, trớc hết thị trờng hàng tiêu
dùng thông thờng với hệ số giá cả và quan hệ mua bán bình thờng. Về cơ bản
nớc ta vẫn cha có thị trờng sức lao động hoặc chỉ mới có thị trờng này ở khu
7
vực kinh tế ngoài quốc doanh với hình thức thuê mớn còn thô sơ. Trong khu
vực kinh tế Nhà nớc về cơ bản còn sử dụng chế độ lao động theo biên chế.
Chúng ta cũng cha có thị trờng tiền tệ và thị trờng tiền vốn, hoặc chỉ mới có
thị trờng này ở khu vực ngoài quốc doanh với quan hệ vay, trả, mua, bán còn
thô sơ. Khu vực kinh tế Nhà nớc vẫn sử dụng lãi suất và tử giá và quan hệ tài
chính tiền tệ do Nhà nớc quy định. Cha có lãi suất, tỉ giá và tín dụng thực sự
theo cơ chế thị trờng.
Thực trạng trên đây của thị trờng nớc ta là hậu quả của nhiều nguyên
nhân khác nhau. Về mặt khách quan đó là do trình độ phát triển của phân
công lao động xã hội còn thấp. Nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cấp tự
túc. Về mặt chủ quan là do những nhận thức cha đúng đắn về nền kinh tế
XHCN, do sự phân biệt duy ý chí giữa thị trờng có tổ chức và thị trờng tự do.
Theo đó tín dụng có nhiều khía cạnh mà ta phải nghiên cứu ở đây ta đi
sâu vào tìm hiểu bản chất chức năng, hình thức của tín dụng của XHCN ở
Việt Nam
Tín dụng là gì ?
Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với kinh tế hàng hoá. Sự ra
đời và tồn tại của nó bắt nguồn từ đặc điểm của chu chuyển vốn tiền tệ và sự
cần thiết sinh lợi đối với vốn tiền tệ tạm thời để rồi và nhu cầu vốn nhng cha
tích luỹ kịp dẫn đến sự hình thành quan hệ cung cầu tiền tệ giữa ngời đi vay
và ngời cho vay, do đó tín dụng xuất hiện, tồn tại nh là một sự cần thiết
khách quan trong nền kinh tế.
Tín dụng là hình thức vận động vốn tiền tệ giữa ngời đi vay và ngời
cho vay.
Quan hệ tín dụng khác với quan hệ ngân sách Nhà nớc ở chỗ: nó là
quan hệ tiền tệ có hàn lại cả vốn và có kèm theo lợi tức. Lợi tức là giá cả của
vốn cho vay. Với t cách là giá cả, mức (tỷ suất) lợi tức lên xuống phụ thuộc
quan hệ cung cầu tiền tệ đi vay và cho vay (trừ một số ngành đặc biệt đợc
8
Nhà nớc áp dụng mức lãi suất đặc biệt). Thông thờng mức lợi tức cho vay
phải cao hơn mức lợi tức tiêu gửi, và thờng lớn hơn hoặc bằng mức lạm phát.
* Quan hệ tín dụng tồn tại dới những hình thức sau:
- Tín dụng nhà nớc: thực chất là quan hệ Nhà nớc vay tiền của nhân
dân trong thời gian nhất định.
- Tín dụng ngân hàng: quan hệ về vốn giữa ngời đi vay với ngân hàng.
Đây là hình thức tín dụng cơ bản và phổ biến dới chủ nghĩa xã hội và ở nớc
ta.
- Tín dụng thơng mại: thực chất là sự mua bán chịu lẫn nhau. Hình
thức này tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Nó không
phải là hình thức đặc trng của chủ nghĩa xã hội. Mặt trái của hình thức này
nếu không quản lý tốt và luật pháp không nghiêm dễ phát sinh sự vỡ nợ có
tính dây truyền làm đình đốn sản xuất kinh doanh.
* Tín dụng có hai chức năng cơ bản:
- Huy động để tập trung nguồn vốn tiền tệ tạm thời cha sử dụng và
phân phối lại (cho vay) vốn đó cho các nhu cầu phát triển sản xuất kinh
doanh.
- Thông qua việc cho vay vốn mà kiểm tra bằng đồng tiền các hoạt
động kinh tế của các xí nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
Hai chức năng này có mối quan hệ biện chứng với nhau và có tác dụng
to lớn.
Trong nền kinh tế hàng hoá phát triển, hầu hết hoạt động tín dụng đều
do ngân hàng thơng mại tiến hành, do vậy hai chức năng của tín dụng nói
chung trên mức độ lớn cũng là hai chức năng của tín dụng ngân hàng.
Lu thông tiền tệ và ngân hàng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội.
9
ở nớc ta do kinh tế hàng hoá tồn tại, nên tiền tệ tồn tại là một tất yếu.
Tiền tệ, một phạm trù kinh tế vốn có của kinh tế hàng hoá, với t cách là cái
chung, nó vẫn là một hàng hoá đặc biệt, là vật ngang giá chung để đo lờng
giá trị của hàng hoá. Nó vẫn thông qua các chức năng: thớc đo giá trị, phơng
tiện lu thông, phơng tiện tích luỹ, phơng tiện thanh toán và tiền tệ thế giới,
để biểu hiện bản chất chung của tiền tệ. Tiền tệ là một công cụ quan trọng
trong nền kinh tế cần đợc nhà nớc sử dụng theo hớng có lợi cho sự tăng trởng
và phát triển kinh tế xã hội. Hơn nữa, ở mỗi loại nớc khác nhau có đồng
tiền khác nhau. Đồng tiền nớc ta không có hàm lợng vàng bảo đảm nh đồng
đô la Mỹ, đồng Rúp chuyển đổi (trớc đây). Do vậy, tiền tệ xét về tính chất và
chức năng biểu hiện của nó có khác nhau. Sự khác nhau này do tính chất của
nhà nớc xã hội chủ nghĩa và đặc điểm đồng tiền ở nớc ta quyết định.
Trong nền kinh tế hàng hoá, sự vận động của hàng hoá liên tục tiếp
diễn thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, do vậy tiền tệ cũng liên tục
vận động, phục vụ cho lu thông hàng hoá làm tiền đề làm cơ sở gọi là lu
thông tiền tệ. Lực lợng chi phối lu thông tiền tệ là quy luật lu thông tiền tệ
quy luật xác định lợng tiền cần thiết cho lu thông trong mối quan hệ tác động
của các nhân tố: khối lợng hàng hoá đem lu thông, mức giá cả, vòng quanh
trung bình của tiền tệ quy luật chung này, cùng với những lý thuyết mới về
tiền tệ đợc nhà nớc ta chủ động tự giác vận dụng có hiệu quả bớc đầu quan
trọng, đối với việc giảm mức lạm phát ở nớc ta vừa qua.
Việc phát hành tiền tệ, dự trữ vàng, bạc, ngoại tệ mạnh, quản lý và
điều hoà lu thông tiền tệ đợc tập trung vào một cơ quan duy nhất là ngân
hàng Nhà nớc.
Hầu hết hoạt động tín dụng trong nền kinh tế đều do hệ thống ngân
hàng thơng mại đảm nhiệm (kể cả các quỹ tiết kiệm).
10
Tín dụng trong thời kỳ quá độ lên CNXH
ở nớc ta do kinh tế hàng hoá tồn tại, nên tiền tệ tồn tại là một tất yếu.
Tiền tệ, một phạm trù kinh tế vốn có của kinh tế hàng hoá, với t cách là cái
chung, nó vẫn là một hàng hoá đặc biệt, là vật ngang giá chung để đo lờng
giá trị của hàng hoá. Nó vẫn thông qua các chức năng: thớc đo giá trị, phơng
tiện lu thông, phơng tiện tích luỹ, phơng tiện thanh toán và tiền tệ thế giới,
để biểu hiện bản chất chung của tiền tệ. Tiền tệ là một công cụ quan trọng
trong nền kinh tế cần đợc nhà nớc sử dụng theo hớng có lợi cho sự tăng trởng
và phát triển kinh tế xã hội. Hơn nữa, ở mỗi loại nớc khác nhau có đồng
tiền khác nhau. Đồng tiền nớc ta không có hàm lợng vàng bảo đảm nh đồng
đô la Mỹ, đồng Rúp chuyển đổi (trớc đây). Do vậy, tiền tệ xét về tính chất và
chức năng biểu hiện của nó có khác nhau. Sự khác nhau này do tính chất của
nhà nớc xã hội chủ nghĩa và đặc điểm đồng tiền ở nớc ta quyết định.
Trong nền kinh tế hàng hoá, sự vận động của hàng hoá liên tục tiếp
diễn thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, do vậy tiền tệ cũng liên tục
vận động, phục vụ cho lu thông hàng hoá làm tiền đề làm cơ sở gọi là lu
thông tiền tệ. Lực lợng chi phối lu thông tiền tệ là quy luật lu thông tiền tệ
quy luật xác định lợng tiền cần thiết cho lu thông trong mối quan hệ tác động
của các nhân tố: khối lợng hàng hoá đem lu thông, mức giá cả, vòng quanh
trung bình của tiền tệ quy luật chung này, cùng với những lý thuyết mới về
tiền tệ đợc nhà nớc ta chủ động tự giác vận dụng có hiệu quả bớc đầu quan
trọng, đối với việc giảm mức lạm phát ở nớc ta vừa qua.
Việc phát hành tiền tệ, dự trữ vàng, bạc, ngoại tệ mạnh, quản lý và
điều hoà lu thông tiền tệ đợc tập trung vào một cơ quan duy nhất là ngân
hàng Nhà nớc.
Hầu hết hoạt động tín dụng trong nền kinh tế đều do hệ thống ngân
hàng thơng mại đảm nhiệm (kể cả các quỹ tiết kiệm).
Tín dụng ngân hàng có tác dụng rất quan trọng đổi mới nền kinh tế.
11
- Có thể tập trung từ các nguồn vốn rất phân tán, từ số vốn nhỏ thành
vốn lớn hình thành nguồn tích luỹ vốn cho xã hội, đáp ứng nhu cầu vốn, qua
đó thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội ngày một mở rộng và hiện đại.
- Góp phần hình thành thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn. Thông qua việc
tham gia vào hoạt động của sở giao dịch để hình thành thị trờng chứng
khoán, thúc đẩy quá trình chuyển nớc ta sang kinh tế hàng hoá.
- Cùng với các tổ chức tín dụng khác, tín dụng ngân hàng đã tạo điều
kiện thuận lợi đối với nông lâm ng nghiệp, góp phần xoá bỏ hình thức
cho vay nặng lãi, thúc đẩy sự tăng trởng kinh tế và phát triển kinh tế xã
hội đối với khu vực này trong thập kỷ 90 ở nớc ta.
- Phấn đấu để có nền tài chính, tiền tệ và lu thông tiền tệ ổn định và
lành mạnh là yêu cầu, là tiền đề cần thiết cho sự phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc.
Tín dụng có tác dụng to lớn đối với sự phát triển kinh tế thể hiện ở
chỗ:
- Góp phần biến các xí nghiệp từ đơn vị kinh tế bao cấp, thực sự trở
thành đơn vị kinh tế hàng hoá thích ứng với cơ chế thị trờng.
- Nó cho phép kết hợp sự lãnh đạo theo định hớng kế hoạch của Nhà n-
ớc với việc phát huy tính tự chủ của xí nghiệp.
- Góp phần kết hợp hài hoà lợi ích kinh tế giữa nhà nớc, xí nghiệp và
ngời lao động, phát huy có hiệu quả động lực lợi ích kinh tế.
- Hạch toán kinh tế chịu sự chi phối bởi yêu cầu của các quy luật kinh
tế, mục tiêu và nguyên tắc quản lý kinh tế. Đến lợt nó, hạch toán kinh tế tốt
có tác dụng tạo ra những điều kiện để thực hiện tốt có tác dụng tạo ra những
điều kiện để thực hiện tốt các yêu cầu của các quy luật kinh tế, mục tiêu và
nguyên tắc quản lý nền kinh tế phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Tín dụng trong kinh tế quốc dân: Nền kinh tồn tại nhiều thành phần
kinh tế, tơng ứng với mỗi thành phần kinh tế có một quan hệ phân phối nhất
12
định. Nếu thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể phân phối theo
nguyên tắc, phân phối theo lao động, thì các thành phần kinh tế khác, có
quan hệ phân phối không giống nhau. Đối với lao động sống, trong các thành
phần kinh tế này, phân phối theo nguyên tắc, hay quy luật giá trị sức lao
động. Điều này đợc hình thành rõ nét đối với các xí nghiệp của các thành
phần kinh tế nào dựa trên quan hệ chủ thợ; và sẽ không rõ nét ở thành phần
kinh tế cá thể, thì công và lãi đều thuộc về họ. Còn lao động quá khứ biểu
hiện ở giá trị tài sản hay vốn có tác dụng tham gia tạo ra lợi nhuận mạc dù
không trực tiếp, do vậy nó phải đợc tham gia phân phối lợi nhuận. ở nớc ta đã
và đang xuất hiện các hình thức công ty cổ phần, mà các cổ đông đang tồn tại
ở các dạng khác nhau: cổ phần Nhà nớc, cổ đông là của tập thể xí nghiệp,
hoặc t nhân, cá thể, hoặc có cổ đông là cán bộ công nhân, viên chức nhà n-
ớc ngoài ra một bộ phận vốn đáng kể đợc huy động dới hình thức tiền gửi
tiết kiệm, công trái, trái khoán mà thực chất là vốn cho vay.
Có thể nói trong thời kỳ quá độ, vốn có thể tồn tại ở nhiều hình thức
nhng chủ yếu có các hình thức vốn sau:
- Vốn tự có của các chủ xí nghiệp độc lập.
- Vốn cổ phần của các cổ đông trong các công ty cổ phần và của xã
viên trong các hợp tác xã bậc thấp.
- Vốn cho vay.
Các loại vốn trên giả định đợc luật pháp thừa nhận quyền sở hữu và bất
khả xâm phạm.
Trong điều kiện đó việc phân phối theo tài sản hay theo vốn trở
thành một nguyên tắc tồn tại là một tất yếu khách quan. Việc thừa nhận
nguyên tắc này trong quan hệ phân phối có tác dụng: khai thác tối đa mọi
tiềm năng về vốn trong các thành phần kinh tế và trong các tầng lớp dân c,
nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, nhât là trong điều kiện
vốn ngân sách của Nhà nớc còn hạn hẹp. Nó cũng góp phần hình thành thị tr-
13
ờng tiền tệ, thị trờng chứng khoán, một trong những điều kiện rất cần thiết
cho sự phát triển kinh tế hàng hoá ở nớc ta.
Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan.
Trong thời đại ngày nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang
là một trong những vấn đề thời sự đối với hầu hết các nớc.
Tính khách quan và phổ biến của nó bắt nguồn từ yêu cầu của quy luật
về sự phân công và hợp tác quốc tế giữa các nớc, từ sự phân bố tài nguyên
thiên nhiên và sự phát triển không đều về trình độ công nghiệp giữa nớc này
với nớc khác, dẫn đến yêu cầu việc sử dụng sao cho có hiệu quả về lợi thế so
sánh để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa các nớc có nền kinh
tế phát triển và kém phát triển. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại còn bắt
nguồn từ sản xuất và đời sống ngày nay đã mang tính quốc tế hoá. Đặc biệt
sự tác động rất mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ làm
cho lực lợng sản xuất vợt khỏi khuôn khổ quốc gia để trở thành quốc tế,
thông qua các công cụ thông tin hiện đại những thành tựu khoa học và
chuyển giao công nghệ với tốc độ nhanh giữa các nớc.
Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải nhằm thúc đẩy sự tăng tr-
ởng kinh tế và phát triển kinh tế xã hội.
Trong cộng đồng quốc tế, nếu đứng về trình độ kinh tế kỹ thuật mà
xét, giữa các quốc gai có điểm xuất phát và trình độ phát triển không đều
nhau. Có thể phân thành hai loại: nớc có nền kinh tế phát triển và nớc có nền
kinh tế đang phát triển hay kém phát triển.
ở những nớc có nền kinh tế đang hay kém phát triển, nhiều vấn đề gay
cấn đặt ra, trong đó mắt xích của cái vòng luẩn quẩn là trình độ kỹ thuật lạc
hậu do thiếu vốn.
Vì vậy đối với các nớc này, việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế phải
nhằm đa đất nớc nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu đạt tốc độ tăng
trởng và phát triển kinh tế xã hội cao, sao cho thu nhập quốc dân tính thoe
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét