CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
về vốn, công nghệ, thị trờng,phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả cao. Mở rộng th-
ong nghiệp, du lịch và dịch vu. Đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại. Hoàn
thành một số ngành mũi nhọn nh chế biến nông, lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biến
dầu khi, một số ngành cơ khí chế tạo, công nghệ điện tử và công nghệ thông tin, du
lịch
Hai năm sau đó, dới tác động của cuộc khủng hoảng tại chính-kinh tế trong khu
vực, Hội nghị TW lần thứ IV khó VIII (12/1997) đã xem xét lại vấn đề chiến dịch cơ
cấu kinh tế và nhấn mạnh nhiệm vụ nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền
kinh tế là định hớng cơ bản cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, điều chỉnh cơ cấu đầu
t. Hớng điều chỉnh cụ thể: Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát
triển nguồn nguyên liệu nông sản, thuỷ sản, sản xuất hàng xuất khẩu và mặt hàng tiêu
dùng, đồng thời tạo điều kiện phát triển một số ngành điện tử, kể cả dịch vụ phần
mềm. Chú ý phát triển các ngành công nghiệp tốn ít vốn thu hút nhiều lao động. Phát
triển có lựa chọn một số ngành công nghiệp có điều kiện về tài nguyên, nguồn vốn và
bảo đảm đợc hiệu quả, coi trọng phát triển ngành cơ khí theo hớng đầu t chiều sâu là
chính để cải tạo các cơ sở hiện có và phát triển một số cơ sở mới có điều kiện.
Phát triển mạnh một số loại dịch vụ nh bu chính viễn thông, du lịch, tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm, t vấn theo hớng vừa phát triển thị trờng nội địa, vừa nhanh
chóng vơn ra thị trờng quốc tế.
Đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt lần đầu tiên chuyển dịch cơ
cấu lao động đợc đa vào nh một mục tiêu quan trọng của vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Năm 2010, tổng sản phẩm trong nớc (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm
2000, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ lao động nông
động nông nghiệp xuống còn 50%.
Vì việc chuyển dịch cơ cấu lao động có liên quan trực tiếp tới khả năng rút lao
động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, nên nhiệm vụ đầu tiên
phải là: đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, đa nông nghiệp, lâm
nghiệp, ng nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công
5
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
nghệ, nhất là công nghệ sinh học, đẩy mạnh thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá, điện khí hoá,
quy hoạch sử dụng đất hợp lý, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu đợc
trên đơn vị diện tích, giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá. Đầu t nhiều
hơn cho phơng tiện kết cấu hạ tầng và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp,
dịch vụ, các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế, cơ khí phục vụ nông
nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang
khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới nhằm nâng cao chất lợng
nguồn lực, cải thiện đời sống nhân dân và dân c ở nông thôn.
Đồng thời đối với khu vực công nghiệp phải: Vừa phát triển các ngẳnh dụng
nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có cộng nghiệp hiện đại,
công nghệ cao. Khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên, dầu khí, khoáng sản và
vật liệu xây dựng. Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng một
tập đoàn doanh nghiệp lơn đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại hoá.
3. Mục tiêu phấn đấu cụ thể của từng khu vực đến năm 2010
Giá trị gia tăng nông nghiệp (thuỷ sản, lâm nghiệp) tăng bình quân hàng năm là
4,0-4,5%. Đến năm 2010, tổng sản lợng lơng thực có hạt đạt 40 tấn. Tỷ trọng nông
nghiệp trong GDP khoảng 16-17%, tỷ trọng trong chăn nuôi trong tổng giá trị nông
nghiệp tăng trên 25%. Thuỷ sản đạt sản lợng 3-3,5 triệu tấn. Bảo vệ 10triệu ha rừng
tự nhiên, hoàn thành công trình trồng 5tr ha rừng. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm,
thuỷ sản đạt 9-10 tỷ USD, trong đó thuỷ sản chiếm khoảng 3,5 tỷ USD
Nhịp độ tăng trởng giá trị gia tăng công nghiệp (cả xây dựng) bình quân trong
10 năm tới đạt khoảng 10-10,5%/năm. Đến năm 2010 công nghiệp xây dựng chiếm
40-41% GDP và sử dụng 23-24% lao động. Giá trị xuất khẩu công nghiệp chiếm 70-
75% tổng kim ngạch xuất khẩu. Bảo đảm cung cấp đủ và an toàn năng lợng, đáp ứng
đủ nhu cầu về thép xây dựng, phân lân, một phần phân đạm, cơ khí chế tạo đáp ứng
40% nhu cầu trong nớc, tỷ lệ nội địa hoá trong sản xuất xe cơ giới, máy, thiết bị đạt
60-70%. Công nghệ điện tử thông tin trở thành mũi nhọn; chế biến hầu hết nông sản
6
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
xuất khẩu. Công nghiệp hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu trong nứơc và tăng nhanh
xuất khẩu.
Giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ đạt nhịp độ tăng trởng bình quân 7-8%/năm
và đến năm 2010 chiếm 42-43%GDP, 26-27% tổng số lao động. Trong đó điểm nhấn
quan trọng là: phát triển nhanh và hiện đại hoá dịch vụ: bu chính viễn thông, phổ cập
internetm, phát triển du lịch, mở rộng các dịch vụ tài chính, tiền tệ nh tín dụng, bảo
hiểm, chứng khoán đi thẳng vào công nghệ hiện đại. Từng bớc hình thành trung tâm
dịch vụ tài chính lớn trong khu vực.
Nh vậy, trong chủ trơng chuyển dịch cơ cấu ngành, t tơng quán xuyến của đại
hội IX là: rút ngắn thời gian, vừa có bớc tuần tự, vừa có bớc nhảy vọt, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu t dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và lợi thế so sánh
của đất nớc, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trờng trong nớc và mở rộng thị
trờng ngoài nớc, đẩy mạnh xuất khẩu.
Tóm lại, cùng với thời gian, nhận thức về vấn đề cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong thời kỳ CNH ở nớc ta đã có sự thay đổi rất to lớn và căn bản. Cái trục
xuyên suốt quá trình ấy là hiểu rõ mình ở đâu trong nấc tháng phát triển kinh tế và vị
trí nào trong mối quan hệ kinh tế quốc tế, những cái chi phối động thái của sự dịch
chuyển cơ cấu kinh tế.
Song song với những quan điểm về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu là vấn đề nhận
thức thực hiện, do vậy chúng ta hãy đi tìm hiều thực trạng của quá trình chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
7
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
ii. Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế ở Việt Nam
1. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam từ thập kỷ
1990 đến nay.
Để phân tích động thái chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam hiện nay,
trong chừng mực những số liệu thống kê chính thức sẵn có và có thể so sánh đợc,
chúng tôi chỉ sử dụng 2 chỉ tiêu cơ bản là cơ cấu GDP và cơ cấu lao động. Còn cơ cấu
nội bộ mỗi ngành, phần lớn chỉ tập trung vào cơ cấu GDP.
Tuy nhiên, có một lu ý nhỏ là có chút khác biệt giữa Việt Nam và các nớc trong
khi sử dụng số liệu thống kê sẵn có để phân tích, đánh giá tình hình hcuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế vĩ mô (tức phân chia nền kinh tế thành 3 khu vực cơ bản là: Khu
vực I, II, III, tơng ứng với 3 ngành kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, công nghiệp và
dịch vụ). Trong thống kê Việt Nam, khu vực I không bao gồm các ngành khai thác
mỏ, còn khu vực III thì không gồm lĩnh vực cung cấp điện, nớc và xây dựng; trong
khi khu vực II lại không chỉ có công nghiệp chế biến (hay công nghiệp nói chung),
mà còn gồm cả xây dựng và cung cấp điên nớc, đợc gọi chung là công nghiệp và xây
dựng.
Sự sắp xếp, phân loại này có thể phù hợp với điều kiện tổ chức để thu thập số
liệu thống kê của Việt Nam, điều nằm ngoài phạm vi thảo luận ở đây, nhng sự lu ý
chính là ở chỗ, khi sử dụng số liệu thống kê này để phân tích so sánh với quốc tế,
luôn lđòi hỏi sự đối chiếu lại nguồn số liệu. Trong trờng hợp cụ thẻ của phần phân
tích này, chúng tôi xin lu ý tới tỷ phần trên thực tế có thể thấp hơn so với sự phản ánh
của những số liệu thống kê hiện có về khu vực II (khu vực công nghiệp), cho dù khu
vực II vẫn tính phần công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Điều hy vọng là những
phần bù trừ nhau giữa các khu vực (ngành kinh tế vĩ mô) không tạo ra những sai lệch
quá lớn giữa số liệu thống kê chính thức với tình hình thực tế. Những dẫu vậy, phân
tích của chúng tôi vẫn thiên vè cho rằng, mức độ gia tăng tỷ trọng của khu vực công
nghiệp đợc phân tích dựa trên các số liệu thống kê chính thức có phần lạc quan hơn
so với thực tế.
8
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Riêng lĩnh vực lao động, có sự khác biệt rất đáng kể giữa các số liệu thống kê
chính thức của Tổng cục Thống kê trong những lần xuất bản khác nhau. Cụ thể là,
theo Niên giám thống kê năm 2002 ( xuất bản năm 2003), tổng số lao động đang làm
việc năm 200 là 36,7 triệu, năm 2001 là 37,7 triệu và năm 2002 là 38,7 triệu. Trong
khi đó Niên giám thống kê năm 2004 (xuất bản năm 2005), tổng số lao động đang
làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm là: năm 2000: 37,6 triệu, năm 2001: 38,6 triệu và
năm 2002: 39,6 triệu; tức là hơn số liệu trong Niên giám thống kê năm 2002 tới gần 1
triệu.
1.1. Cơ cấu GDP
1.1.1. Cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô
Kể từ khi quá trình đổi mới kinh tế đợc khởi động, nhất là từ thập kỷ 90 trở lại
đây, cùng với những thành tích tăng trởng kinh tế khá cao, công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô cũng ngày càng thể hiện
rõ hơn xu hớng tiến bộ
Cơ cấu ngành tính theo GDP của nền kinh tế 15 năm qua (1990-2005) đã có sự
thay đổi khá rõ. Tỷ trọng của khu vực nông, lâm ng nghiệp đã giảm từ mức 38,74%
năm 1990 xuống còn 20,5% năm 2005, bình quân giảm 1,3%/năm. Công nghiệp và
xây dựng tăng từ 22,67% năm 1990 lên gần 41% năm 2005, tức là bình quân mỗi
năm tăng hơn 1,2%. Riêng trong khu vực dịch vụ với sự mong đợi là tỷ trọng tăng
lên, trên thực tế 15 năm lại có xu hớng giảm, tuy rất ít, bình quân 0,03%/năm, từ
38,6% năm 1990 xuống 38,5% năm 2005. Vậy là, trong hơn một thập kỷ qua, sự thay
đổi cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô đã chỉ ra chủ yếu diễn ra giữa hai ngành sản xuất vật
chất cơ bản: nông nghiệp giảm gần nh bằng mức công nghiệp tăng.
1.1.2. Cơ cấu nội bộ các khu vực (ngành) kinh tế
9
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
a. Khu vực nông, lâm, ng nghiệp
Trong thời gian 15 năm qua, cơ cấu GDP trong nội bộ ngành nông, lâm, ng
nghiệp đã có sự thay đổi nhất định, trong đó rõ rệt nhất là sự gia tăng của ngành thuỷ
sản và sự suy giảm tỷ trọng của ngành sản xuất nông nghiệp.
Cụ thể là:
- Lĩnh vực lâm nghiệp
Do có chính sách đóng của rừng để khoanh nuôi, bảo vệ và trồng mới nhằm khôi
phục lại diện tích che phủ vốn đã bị khai thác và tàn phá tới mức cạn kiệt nên đóng
góp cho GDP của lâm nghiệp còn rất nhỏ về trị số tuyệt đối và tỷ trọng đóng gop
trong tổng GDP ngành nông-lâm- ng nghiệp có xu hớng giảm đi.
- Lĩnh vực nông nghiệp
Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp truyền thống (theo nghĩa hẹp) lấy việc trồng cấy
cây lơng thực (lúa nớc) làm chủ đạo có tốc độ tăng trởng khá cáo, trong khi tỷ tọng
giữa trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp ít thay đổi và tỷ tọng của nông
nghiệp trong khối nông- lâm- ng nghiệp chỉ giảm chút ít, cho thấy trên bình diện tổng
quát chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cha có sự chuyển biến mang tính đột
phá.
Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, nghiệp Việt Nam lại đang ghi nhận những sự
kiện tạo nền tảng rất có ý nghĩa đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói
riêng và cơ cấu toàn bộ nền kinh tế nói chung. Đó là:
+ Sản xuất nông nghiệp đã vợt qua cửa ải lơng thực
Thời kỳ đổi mới ghi nhận một sự kiện quan trọng có ý nghĩa bớc ngoạt quyết
định trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam là lần đầu tiên, sản xuất lơng thực (chủ
yếu là lúa nớc) không những đủ ăn mà còn bớc ra thị trờng thế giới với t cách là một
trong 3 nhà xuất khẩu gạo lớn. Năm 1989 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo
+ Chuyển đổi hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp thích hợp với cơ chế thị tr-
ờng
10
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, hình thức hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ
đã là một vật cản chủ yếu đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Công cuộc đổi mói trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu từ
chỉ thị số 100CT/TW và sau đó là Nghị quyết số 10-NQ/TW, đã giải phóng nền sản
xuất nông nghiệp khỏi những hạn chế của HTX nông nghiệp kiểu cũ tập trung, tai lập
lại hình thức sản xuất nông nghiệp hàng hoá với kinh tế hộ trong khuôn khổ chuyển
đổi cơ chế sang kinh tế thị trờng tuy là loại hình kinh tế hàng hoá nhỏ, nhng phù hợp
với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất trong nông nghiệp
hiện tại. chính vì vậy, loại hình kinh tế hộ gia đình đã phát huy đựơc vai trò động
lực chủ yếu tạo ra bớc ngoặt về thành tựu sản xuất lúa gạo nh đã nêu trên, Hơn nữa, từ
hình thức kinh tế nông hộ sản xuất hàng hoá, sản xuất nông nghiệp đã chuyển sang
một quỹ đạo phát triển mới, đúng với lôgic phát triển khách quan của nền kinh tế thị
trờng.
+ Bớc đầu hình thành nền nông nghiệp thơng phẩm
So với các loại hàng hoá phi nông nghiệp, thị trờng nông phẩm làthị trờng có số
lợng đông đảo nhất những ngời bán (hàng triệu hộ nông dân, các nhà kinh doanh
nông sản phẩm, các chủ trang trại ), và do đó, có thể coi là thị tr ờng có tính cạnh
tranh cao nhất. Khác với trớc kia, tỷ lệ hàng hoá của hầu hết các loại nông phẩm, kể
cả lơng thực, ngày càng chiếm ty rlệ cao trên thị trờng trong nớc và quốc tế. Sản xuất
để bán theo yêu cầu của thị trờng đang dần trở thành thói quen của nông dân. Sự hình
thành tập quán này thực sự có ý nghĩa rất lớn đối với xu hớng phát triển của nền nông
nghiệp thơng phẩm và tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp.
- Ng nghiệp
Sự phát triển khá mạnh của ng nghiệp (từ mức 3% GDP năm 1990 lên gần 4%
GDP năm 2004) trong hơn 10 năm qua có thể coi là hiện tợng mới trong sản xuát
nông nghiệp và phản ánh một phần kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp với các tiền đề quan trọng. Đáng chú ý là hàng thuỷ sản xuất khẩu gia
11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
tăng nhanh chóng và trở thành một trong số những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu
lớn
Tuy nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp từ cây lơng thực sang
nuôi trồng thuỷ hải sản ở một số địa phơng hiện cũng nổi lên các vấn đề liên quan
đến công tác quy hoạch, đến việc bảo vệ môi trờng và phát triển bền vững. Cũng phát
sinh những vấn đề về thị trờng xuất khẩu, về tiêu chuẩn vệ sinh, về công nghệ chế
biến cần đ ợc giải quyết để tiếp tục phát triển trong những năm tới.
b. Công nghiệp
Với mức tăng trởng bình quân 11,97%/năm (1991- 2004). Cao gấp 1,6 lần mức
tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế (7,48%/năm), công nghiệp và xây dựng là lĩnh vực
tạo ra sự biến đổi rõ rệt nhất về động tháI phát triển và tơng quan cơ cấu trong những
năm đổi mới vừa qua. Có thể nói, khu vực công nghiệp đã thực sự đóng vai trò đầu
tàu trong sự phát triển và dịch chuyển cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế. Tỷ trọng giá trị
gia tăng của công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 22,67% năm 1990 lên 40%
năm 2004, tức là gần gấp đôi trong thời gian 15 năm.
Nhìn một cách khái quát, sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp trong thời kỳ đổi
mới vừa qua nổi lên một số điểm nổi bật sau:
Một là, tỷ phần của tất cả các phân ngành công nghiệp và xây dựng (trong bảng
phân loại của thống kê Việt Nam) đề có sự gia tăng với các mức độ khác nhau.
Hai là, trong những năm trớc khi cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính châu á
bùng nổ, cơ cấu công nghiệp chịu tác động chủ yếu của dòng vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài, nhng sau đó cơ cấu nội bộ công nghiệp lại chịu tác động của cả hai nguồn vốn
lớn: đầu t trực tiếp nớc ngoài và các chơng trình đầu t trọng điểm của nhà nớc cho
một số ngành trọng điểm.
Ba là, trong nội bộ khu vực công nghiệp, thời gian 10 năm đầu thời kỳ đổi mới
(1986- 1995), trong số 19 ngành công nghiệp cấp 2, có 11 ngành tăng trởng vợt mức
bình quân chung (hơn 10%/năm so với 9,65%), bao gồm 7 ngành công nghiệp nặng
và 4 ngành công nghiệp nhẹ. Đạt tốc độ gia tăng cao nhất là ngành nhiên liệu, tiếp đó
12
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
là ngành in, may, sản phẩm da, điển tử, luyện kim đen. Sáu ngành này có mức tăng
trởng cao hơn 16%/năm. Trong khi đó, một số ngành tăng trởng chậm hơn. Đó là
ngành dệt, chế biến gỗ và lâm sản, chế tạo các sản phẩm kim loại không phải là máy
móc, thiết bị, thực phẩm. Trong số những ngành này, tốc đố tăng trởng chậm của
ngành dệt và thực phẩm là đáng lu ý hơn cả.
Bốn là, ngoài công nghiệp khai thác dầu khí, đã bớc đầu xuất hiện nhóm ngành
công nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao gồm: may mặc, giày dép, chế biến nông
sản, và gần đây là chế biến gỗ. Những ngành này tuy cha phải là những lĩnh vực có
giá trị gia tăng cao, song đã thu hút một lợng đáng kể lao động và tỏ ra thích hợp với
điều kiện lao động dồi dào ở Việt Nam hiện nay.
Năm là, khu vực t nhân có vai trò quan trọng nhất trong thu dụng lao động trong
thời gian qua. Trong khi khu vực Nhà nớc chiếm phần lớn tỷ trọng công nghiệp và
vốn đầu t xã hội, nhng mức độ gia tăng việc làm lại rất thấp. Khu vực FDI những năm
qua tuy cũng giải quyết đợc một số lợng việc làm nhất định, song nhìn chung suất
đầu t cho một chỗ làm nhất định đòi hỏi ngời lao động có tay nghề cao, nên việc gia
nhập lực lợng lao động ở khu vực này có phần hạn chế. Trong tình hình nh vậy, khu
vực các doanh nghiệp công nghiệp t nhân, dới tác động của Luật doanh nghiệp, đã
nhanh chóng trở thành kênh rất có ý nghĩa quyết định giải quyết áp lực d thừa lao
động trong xã hội.
c. Dịch vụ
Ngoài hai lĩnh vực vật chất là nông nghiệp và công nghiệp nêu trên, tập hợp các
ngành phi sản xuất vất chất còn bao hàm trong khối các ngành dịch vụ. Khối ngành
này bao gồm những ngành gọi là dịch vụ trung gian: thông tin, vận tải, trung gian
tài chính, điện, phân phối, xây dựng và dịch vụ thơng mại và những ngành dịch vụ
thoả mãn nhu cầu cuối cùng: du lịch và đi lại, chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ về
chăm sóc sức khẻo và môi trờng. Thực tế cho thấy rằng khu vực dịch vụ là khu vực có
tỷ trọng ngày càng gia tăng, nhất là nền kinh tế đã đạt đợc đến một mức độ công
nghiệp nhất định, khi đó con ngời có mức thu nhập cao hơn và nảy sinh các nhu cầu
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
: 6.280.688
về dịch vụ mới hơn để nâng cao chất lợng cuộc sống của họ. ở nhiều nớc công
nghiệp phát triển, trong thập kỷ vừa qua, tốc độ tăng trởng của khu vực dịch vụ đã vợt
xa tốc độ tăng trởng của ngành sản xuất công nghiệp. Hiện tại dịch vụ đã chiếm tới
1/4 tổng kim ngạch thơng mại giữa các quốc gia và hơn một nửa khối lợng giao dịch
của các chi nhánh công ty đa quốc gia trên toàn thế giới. Có hai yếu tố quan trọng
mang tính thời đại tác động đến khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế hiện nay là:
1. Quá trình toàn cầu hóa ngày càng đợc mở rộng và với tốc độ nhanh chóng,
kéo theo sự hoà nhập của các nớc phát triển và đang phát triển vào dòng chảy thơng
mại và sản xuất quốc tế. Điều này làm nảy sinh các dịch vụ hỗ trợ nh du lịch, t vấn,
nghiên cứu, khách sạn
2. Cách mạng tin học và sự phát triển của công nghệ thông tin liên lạc khiến sự
phát triển kinh tế len đợc đến vùng sâu, xa, khiến việc quản lý cũng chuyển đổi theo
chiều sâu hơn và đời sống nhân dân ở những khu vực này cũng thay đổi theo, nh vậy
các dịch vụ cũng có cơ hội phát triển cả ở vùng sâu, xa chứ không chỉ tập trung riêng
ở thành thị.
Các loại hình dịch vụ có tác động mạnh đến sự tăng trởng kinh tế hiện này là:
1. Dịch vụ viễn thông
2. Dịch vụ máy tính
3. Giáo dục và đào tạo
4. Các dịch vụ chuyên môn
1.2. Cơ cấu lao động
Theo số liệu Thống kê chính thức (Niên giám thống kê 2002, xuất bản năm
2003), đến năm 2002, sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành có phần không đợc
khả quan nh chuyển dịch cơ cấu GDP. Tổng số lao động đang làm việc trong nền
kinh tế đã tăng từ mức 29,4 triệu năm 1990 lên 38,7 triệu năm 2002, bình quân tăng
775 nghìn lao động/năm, tức là tăng 2,14%/năm. Trong thời gian này, tổng số lao
động của khu vực I (nông, lâm, ng nghiệp) đã tăng từ 21,5 triệu năm 1990 lên 25,5
triệu năm 2002, bình quân tăng 340 nghìn lao động/năm, tăng 1,3%/năm và chiếm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét