Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp tăng cường huy động vốn của ngân hàng công thương Ba Đình

cầu. Ví dụ: Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) việc
áp dụng công nghệ thông tin và hệ thống trang thiết bị hiện đại càng làm cho hoạt
động ngân hàng trở nên hoàn thiện
Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng thơng mại Việt
Nam cũng trải qua những bớc thăng trầm của lịch sử, chứng kiến bớc chuyển mình
vợt qua những chặng đờng khó khăn dới chế độ bao cấp bớc sang nền kinh tế thị
trờng . Trải qua hơn 10 năm đổi mới, sau khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là
Thủ tớng Chính phủ) ban hành nghị định 53 HĐBT (26/3/1988) với nội dụng
Cải tổ ngân hàng từ hệ thống ngân hàng một cấp duy nhất trong nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung thành định chế ngân hàng hai cấp theo hớng kinh
tế thị trờng. Ngày 23/5/1990 nhà nớc đã ban hành hai pháp lệnh về ngân hàng.
Ngày 26/12/1997, hai pháp lệnh trên đợc thay thế bằng hai luật: Luật Ngân hàng
Nhà nớc và Luật các tổ chức tín dụng, tạo đợc một hành lang pháp lý khá đầy đủ
cho hoạt động ngân hàng. Bộ mặt ngành ngân hàng đã thay đổi, hoạt động của
ngân hàng trở nên chuyên nghiệp và năng động hơn, đánh dấu sự thay đổi to lớn
trong cách nghĩ cũng nh cách làm.
Hệ thống NHTM Việt Nam từ khi ra đời cho tới nay đã dần khẳng định đợc
vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong việc thực thi chính sách tài
chính tiền tệ nói riêng. Vẫn với chức năng nhận tiền gửi để cho vay đối với nền
kinh tế, với vai trò trung gian tài chính trong hoạt động của mình, NHTM vẫn phải
tuân theo sự quản lý của Nhà nớc mà trực tiếp là sự quản lý của Ngân hàng Trung
ơng. Chính dới sự quản lý này, hệ thống NHTM đã thực hiện đợc chức năng của
mình đối với nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn vê NHTM, đặc biệt là tầm quan trọng
của NHTM đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nớc, ta sẽ tìm hiểu
các hoạt động chủ yếu của NHTM.
1.2. Các hoạt động chủ yếu của NHTM.
Cũng giống nh một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng là tối đa hóa lợi nhuận hay nói đúng hơn là tối đa hóa giá trị tài sản
của ngân hàng và thông qua đó thực hiện tốt vai trò là trung gian tài chính trong
nền kinh tế. Ngân hàng tạo ra lợi nhuận bằng cách bán những tài sản nợ có một số
5
đặc tính (một kết hợp riêng về tính lỏng, rủi ro và lợi tức) và dùng tiền thu đợc để
mua những tài sản có một số đặc tính khác. Nh thế các ngân hàng cung cấp một
dịch vụ chuyển một loại tài sản thành một loại tài sản khác cho công chúng.
Nghiệp vụ này đã tạo ra lợi nhuận thặng d cho ngân hàng đồng thời tạo tiện ích
cho khách hàng để đôi bên cùng có lợi.
Nghiệp vụ tài sản nợ (Nguồn vốn):
Đây là nghiệp vụ tạo điều kiện và tiền đề cho hoạt động của NHTM. Các
NHTM thực hiện huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dới
mọi hình thức để thực hiện nhiệm vụ đầu t, cho vay đối với các thành phần kinh tế,
giúp họ đổi mới trang thiết bị sản xuất, nâng cấp nhà xởng phục vụ kinh doanh
Nghiệp vụ tài sản có (Sử dụng vốn):
- Nghiệp vụ dữ trữ tiền mặt:
Ngân hàng dự trữ tiền mặt nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân
hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thờng xuyên, liên tục của khách hàng
vào bất cứ lúc nào. Dự trữ tiền mặt cao hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động,
cơ cấu và tính chất nguồn vốn của NHTM. Các khoản dự trữ của NHTM không
sinh lời.
- Nghiệp vụ đầu t: Ngân hàng tham gia góp vốn liên doanh, liên kết, thành
lập công ty con
- Nghiệp vụ cho vay: Cho vay là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu cho
các NHTM. Các NHTM sử dụng phần lớn số tiền huy động đợc để cho vay đối với
nền kinh tế. Lợi nhuận thu đợc từ hoạt động cho vay là nguồn thu nhập chính để
bù đắp các loại chi phí trong hoạt động của Ngân hàng và thu lợi của NHTM.
Các dịch vụ Ngân hàng:
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, các NHTM đã tiến hành cung
ứng các dịch vụ phục vụ khách hàng nh: dịch vụ thanh toán, đại lý, t vấn tài
chính, trên cơ sở đó Ngân hàng thu phí dịch vụ. Ngày nay do nhu cầu phát triển
của nền kinh tế đòi hỏi hoạt động dịch vụ Ngân hàng ngày càng mở rộng về số l-
ợng và chất lợng. Các Ngân hàng đầu t trang thiết bị, cơ sở vật chất, áp dụng các
6
công nghệ tiên tiến vào hoạt động Ngân hàng, thực hiện tốt khâu thanh toán không
dùng tiền mặt nh uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán séc, thanh toán bù trừ,
thực hiện chuyển tiền nhanh qua mạng máy tính, thực hiện thanh toán bằng thẻ tín
dụng
Thực hiện tốt khâu cung ứng dịch vụ góp phần làm tăng thu nhập cho Ngân
hàng vì xu hớng phát triển trong hoạt động của NHTM hiện đại là mở rộng các
hoạt động dịch vụ, đồng thời vẫn duy trì các nghiệp vụ Ngân hàng truyền thống,
thông qua việc đa dạng hoá các hoạt động, các NHTM có thể vừa tăng thu nhập
vừa có thể cạnh tranh với các định chế tài chính phi Ngân hàng trong lĩnh vực
cung ứng các sản phẩm tài chính.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đem lại cho Ngân hàng những khoản thu
nhập từ chênh lệch tỷ giá và các dịch vụ thanh toán quốc tế, đó chính là doanh lợi
hối đoái.
Nh vậy, thành phần chính trong cơ cấu tổng thu nhập của NHTM là lãi cho
vay, lợi tức từ các khoản đầu t, dịch vụ phí và doanh lợi hối đoái.
2. Nguồn vốn của NHTM.
Hoạt động của NHTM luôn gắn liền với công tác huy động vốn. Vậy ta hiểu
nh thế nào là vốn?
Trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc tạo nguồn vốn và đầu t
vốn là công việc của Nhà nớc, nghĩa là Nhà nớc đóng vai trò vừa là ngời cấp phát
vốn đầu t cho các thành phần kinh tế, vừa là ngời tiêu thụ các sản phẩm mà các
thành phần kinh tế đó sản xuất. Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu do ngân sách
của Nhà nớc cấp hoặc vay tín dụng ngân hàng với lãi suất thấp. Thực tế cho thấy,
nhu cầu vốn của các doanh nghiệp là rất lớn trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà
nớc cấp lại có hạn và nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c không thu hút đợc,vì chính
sách huy động vốn cha hợp lý, thủ tục gửi tiền và rút tiền còn rờm rà Nh vậy cơ
chế bao cấp đã làm cho đồng tiền không đợc lu thông và sử dụng có hiệu quả,
không có nơi giao dịch mua bán trên thị trờng. Mặt khác cơ chế huy động vốn và
sử dụng vốn trong thời kỳ này cha đợc quan tâm đúng mức.
7
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng, với chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, Nhà nớc đã khuyến khích các thành phần kinh tế tự bỏ
vốn đầu t. Điều đó làm cho vốn trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu và là điều
kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu t sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp
Nhà nớc không thể bỗng dng mà có đợc vốn vì không đợc cấp vốn nh trớc nữa,
cho nên buộc họ phải tìm cách mua vốn trên thị trờng tài chính. Nh thế ngời mua
vốn phải trả lãi cho ngời có vốn trên thị trờng một khoản phí để có đợc quyền sử
dụng vốn trong thời gian xác định. Thông qua thị trờng, vốn đợc lu chuyển rộng
rãi, từ đó nó mới có thể thể hiện đủ bản chất và vai trò của mình. C.Mác đã khái
quát hoá phạm trù vốn là: T bản qua định nghĩa hết sức cô đọng: t bản là giá trị
mang lại thặng d.
Nh vậy, vốn phải đợc biểu hiện dới hình thái giá trị của tài sản tức là vốn
phải đợc đại diện cho một lợng giá trị thực của tài sản nhất định. Mặt khác vốn
không chỉ biểu hiện thành tiền (tiền giấy, vàng, bạc, đá quý) và phản ánh giá trị
những tài sản hữu hình (máy móc thiết bị, đất đai, nhà cửa) mà còn đợc biểu
hiện bằng giá trị của những tài sản vô hình (uy tín, trình độ, phát minh, sáng chế,
thông tin, công nghệ) chính vì sự biểu hiện dới các hình thức phong phú và đa
dạng đó mà vốn cần phải đợc khai thác, sử dụng có hiệu quả mới đem lại lợi
nhuận cao. Và cũng qua đó giúp ta phân biệt với tiền lơng dễ dàng hơn: nếu có
một lợng tiền đợc in không đợc phát hành trên cơ sở giá trị thực của hàng hoá để
đa vào đầu t thì đó chỉ là vốn giả tạo chứ không phải là vốn đầu t, thực chất chỉ
những đồng tiền phát hành trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị thực của hàng hoá mới
đợc gọi là vốn.
Nh ta đã biết trong quá trình vận động, khác với các loại hàng hoá, điểm
xuất phát và điểm kết thúc của vốn đều là tiền. Sau một chu kỳ vận động vốn đợc
lớn lên và đem lại hiệu quả cao, thể hiện:
Trong doanh nghiệp sản xuất:
T-H SX H-T T= T+t >T
Trong NHTM:
8
T=H-T
Còn trong các tổ chức tài chính trung gian:
T=T-T
Tóm lại từ những nét đặc thù trên ta có thể đa ra khái niệm nh sau: Vốn là
các tài sản trong xã hội đợc đa vào đầu t nhằm mang lại hiệu quả trong tơng lai. Vì
thế trong nền kinh tế thị trờng dù hoạt động trong lĩnh vực nào thì vốn cũng là một
yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của nó. Hoạt động ngân hàng cũng vậy,
muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả mang lại hiệu quả cao thì công tác huy
động cần phải đợc quan tâm đúng mức.
Nớc ta cũng nh bất kỳ nớc nào khác trên thế giới, muốn thực hiện công
nghiệp hóa - hiện đại hóa cũng cần phải có vốn. Vốn là chìa khóa, là điều kiện
hàng đầu để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Vốn trong nền kinh tế có
thể ví nh máu trong cơ thể, thiếu vốn nền kinh tế sẽ chậm phát triển. Song vốn đợc
tạo lập từ đâu, bằng cách nào phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách tạo vốn.
Nguồn vốn của NHTM đóng vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng mà còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Vậy, nguồn vốn của NHTM là gì?
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền mà ngân hàng tạo lập
và huy động đợc để đầu t cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng.
Nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập và huy động đợc không những giúp cho
ngân hàng tổ chức đợc mọi hoạt động kinh doanh mà còn góp phần quan trọng
trong việc đầu t phát triển sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp nói riêng
cũng nh sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung. Tuy nhiên,
nguồn vốn của NHTM đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nh: vốn chủ sở
hữu, vốn huy động, vốn đi vay và các loại vốn khác.
2.1. Vốn chủ sở hữu.
9
Vốn chủ sở hữu có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
NHTM, nó thực hiện một số chức năng không thể thay thế đó là: cung cấp nguồn
lực ban đầu cho ngân hàng có thể duy trì hoạt động khi ngân hàng mới thành lập,
là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng đến giao dịch với ngân hàng, phòng ngừa rủi
ro kinh doanh cho ngân hàng. Vốn chủ sở hữu bao gồm:
2.1.1. Nguồn vốn hình thành ban đầu.
Đây đợc coi nh vốn điều lệ của ngân hàng trong quy định về điều kiện thành
lập ngân hàng của pháp luật. Nguồn vồn này là lợng vốn tối thiểu mà ngân hàng
cần phải có để đáp ứng điều kiện thành lập cũng nh hoạt động kinh doanh. Các
loại hình ngân hàng khác nhau thì có nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác
nhau: Đối với ngân hàng quốc doanh thì nguồn vốn hình thành ban đầu là do ngân
sách nhà nớc cấp, nếu là ngân hàng liên doanh thì là do các bên liên doanh đóng
góp, nếu là ngân hàng cổ phần thì các cổ đông góp vốn thông qua việc mua cổ
phần hoặc cổ phiếu của ngân hàng; nếu là ngân hàng t nhân thì đó là vốn thuộc sở
hữu t nhân.
2.1.2. Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng có thể gia tăng theo nhiều phơng thức khác
nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của ngân hàng. Đó bao gồm:
Nguồn từ lợi nhuận: Khi hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận thì ngân hàng có
thể chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn vốn nhằm tái đầu t. Lợng vốn tích lũy
t thu nhập tùy theo chiến lợc kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới cũng
nh cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy và tiêu dùng.
Nguồn bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở rộng
quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu cầu gia
tăng vốn của chủ do Ngân hàng Nhà nớc quy địnhĐặc điểm của hình thức huy
động này là không thờng xuyên, song giúp cho ngân hàng có đợc lợng vốn chủ sở
hữu lớn vào lúc cần thiết.
2.1.3. Các quỹ.
10
Ngân hàng có nhiều các quỹ khác nhau, mỗi quỹ đợc sử dụng vào những mục đích
nhất định tùy thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng. Các quỹ của ngân
hàng thuộc sở hữu của chủ ngân hàng. Nguồn hình thành các quỹ này là từ thu
nhập của ngân hàng. Các quỹ của ngân hàng bao gồm:
- Quỹ bổ sung vốn điều lệ: có mục đích tăng cờng số vốn tự có ban đầu.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong hoạt
động kinh doanh ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Quỹ này đợc trích lập
hàng năm và đợc tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra.
- Ngoài ra còn có các quỹ đặc biệt khác nh: quỹ khen thởng, quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ giám đốc,
Dự phòng rủi ro: Dự phòng rủi ro tín dụng đợc các NHTM trích lập từ thu
nhập trớc hoặc sau thuế (theo quy định của từng quốc gia) theo một tỷ lệ nhất định
nào đó. Khoản trích lập này là quan trọng và cần thiết cho hoạt động Ngân hàng,
vì trong nền kinh tế thị trờng không thể tránh khỏi những rủi ro bất khả kháng có
thể xảy ra, khi đó, ngân hàng có thể trích các quỹ để bù đắp.
2.1.4. Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần.
Các khoản vay trung và dài hạn của ngân hàng mà có khả năng chuyển đổi
thành vốn cổ phần có thể đợc coi là một bộ phận vốn sở hữu của ngân hàng (vốn
bổ sung) do nguồn này có một số đặc điểm nh sử dụng lâu dài, có thể đầu t vào
nhà cửa, đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đến hạn.
2.2. Nguồn huy động.
Nguồn huy động không phải là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng nhng lại
là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận của ngân hàng,th-
ờng thì tiền gửi vào và tiền rút ra không đồng thời hoặc chênh lệch nhau một lợng
nhất định. Ngân hàng sẽ sử dụng lợng vốn tạm thời nhàn rỗi này vào mục đích cho
vay kiếm lời. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Vốn huy động bao gồm:
- Tiền gửi giao dịch:
11
Là loại tiền gửi do khách hàng gửi vào nhằm mục đích giao dịch thanh toán, chi
trả các hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ và các khoản chi phí phát sinh trong
kinh doanh một cách an toàn, thuận tiện. Đặc tính cơ bản của tiền gửi giao dịch là
có thể phát séc, lãi suất thấp và có tính không ổn định.
- Tiền gửi phi giao dịch:
Bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, chúng có tính ổn định cao, ngời
gửi đợc hởng lãi suất cao nhng không đợc phát hành séc.
Bên cạnh đó, NHTM còn có thể huy động vốn thông qua phát hành các giấy tờ có
giá nh: chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu và trái phiếu. Trong đó chứng chỉ tiền gửi và
kỳ phiếu là loại phiếu nợ ngắn hạn; trái phiếu là loại phiếu nợ trung, dài hạn. Các
loại phiếu nợ trên đợc Ngân hàng phát hành từng đợt với mục đích, số lợng cụ thể
và chỉ phát hành khi đợc sự cho phép của NHTW. Đặc điểm của các loại giấy nợ
này là chúng có lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm, có
tính ổn định cao, quyền đòi tiền xếp sau các loại tiền gửi khác.
2.3. Nguồn đi vay.
Là nguồn vốn mà ngân hàng phải vay mợn thêm trong trờng hợp khả năng
huy động của ngân hàng bị thiếu hụt khi nhu cầu thanh toán, chi trả cho khách
hàng tăng cao. Nguồn đi vay đợc hình thành dựa trên mối quan hệ vay mợn của
ngân hàng thơng mại với ngân hàng trung ơng, với các tổ chức tín dụng khác hoặc
giữa các ngân hàng thơng mại với nhau.
Ngân hàng thơng mại thờng vay ngân hàng trung ơng khi khả năng chi trả của
ngân hàng không đáp ứng đợc nhu cầu trong thời gian ngắn. Các NHTM vay vốn
của NHTW dới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu để bù đắp thiếu hụt trong
thanh toán, bổ sung vốn dự trữ Để đợc vay chiết khấu các NHTM phải nộp cho
NHTW các giấy tờ có giá có thời hạn còn lại là ngắn hạn xin chiết khấu nh thơng
phiếu, chứng khoán của Chính phủ chúng thờng là các loại giấy tờ mà chủ thể
phát hành ra chúng có uy tín cao. Lãi suất chiết khấu do NHTW quy định tùy
thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ của Nhà nớc trong từng thời kỳ. Ngân hàng
Nhà nớc điều hành việc vay mợn này một cách chặt chẽ, ngân hàng thơng mại
phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định.
12
Để đảm bảo cho việc thanh khoản của mình, các ngân hàng thiếu hụt dự trữ
có nhu cầu vay mợn tức thời các ngân hàng thờng vay mợn của nhau và vay các tổ
chức tín dụng khác trên thị trờng liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có số d tiền
gửi vợt yêu cầu cha sử dụng sẽ sẵn sàng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm
lãi suất cao hơn. Quy trình vay mợn giữa các ngân hàng rất đơn giản, ngân hàng đi
vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại
lí (và có thẻ là ngân hàng nhà nớc). Khoản vay có thể có hoặc không cần đảm bảo,
dựa trên cơ sở uy tín của ngân hàng đi vay hoặc mối quan hệ giữa các ngân hàng
với nhau.
Ngoài các hình thức trên ngân hàng có thể vay mợn bằng cáchphát hành các
công cụ nợ nh: Kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu trên thị trờng vốn. Các khoản vay
này có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu
cầu cho vay và đầu t trung và dài hạn, là giải pháp tình thế cho ngân hàng trong
hoàn cảnh khó khăn.
3. Vai trò của nguồn vốn huy động.
3.1. Đối với nền kinh tế.
Nớc ta đang trong tiến trình xây dựng một nền kinh tế vững mạnh vận động
theo cơ chế thị trờng, việc này phải đồng thời với vấn đề phải phát triển một thị tr-
ờng tài chính xứng tầm. Trong nền kinh tế thị trờng, mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của các đơn vị, tổ chức kinh tế và cá nhân đều chịu sự tác động của thị tr-
ờng, cuả các quy luật kinh tế: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá
trịChính vì vậy các doanh nghiệp để tồn tại đợc trên thơng trờng phải không
ngừng đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lợng sản
phẩm,Vấn đề này thực hiện đợc khi và chỉ khi doanh nghiệp huy động đợc đủ l-
ợng vốn cần thiết và sử dụng có hiệu quả chúng vào đúng mục đích. Nguồn vốn tự
có của doanh nghiệp thờng không đáp ứng đợc nhu cầu vốn của doanh nghiệp, do
đó doanh nghiệp phải đi vay vốn nhằm bù đắp cho nhu cầu đầu t của mình. Với sự
xuất hiện của thị trờng tài chính và hệ thống ngân hàng thơng mại thì việc vay vốn
của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các cá nhân trở nên dễ dàng hơn. Doanh
nghiệp có thể chủ động tìm kiếm vốn từ nhiều nguồn khác nhau với chi phí tiết
13
kiệm và thủ tục đơn giản hơn rất nhiều.
Chính phủ trong nhiều trờng hợp cũng cần phải huy động lợng vốn nhất định
để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình. Ngân sách Nhà nớc là nguồn cung cấp chủ
yếu cho kế hoạch chi tiêu của chính phủ, song không phải lúc nào nó cũng ở trong
trạng thái lành mạnh, đủ khả năng đáp ứng. Giải pháp đặt ra là có thể in thêm tiền
hoặc tăng thuế, vay nợ nớc ngoài nhng việc này sẽ gây ảnh hởng tiêu cực lên toàn
bộ nền kinh tế, qua đó nảy sinh các vấn đề về xã hội. Đây là điều mà các nhà
hoạch định chính sách vĩ mô không muốn nó xảy ra. Vì vậy nhà nớc có thể sử
dụng biện pháp tích cực hơn đó là tìm kiếm nguồn vốn huy động trong và ngoài n-
ớc thông qua việc phát hành các công cụ nợ nh trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho
bạc
Qua những dẫn chứng trên có thể thấy đợc tầm quan trọng của nguồn vốn huy
động đối với nền kinh tế, tác động trực tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu
dùng. Chính sách huy động vốn trong nền kinh tế thị trờng có ảnh hởng trực tiếp
đến các hoạt động tài chính, tình hình lạm phát và ổn định tiền tệ. Để khai thông
nguồn vốn đầu t phát triển cho nền kinh tế chúng ta phải tận dụng tốt lợng vốn
nhàn rỗi từ dân c, các tổ chức kinh tế thông qua các kênh huy động của ngân hàng
thơng mại, các tổ chức tín dụng, và có thể từ ngân sách nhà nớc cho đầu t phát
triển. Trong đó công tác huy động vốn trong ngân hàng thơng mại đóng vai trò
quyết định và đợc chú trọng hơn cả.
Chính sách huy động vốn là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc
gia, nó liên quan đến chính sách phân phối thu nhập của quốc gia đó, tác động trực
tiếp đến mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng. Chính sách huy động vốn trong
nền kinh tế thị trờng có ảnh hởng trực tiếp đến các hoạt động tài chính, tình hình
lạm phát và ổn định tiền tệ. Vì nguồn vốn có vai trò to lớn đối với nền kinh tế nh
vậy, nên chúng ta cần phải khơi thông các nguồn vốn cho đầu t phát triển kinh tế,
thông qua các kênh: vốn từ ngân sách nhà nớc, vốn huy động của các tổ chức tín
dụng Trong các kênh trên, vốn từ ngân sách nhà nớc chỉ đáp ứng nhu cầu của
các doanh nghiệp nhà nớc. Nhng hiện nay số lợng doanh nghiệp nhà nớc đã giảm
do việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nớc. Vì vậy, việc huy động vốn từ kênh
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét