Danh mục các bảng biểu
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 2.10
Bảng 2.11
Bảng 2.12
Bảng 2.13
Bảng 2.14
Tóm tắt thống kê của các nhân tố tiền cơ sở
(Quí 1/1996- quí 4/2004)
Kết quả kiểm định tính dừng của các nhân tố của tiền cơ
sở
Kiểm định tính dừng của các khối lợng tiền cung ứng
Các kết quả hồi quy cho biến phụ thuộc C/DD (1996:1
2004:4)
Các kết quả hồi quy cho biến phụ thuộc T&S/DD (1996:1
2004:4)
Tóm tắt thống kê chủ yếu cho các số liệu hồi qui của thu
nhập (quí 1/ 1995 quí 4/2006)
Kiểm định tính dừng của GDP, GDPAG, GDPNA, GE,
M1, M2
Tóm tắt thống kê chủ yếu cho các biến giá (quí 1/1995
quí 4/2006)
Kiểm định tính dừng của các chuỗi số P, lnP, DGDP,
lnDGDP, TYGIA
Các kết quả hồi qui giữa tiền tệ và giá cả ( 1995:Q1
2006:Q4)
Bảng cán cân thơng mại của Việt Nam 1997- 2005
Tóm tắt thống kê chủ yếu cho cán cân thanh toán
Kiểm định Dickey- Fuller cho các biến trong cán cân
thanh toán
Kết quả kiểm định Granger cho mối quan hệ nhân quả
giữa tài sản nội địa ròng và dự trữ ngoại tệ ròng
Trang
57
59
60
65
66
79
79
96
97
98
112
114
115
125
Danh mục các sơ đồ, đồ thị
Sơ đồ 1
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Các kênh truyền tải của chính sách tiền tệ
Đồ thị của GDP và các bộ phận cấu thành
Đồ thị của GDP và các bộ phận M1, M2
Đồ thị của DGDP và CPI
Trang
8
78
80
94
1
Lời giới thiệu
1. Đặc điểm chung của nền kinh tế
Vào giữa những năm 1980 của thế kỷ 20, nền kinh tế Việt nam rơi vào
cuộc khủng hoảng trầm trọng với lạm phát tăng nhanh tới 3 con số, hàng năm
tăng trởng kinh tế chỉ xung quanh 2 phần trăm. Để phản ứng cuộc khủng
hoảng này, Chính phủ Việt nam đ đa ra chính sách đổi mới kinh tế vào năm
1986 mà trong đó cơ chế thị trờng đ đợc thừa nhận. Sau hơn 20 năm theo
đuổi chính sách kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc, nền kinh tế
Việt nam đ đạt đợc những thành tựu to lớn. Từ một nền kinh tế với tỷ lệ lạm
phát có tốc độ phi m, ngày nay kinh tế Việt nam có tốc độ tăng trởng cao,
ổn định trên 7%, tỷ lệ lạm phát thấp và luôn giữ mức dới 10%.
Kết quả cho thấy sự điều tiết của Chính phủ đối với nền kinh tế, đặc biệt
là nền kinh tế đang chuyển đổi có một vai trò cực kỳ quan trọng. Một chính
sách đúng sẽ thúc đẩy quá trình phát triển, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi
kinh tế. Một chính sách không đúng sẽ có hậu quả nghiêm trọng là kìm hm
sự phát triển của nền kinh tế, làm chậm qúa trình chuyển đổi. Với những
thành tựu nh hiện nay, trớc hết đó là thành quả của công cuộc đổi mới nền
kinh tế. Đồng thời đó cũng là kết quả của việc điều tiết đúng đắn các chính
sách vĩ mô của Chính phủ, trong đó có chính sách về tiền tệ.
Theo luật NHNN (tháng 4/1998), NHNN hoạt động vì mục tiêu ổn
định giá trị của đồng tiền, góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng
và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế x hội theo định
hớng x hội chủ nghĩa (Điều 1, khoản 3). Với nhiệm vụ đợc giao, từ nửa
cuối thập niên 90, NHNN đ xây dựng một cách có hệ thống một khuôn khổ
chính sách tiền tệ gián tiếp và bắt đầu áp dụng các công cụ chính sách tiền tệ
gián tiếp, phối hợp đồng bộ giữa các công cụ chính sách tiền tệ, góp phần duy
trì ổn định li suất, ổn định tiền tệ. Vì vậy việc nghiên cứu vai trò và ảnh
2
hởng của chính sách tiền tệ đối với sự ổn định, tăng trởng của nền kinh tế
Việt nam là một vấn đề hết sức cần thiết.
2. Đối tợng và mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu ảnh hởng của chính sách tiền tệ tới các nhân tố vĩ mô
của nền kinh tế Việt nam trong giai đoạn chuyển đổi đ đợc nhiều nhà kinh
tế trong nớc cũng nh của nớc ngoài đề cập tới. Tuy nhiên việc phân tích
ảnh hởng của chính sách tiền tệ về mặt định lợng tới từng nhân tố vĩ mô,
mối quan hệ nhân quả giữa lợng tiền cung ứng với các nhân tố này là cha có
nhiều.
Bởi vậy đề tài Phân tích định lợng về tác động của chính sách tiền
tệ tới một số nhân tố vĩ mô của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đợc luận
án lựa chọn nghiên cứu nhằm phân tích tác động trực tiếp về mặt định lợng
của chính sách tiền tệ thông qua sự thay đổi lợng tiền cung ứng tới sự thay
đổi của một số biến vĩ mô nh thu nhập, giá cả và cán cân thanh toán của Việt
nam trong giai đoạn vừa qua. Những kết quả thu nhận đợc dựa trên các lý
thuyết cơ bản về tiền tệ và những mô hình thực nghiệm đ đợc kiểm chứng ở
các nền kinh tế khác trên thế giới sẽ là những căn cứ góp phần nghiên cứu vai
trò và tác động của chính sách hiện nay của NHTW đối với mục tiêu ổn định
giá cả, thúc đẩy tăng trởng kinh tế và tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất
nghiệp.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi của luận án sẽ đề cập tới các vấn đề sau: vai trò của cung tiền
tệ ở Việt nam, ảnh hởng trực tiếp của chính sách tiền tệ mà đại diện là lợng
tiền cung ứng trong các mối quan hệ giữa tiền tệ và thu nhập, giữa tiền tệ và
giá cả, giữa tiền tệ và cán cân thanh toán. Từ các kết quả thu đợc, luận án sẽ
phân tích vai trò của chính sách tiền tệ đối với sự phát triển kinh tế và ổn định
giá cả trong giai đoạn vừa qua.
3
Với mục đích đ nêu, dựa trên lý thuyết tiền tệ hiện đại và áp dụng cho
các nớc đang phát triển, luận án sẽ ớc lợng một số mô hình dựa trên số
liệu thu thập đợc trong thời gian từ 1995 đến 2006 nhằm phân tích ảnh hởng
của chính sách tiền tệ thông qua lợng tiền cung ứng tới các nhân tố vĩ mô.
Việc lựa chọn phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn này do những nguyên nhân
sau:
Đây là giai đoạn mà lạm phát đ đợc kiềm chế, nền kinh tế bắt đầu
đi vào thế ổn định và phát triền đều đặn hàng năm.
Mọi chính sách đang hớng tới một nền kinh tế thị trờng có sự điều
tiết của Nhà nớc và chuẩn bị những cơ sở cần thiết để hớng tới sự
hội nhập đầy đủ với nền kinh tế thế giới.
Bắt đầu từ năm 1994, mọi số liệu thống kê đều đợc tính theo tiêu
chuẩn của IMF, từ đó chúng ta mới có tơng đối đầy đủ số liệu cần
thiết trong phân tích hồi qui.
Từ mục đích, đối tợng và phạm vi nghiên cứu, ngoài phần tổng quan
và mở đầu, luận án bao gồm 3 chơng chính nh sau:
Chơng 1: Mối quan hệ giữa chính sách cung tiền với
một số nhân tố vĩ mô
Chơng 2: Phân tích định lợng ảnh hởng của chính
sách cung tiền tới một số nhân tố vĩ mô của Việt Nam
trong giai đoạn gần đây
Chơng 3: Tổng kết và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực của chính sách
tiền tệ
4
Tổng quan các nghiên cứu đ có
Chính sách tiền tệ là một trong những công cụ mà Chính phủ mỗi quốc
gia sử dụng để tác động đến nền kinh tế. Với vai trò của mình, Chính phủ
muốn điều khỉển việc cung tiền và hiệu lực của tiền tệ để tác động đến toàn bộ
các hoạt động kinh tế- x hội hớng theo các mục tiêu chính trị đ đợc đặt ra.
Đó là ổn định kinh tế vĩ mô- giảm thất nghiệp, hạ thấp lạm phát, tăng trởng
kinh tế và cải thiện cán cân thanh toán. Bởi vậy nghiên cứu tác động của
chính sách tiền tệ mà đặc trng là lợng tiền cung ứng trong mỗi giai đoạn tác
động đến các nhân tố vĩ mô sẽ cho chúng ta biết đợc ảnh hởng tích cực hay
không tích cực của tiền tệ, từ đó đa ra các quyết định thích hợp trong hoạch
định chính sách.
Đối với các nớc phát triển, nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ,
cụ thể là tổng tiền cung ứng, đ có nhiều công trình đề cập tới về mặt lý thuyết
định tính cũng nh về mặt nghiên cứu thực nghiệm. Trên cơ sở các phơng
trình đơn giản St. Louis, các kết quả trong NEWTON College Working Paper
Spring 2005 và Winter 2005 [59] đ cho thấy mối quan hệ giữa lợng tiền
cung ứng M1 với tăng trởng GDP của nớc Mỹ từ quý 1 năm 1961 đến quý 3
năm 2004. Hơn nữa kết quả hồi qui cho các nớc phát triển nh Pháp, Italia,
Canađa, Nhật bản cũng thu nhận đợc với đại diện biến tiền tệ lần lợt là M1,
M2, M3. Mối quan hệ nhân quả giữa M và GDP cũng đợc chỉ ra thông qua
kiểm định Granger. Các quả cho thấy đối với các nớc phát triển, sự gia tăng
các lợng tiền cung ứng, nhất là khối lợng tiền M2 có tác động thuận chiều
đến sự gia tăng của thu nhập. Đồng thời có tồn tại mối nhân quả giữa các khối
lợng tiền cung ứng với thu nhập.
Theo một hớng khác, bằng việc sử dụng phơng trình Richard Davis
dới dạng
g
t
= +
=
4
0
.
i
itit
m
5
trong đó g
t
là sự thay đổi phần trăm của thu nhập danh nghĩa GNP, m là sự
thay đổi phần trăm của lợng tiền cung ứng, William E. Cullison ([94]) đ đa
ra những kết quả hồi qui cho nền kinh tế Mỹ theo số liệu từ quí 4 năm 1959
đến quí 4 năm 1979 và đa ra kết luận rằng khối lợng tiền cung ứng M1 và
MB đều có tác động thuận chiều đến GNP kéo dài tới 3 quí, còn tới quí thứ t
thì có tác động ngợc chiều nhng với hệ số khá nhỏ.
Với các nớc đang phát triển, sự biến động của lợng tiền cung ứng có
ảnh hởng lớn tới sự biến động của các nhân tố vĩ mô. Tác động đó đ đợc
xem xét cho nền kinh tế ấn độ thông qua các kết quả của Gupta, G. S. (1970,
1973, 1987). Khi nghiên cứu kinh tế Trung quốc từ năm 1951 đến 2002,
Chow, G. (2004) [49] chỉ ra mối quan hệ giữa tiền tệ, mức giá cả và thu nhập
trong các giai đoạn lịch sử khác nhau thông qua các mô hình định lợng và đ
đa ra các kết luận về vai trò rất quan trọng của chính sách tiền tệ trong tăng
trởng kinh tế và ổn định giá cả của Trung quốc. Đặc biệt, bằng cách tiếp cận
theo phơng pháp trễ phân phối Almon, Khatiwada [89] đ đa ra một cách
chi tiết các mối quan hệ giữa tiền tệ và thu nhập, giá cả và cán cân thanh toán
của nền kinh tế Nêpal trong giai đoạn 1966- 1990. Với những đặc điểm tơng
đối giống nhau giữa hai nền kinh tế Việt nam và Nêpal trong giai đoạn đầu
của nền kinh tế thị trờng, các kết quả của Khatiwada [89] sẽ giúp chúng ta
xem xét mối quan hệ giữa tiền tệ với các nhân tố vĩ mô của kinh tế Việt nam.
Trớc những thành tựu trong công cuộc đổi mới nền kinh tế của Việt
nam, một số nhà kinh tế trong và ngoài nớc đ nghiên cứu mối quan hệ giữa
tiền tệ và những nhân tố nh giá cả và lạm phát. Tuy nhiên các công trình
nghiên cứu về mặt định lợng cho các mối quan hệ là cha có nhiều. Nghiên
cứu thành quả sau 10 năm đổi mới, chúng ta thấy có công trình nghiên cứu
của tác giả Võ Trí Thành [119]. Trong đó tác giả đ phân tích mối quan hệ
giữa giá cả và lợng cung tiền thông qua các mô hình VAR. Kết quả nghiên
cứu của tác giả Phan Thị Hồng Hải [3] đ đề cập tới vai trò của chính sách
6
tiền tệ tới lạm phát, tác động thuận chiều của độ trễ trớc một chu kỳ của cung
tiền tới lạm phát. Chúng ta còn thấy kết quả nghiên cứu của các tác giả
Trơng Quang Hùng và Vũ Hoài Bo, Đỗ Thu Hơng cũng chỉ ra ảnh hởng
của yếu của cung tiền đến lạm phát. Mối quan hệ giữa tiền tệ với giá cả, tiền
tệ với cán cân thanh toán trong giai đoạn này cũng đợc các nhà nghiên cứu
tiền tệ ở Viện Quản lý Kinh tế Trung ơng và Vụ Chính sách Tiền tệ Ngân
hàng Trung ơng đề cập tới [22]. Các tác giả đ phân tích mối quan hệ định
tính giữa tiền tệ và cán cân thanh toán thông qua các chính sách. Đồng thời
các công trình cũng mới chỉ ra phơng trình hồi quy cho hệ số vô hiệu và hệ
số triệt tiêu. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu cha đa ra đợc phơng
trình luồng dự trữ và phơng trình vô hiệu. Đặc biệt chúng ta thấy các tác giả
cha đa ra mối quan hệ nhân quả giữa lợng tài sản ngoại tệ ròng và tín dụng
nội địa, vấn đề về tính đồng thời và sự điều hòa trong thị trờng hối đoái. Vì
vậy trong phần nghiên cứu của luận án sẽ đề cập tới những vấn đề còn bỏ ngỏ
nêu trên.
7
Chơng 1
Mối quan hệ giữa chính sách cung tiền
với một số nhân tố vĩ mô
1.2 Phân tích chính sách tiền tệ thông qua các mô
hình cho tiền cơ sở khả dụng
1.2.1 Chính sách tiền tệ và vai trò của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quản lý kinh tế vĩ mô
mà trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực thi các chính sách
liên quan đến tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu về tăng trởng kinh tế, ổn
định giá cả, cân bằng cán cân thanh toán và giải quyết công ăn việc làm.
Thông thờng Quốc hội hoặc Chính phủ giao việc điều hành chính sách tiền tệ
cho NHTW đảm nhiệm. Do đó quản lý và điều hành CSTT có một vai trò
quan trọng trong công tác hoạch định chính sách nhằm thoả mn các yêu cầu
trớc mắt và lâu dài của nền kinh tế.
Với chức năng quản lý một đối tợng có tính nhạy cảm và tính cộng
đồng cao nh tiền tệ, việc điều hành và thực thi chính sách tiền tệ của NHTW
là rất khó khăn. Bất kỳ một động thái nào về tiền tệ của NHTW đều có thể gây
ra những phản ứng tức thời tới các hoạt động của nền kinh tế. Bởi vậy trong
việc hoạch định chính sách tiền tệ cần phải xây dựng một chính sách hợp lý
chứa đựng cả yếu tố ngắn hạn lẫn yếu tố dài hạn.
Chính sách tiền tệ tác động tới nền kinh tế theo 3 kênh chủ yếu đợc
biểu diễn theo Sơ đồ 1.1
Trong ngắn hạn, khi nền kinh tế còn cha phát triển thì mục tiêu kích
cầu nhằm gia tăng sản lợng, phát triển kinh tế. Do đó ngân hàng phải cung
ứng một lợng tiền vừa đủ để duy trì sự tăng trởng cần thiết của tổng cầu,
đáp ứng các mục tiêu ngắn hạn về mức sản lợng và tỷ lệ việc làm. Tuy nhiên
8
lợng tiền cung ứng đó cũng phải xác định hợp lý để không ảnh xấu đến mục
tiêu ổn định giá cả.
Sơ đồ 1.1 Các kênh truyền tải của chính sách tiền tệ
Nguồn: Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ơng.
Tiền là một phơng tiện trung gian trong giao dịch, là phơng tiện cuối
cùng để thanh toán. Khi nền kinh tế phát triển, các loại hình dịch vụ sẽ phát
triển đòi hỏi một lợng tiền tơng xứng để đáp ứng những nhu cầu thanh toán
của nền kinh tế. Vì vậy trong dài hạn mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo ra
một lợng tiền vừa đủ để phục vụ các nhu cầu tăng trởng giao dịch, đáp ứng
yêu cầu tăng trởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát hợp lý và bình ổn giá cả. Do tiền là
Cung
ứng
tiền
tệ
Tiêu
dùng,
đầu t,
giá cả,
sản
lợng
Li suất
Tỷ giá
Giá cổ
phiếu
Thơng
mại
Giá trị
doanh
nghiệp
Tài sản,
thu nhập
Tài sản
ròng
Tiền gửi
ngân hàng
Tín
dụng
ngân
hàng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét