Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Thiết kế hệ thống xử lý nước thải mì ăn liền cho nhà máy Gosaco

DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Hình Trang
1 Hình 1.1 Sơ đồ qui trình công nghệ gồm các công đoạn sản xuất 9
2 Hình 6.1: Sơ đồ làm việc của bể Aerotank 59
3 Hình 6.2: Sơ đồ xử lý ở phương án 2 79
KÍ HIỆU VIẾT TẮT
BOD: Biochemical Oxygen Demand _Nhu cầu oxy sinh hóa,mg/l
COD: Chemical Oxygen Demand _Nhu cầu oxy hóa học, mg/l
DO: Dissolved Oxygen _Oxy hòa tan, mg/l
F/M: Food/Micro – organism_Tỷ số lượng thức ăn và lượng vi sinh vật trong
mô hình
MLSS: Mixed Liquor Suspended Solid _Chất rắn lơ lửng trong bùn, mg/l
MLVSS: Mixed Liquor Volatite Suspended Solid _Chất rắn lơ lửng bay hơi trong
bùn lỏng, mg/l
SS: Suspended Solid _Chất rắn lơ lửng, mg/l
SVI: Sludge Volume Index_ Chỉ số thể tích bùn, ml/g
VS: Volume Index_ Chất rắn bay hơi, ml/g
5
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta đang trong giai đoạn phát triển, tiến tới một nước công nghiệp hóa-hiện
đại hóa đất nước để hòa nhập với các nước trong khu vực. Ngành công nghiệp cũng
ngày càng phát triển và đem lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế như tạo ra các sản phẩm
phục vụ trong và ngoài nước, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.Tuy nhiên
với sự phát triển và ngày càng đổi mới của ngành công nghiệp đã dẫn đến việc khai thác
nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách mạnh mẽ làm cho chúng trở nên cạn kiệt. Các
chất thải từ ngành công nghiệp sinh ra ngày càng nhiều, làm cho môi trường thiên nhiên
bị tác động mạnh, mất đi khả năng tự làm sạch. Phần lớn các thiết bị của ngành sản xuất
ở nước ta thì chưa được đầu tư và hiện đại hóa hoàn toàn.Quy trình công nghệ chưa triệt
để.
Hòa cùng xu thế phát triển của đất nước, ngành công nghiệp mì ăn liền cũng
ngày càng mở rộng vì đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trong thời đại mới nhờ
những ưu điểm: thơm ngon, tiện dụng, hợp túi tiền…Sự ra đời ồ ạt của các xí nghiệp
sản xuất mì ăn liền cũng tạo ra những vấn đề môi trường đáng quan tâm làm ảnh hưởng
đến sức khỏe cộng đồng.
Vì vậy mà tầm quan trọng của biện pháp bảo vệ môi trường sống ngày một tăng
lên. Một trong những biện pháp đó là làm sạch nguồn nước thải trước khi thải ra nguồn
tiếp nhận. Thực tế Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố và Sở Tài Nguyên và Môi Trường có
chủ trương cải tạo tình trạng ô nhiễm nước là khắc phục ô nhiễm tại nguồn; mọi nguồn
tiếp nhận. Do đó việc yêu cầu các đơn vị sản xuất, các khu công nghiệp cần phải xây
dựng hệ thống xử lý nước thải. Với đề tài: “Thiết kế hệ thống xử lý nước thải mì ăn
liền cho nhà máy Gosaco”, tôi xin đóng góp một phần vào việc bảo vệ môi trường cho
Thành Phố của chúng ta.
1.2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG LUẬN VĂN
1.2.1 Mục tiêu
Thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho công ty cổ phần thực phẩm Bình Tây đạt
tiêu chuẩn loại B (TCVN 5945-1995) trước khi thải ra hệ thống thoát nước chung.
1.2.2 Nội dung
 Khảo sát hiện trạng môi trường nhà máy
 Thu thập và xử lý số liệu đầu vào
 Đề xuất công nghệ xử lý nước thải của nhà máy
 Tính toán các công trình đơn vị
 Khái toán giá thành xây dựng, giá thành xử lý
6
1.3 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Trên cơ sở thu thập thông tin, sưu tầm, điều tra, khảo sát, nghiên cứu nà đề xuất
công nghệ xử lý nước thải cho công ty cổ phần thực phẩm Bình Tây, có thể tóm tắt các
phương pháp thực hiện như sau:
 Phương pháp điều tra khảo sát.
 Phương pháp tổng hợp thông tin
 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết về xử lý nước thải
7
Chương 2
TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN VIỆT NAM
VÀ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
2.1 GIỚI THIỆU NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN Ở
VIỆT NAM
2.1.1 Giới thiệu chung
Mì ăn liền được người Nhật Bản nghĩ ra và sản xuát đầu tiên trên thế giới. Nó ra
đời để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của người Nhật trong thập niên 60 của thế kỷ 19, là
thời kỳ công nghiệp hóa mạnh mẽ của nước Nhật.
Ở Việt Nam, mì gói xuất hiện đầu tiên vào khoảng giữa thập niên 60 và nhanh
chóng chiếm lĩnh thị trường tiêu dùng, vì nó cũng phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của
người Việt Nam. Nhà máy sản xuất mì gói ăn liền đầu tiên của Việt Nam ra đời mang
tên công ty kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam, thương hiệu là VIFON, nhãn hiệu sản xuất
đầu tiên mang tên “Mì ông Phật”.
Từ đó đến nay, mì ăn liền luôn được ưu chuộng và nhu cầu tiêu thụ của sản phẩm
này càng tăng đối với thị trường nội địa. Vào những năm 80, thị trường trong nước còn
xuất hiện nhiều chủng loại khác có xuất xứ từ Thái Lan, Singapore, Trung Quốc,
Malayxia.
Trong những năm qua, đặc biệt là 10 năm gần đây ngành công nghiệp sản xuất
mì ăn liền của Việt Nam hòa mình vào công cuộc đổi mới, đã từng bước vươn lên phát
triển mạnh mẽ. Dần dần nó đã chiếm lĩnh thị trường trong nước đẩy lùi các mặt hàng
cùng loại của các nước trong khu vực. Ngành sản xuất mì ăn liền của Việt Nam xứng
đáng với vị trí là niềm tự hào của nền công nghiệp còn non trẻ của đất nước ta trong thời
đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
2.1.2 Ngành sản xuất mì ăn liền ở Việt Nam
Gần đây ngành công nghiệp sản xuất mì ăn liền của Việt Nam đã từng bước
vươn lên phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và cạnh tranh
được với các mặt hàng do nước ngoài sản xuất.
Từ năm 1990 đến nay, thị phần của các sản phẩm nước ngoài chiếm một tỷ lệ
thấp. Ngược lại, hiện nay các mặt hàng sản phẩm ngang thương hiệu Việt đang xuất
hiện khá nhiều và tràn ngập trên thị trường lương thực thực phẩm như: MILIKET,
COLUSA, VỊ HƯƠNG, BÌNH TÂY…, và đã có mặt trên thị trường các nước thuộc khu
vực Động Nam Á và Đông Âu ngày càng nhiều. Có thể dẫn ra một vài số liệu cụ thể
sau: Năm 1995: mì gói ăn liền COLUSA đã xuất sang Trung Quốc 40 triệu gói, qua
Campuchia 110 triệu gói, thị trường Đông Âu 2 triệu gói. Bốn đơn vị hàng đầu sản xuất
trên 85% lượng hàng hoá mì ăn liền là: VIFON, COLUSA, MILIKET, BÌNH TÂY trên
tổng số ước chừng 800 triệu gói/năm. Tuy nhiên với sản lượng như hiện nay, thị trường
trong nước và nước ngoài còn xa mới có thể đạt giới hạn bão hoà, các đơn vị sản xuất
8
này không ngừng mở rộng sản xuất, gia tăng sản lượng hàng năm để đáp ứng nhu cầu
thị trường. Ngày càng nhiều nhãn hiệu mới xuất hiện tham gia trên thị trường như:
KNORZ, MILIMEX, A ONE, GẤU ĐỎ,…
Sản lượng mì ăn liền trong cả nước sản xuất trong năm 1997 ước chừng là
100.000 tấn/năm tương đương 1 tỷ 300 triệu gói mì. Đóng góp vào ngân sách nhà nước
hàng chục tỷ đồng, đồng thời là lương thực cứu đói khẩn cấp cho những vùng bị thiên
tai, dịch bệnh hoành hành.
2.1.3 Công nghệ sản xuất và nguyên nhiên vật liệu
2.1.3.1 Công nghệ sản xuất
Thiết bị máy móc sản xuất mì ăn liền đều sử dụng nguyên lý hoạt động của thiết
bị do Nhật Bản sản xuất và lắp đặt ở VIFON. Ngoại trừ thiết bị của xí nghiệp liên doanh
SàiGòn-WeVong do Đài Loan chế tạo, thiết bị của các cơ sở sản xuất khác (quốc doanh
cũng như tư nhân) đều được chế tạo trong nước, hiệu quả hoạt động không thua kém
thiết bị của nước ngoài, nhưng giá thành sản xuất rẻ hơn rất nhiều (chỉ bằng khoảng 1/3
giá thành của nước ngoài). Qui trình công nghệ gồm các công đoạn sản xuất chủ yếu
như sau:
Hình 1.1: Sơ đồ qui trình công nghệ gồm các công đoạn sản xuất
Đa số các cơ sở mì ăn liền đều sử dụng phương pháp chiên trực tiếp bằng cách
đưa các vắt mì sau khi đã nhúng súp, vô khuôn vào chảo dầu Shortening sôi nóng ở
nhiệt độ 150
o
C. Chỉ riêng có dây chuyền sản xuất mì ăn liền nhãn hiệu A-One của xí
nghiệp liên doanh SàiGòn-WeVong sử dụng phương pháp chiên gián tiếp, bằng cách
đưa mì qua chảo chiên dưới hơi nóng 150-170
o
C của dầu Shortening. Do đó gói mì của
A-One có màu trắng hơn các gói mì mang nhãn hiệu khác.
2.1.3.2 Nguyên vật liệu sản xuất
Nguyên liệu chính là bột lúa mì nhập khẩu được phối liệu với các loại phụ liệu
khác như: dầu Shortening, bột ngọt, muối, đường, tôm, cua, thịt bò, thịt heo, tiêu, hành,
tỏi, ớt,….Các xí nghiệp mì ăn liền sản xuất nhiều chủng loại mặt hàng khác, tuỳ theo
từng loại mì ăn liền; các cơ sở sản xuất có thể pha trộn các thành phần phụ liệu khác
nhau để sản xuất ra các loại sản phẩm khác nhau: mì súp cua, mì gà, mì xào, mì chay, mì
chua cay, mì hải sản,… Định mức sử dụng nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất mì ăn liền
cho một tấn thành phẩm có thể tham khảo các số liệu sau:
9
Pha trộn
nguyên
liệu
Pha trộn
nguyên
liệu

khuôn

khuôn
Cám
thành
tấm
Cám
thành
tấm
Nhúng
nước
súp
Nhúng
nước
súp
Cán
tinh-
cán sợi
Cán
tinh-
cán sợi
Hấp
Hấp
Chiên
Chiên
Làm
nguội
Làm
nguội
Đóng
gói
Đóng
gói
Để gói
nêm
Để gói
nêm
Sản
phẩm
Sản
phẩm
Đóng
thùng
Đóng
thùng
Bảng 1.1: Định mức sử dụng nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất mì ăn liền
cho một tấn thành phẩm
Khoản mục Đơn vị Định mức
o Nguyên liệu chính
 Bột mì
o Nguyên Liệu Phụ
 Dầu
Shortening
 Bột Ngọt
 Hoạt Chất
Cmc
 Đường
 Muối
 Gói Nêm
 Gói Rau
 Vật Liệu Khác
o Bao Bì
 Thùng Carton
 Giấy gói mì
 Túi xốp
 Keo dán
o Nhiên liệu
 Dầu FO
 Dầu DO
 Điện
Kg
Kg
Kg
Kg
Kg
Kg
Gói
Gói
Đồng
Thùng
m
2
Kg
Lít
Kg
Kg
Đồng
850
180
14
1
4
30
17.780
17.780
220.000
395
630
2
1
280
20
50.000
Các xí nghiệp sản xuất mì ăn liền đều áp dụng quy trình công nghệ sản xuất
tương tự nhau, thành phần nguyên liệu, vật tư, nhiên liệu cũng như nhau. Do đó tính
chất ô nhiễm gần như nhau.
2.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NGÀNH SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN VIỆT
NAM
2.2.1 Môi trường không khí
Lượng ô nhiễm khí thải cho một tấn sản phẩm mì ăn liền dựa trên cơ sở sau số
liệu như sau:
Bảng 2.1: Hệ số ô nhiễm không khí cho một tấn sản phẩm mí ăn liền
(Kg/tấn sản phẩm)
Chất ô nhiễm Andehyde CO NO
2
SO
2
Bụi
Tải lượng 0,193 0,20 2,92 6,34 0,84
10
(Nguồn: Trung tâm công nghệ môi trường CEFINEA)
2.2.2 Môi trường nước
Lượng ô nhiễm nước thải co một tấn sản phẩm mì ăn liền trên cơ sở dựa vào số
liệu như sau:
Bảng 2.2: Hệ số ô nhiễm nước thải cho một tấn sản phẩm mí ăn liền
Chỉ tiêu ô
nhiễm
Lưu lượng
nước thải
(m
3
/tấn sp)
BOD
5
(kg
BOD/m
3
tấn sp)
COD (kg
COD/m
3
tấn sp)
Dầu mỡ
(kg /m
3
tấn
sp)
SS(kg /m
3
tấn sp)
Tải lượng 8 5,6025 8,0075 12,4625 2,94
(Nguồn: Trung tâm công nghệ môi trường CEFINEA)
2.2.3 Chất thải rắn
Rác thải của xí nghiệp sản xuất mì ăn liền chủ yếu là giấy, bao nilon, thùng
carton, xương cặn trong quá trình nấu súp và rác thải sinh hoạt.
Nhìn chung rác thải của các cơ sở sản xuất mì ăn liền ảnh hưởng không đáng kể
đến môi trường sinh thái khu vực xung quanh. Việc giải quyết không khó khăn và tốn
kém nhiều.
Đối với giấy vụn và bao nilion có thể đem bán định kỳ cho các đơn vị sản xuất
làm nguyên liệu cho quá trình tái chế.
Đối với các thành phần rác thải khác có thể thu gom và đổ bỏ theo hệ thống thu
gom rác thải địa phương.
2.3 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG DO NƯỚC THẢI SẢN XUẤT MÌ ĂN LIỀN VÀ
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XỬ LÝ
2.3.1 Ô nhiễm môi trường do nước thải sản xuất mì ăn liền
Qua các số liệu thu thập khảo sát cho thấy nước thải sản xuất của các Xí Nghiệp
mì ăn liền đều vượt tiêu chuẩn cho phép xả vào nguồn do các chất hữu cơ và dầu mỡ
hiện diện trong nước thải quá cao. Các chỉ tiêu cơ bản chỉ thị ô nhiễm hữu cơ là COD,
BOD, SS, N-NO
3
, N-NH
4
, N-org, P-PO
4
, dầu mỡ,…hàm lượng hữu cơ cao, vượt 12-24
lần tiêu chuẩn cho phép, dầu mỡ cao gấp 10-30 lần tiêu chuẩn cho phép.
Các chất hữu cơ này làm giảm, ức chế đến sự phát triển của các loài thuỷ sinh, sự
phát triển của cây trồng, vật nuôi. Hiện diện trong các nguồn nước, chúng bị phân hủy vi
sinh giải phóng ra các chất khí CO
2
, CH
4
, H
2
S gây mùi hôi thối trong môi trường.
Tình trạng ô nhiễm hữu cơ sẽ dẫn đến sự suy giảm độ hoà tan ôxy trong môi
trường nước do vi sinh sử dụng ôxy hoà tan để phân huỷ các chất hữu cơ có mặt trong
nước. Ôxy hòa tan giảm sẽ gây tác hại nghiêm trọng đến tài nguyên thuỷ sinh trong
nguồn nước. Theo tiêu chuẩn nuôi cá của FAO (Tổ chức Lương Thực Nông Thôn của
11
Liên Hiệp Quốc) thì nồng độ ôxy hòa tan (DO) trong nước phải cao hơn 50% nồng độ
bão hoà (tức là phải cao hơn 4mg/l ở nhiệt độ 25
O
C).
Chất rắn lơ lửng (SS) cũng là tác nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên
thuỷ sinh, đồng thời gây tác hại vể mặt cảm quan (tăng độ đục của nguồn nước) và gây
bồi lắng dòng chảy. Tiêu chuẩn của Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường: SS đối
với nước thải khi thải ra nguồn loại A là nhỏ hơn 50mg/l và nguồn loại B là nhỏ hơn
100mg/l.
Các chất dinh dưỡng (N,P) với nồng độ cao trong nước thải sản xuất mì ăn liền
sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng nguồn nước, rong tảo phát triển làm suy giảm chất
lượng nguồn nước.
2.3.2 Sự cần thiết xử lý nước thải sản xuất mì ăn liền
Bên cạnh quá trình phát triển nhanh chóng, ngành công nghiệp sản xuất mì ăn
liền phải đương đầu với vấn đề ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng hơn. Một số
nhà máy trực tiếp xả nước thải chưa xử lý ra hệ thống sông rạch làm cho tình trạng ô
nhiễm lan tràn với diện rộng không lường hết được, như trường hợp VIFON, SàiGòn-
WeVong. Các đơn vị này, qua nhiều đợt kiểm tra của các cơ quan chức năng TP, Quận.
Huyện không có đơn vị nào đạt tiêu cuẩn xả nước thải theo quy định.
Các phân tích trên đã cho thấy các Xí Nghiệp sản xuất mì ăn liền sử dụng các
quy trình cônng nghệ sản xuất tương tự nhau, thành phần và tính chất ô nhiễm nước thải
của các nhà máy cũng gần như nhau. Hay nói một cách khác là bản chất của sự ô nhiễm
là giống nhau. Do đó, nghiên cứu xử lý ô nhiễm về nước thải cho ngành công nghiệp
sản xuất mì ăn liền của Việt Nam có thể dựa vào sự nghiên cứu cụ thể tại một đơn vị mà
vận dụng chung cho toàn ngành.
Với mục tiêu và quan điểm phát triển công nghiệp trên địa bàn TP.HCM và phát
triển bền vững gắn liền với bảo vệ môi trường. Ngành sản xuất mì ăn liền không thể
nằm ngoài định hướng này, do đó việc nghiên cứu thực nghiệm và đề xuất công nghệ xử
lý nước thải hiện nay đang là vấn đề hết sức cần thiết.
2.4 TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO NGÀNH
SẢN XUẤT MÌ LIỀN
Các phương pháp xử lý nước thải mì ăn liền cũng tương tự như các phương pháp
xử lý nước thải các loại công nghiệp khác. Các biện pháp tổng quát có thể áp dụng được
trong công nghệ xử lý nước thải của ngành mì ăn liền
 Điều hoà về lưu lượng và nồng độ của nước thải.
 Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học
 Xử lý nước thải bằng phương pháp hoá học
 Xử lý nước thải bằng phương pháp hoá lý
 Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học
2.4.1 Điều hòa lưu lượng và nồng độ của nước thải
12
Tuỳ thuộc vào dây chuyền công nghệ sản xuất, nguyên liệu và sản phẩm, mà lưu
lượng và thành phần tính chất nước thải của từng xí nghiệp công nghiệp sẽ khác nhau,
nhình chung thường dao động không đều trong một ngày đêm. Sự dao động về lưu
lượng và nồng độ nước thải sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại về chế độ công tác của
mạng lưới và các công trình xử lý, đồng thời gây tốn kém nhiều về xây dựng và quản lý.
Vì khi lưu lượng dao động thì cần thiết phải xây dựng mạng lưới bên ngoài với tiết diện
và lưu lượng ống hoặc kênh lớn hơn vì phải ứng với lưu lượng giờ lớn nhất. Ngoài ra
điều kiện công tác về mặt thuỷ lực sẽ kém đi. Nếu lưu lượng chảy đến trạm bơm thay
đổi thì dung tích bể chứa, công suất máy bơm, tiế diện ống đẩy cũng phải lớn hơn.
Khi lưu lượng và nồng độ thay đổi thì kích thước các công trình (bể lắng, trung
hoà, các công trình xử lý sinh học…) cũng phải lớn hơn, chế độ làm việc của chúng mất
ổn định. Nếu nồng độ các chất bẩn chảy vào công trình xử lý sinh học đột ngột tăng lên
nhất là các chất độc hại đối với vi sinh vật thì có thể làm cho công trình hoàn toàn mất
tác dụng. Ngoài ra các công trình xử lý hoá học cũng sẽ làm việc kém đi khi lưu lượng
và nồng độ thay đổi, hoặc muốn làm việc tốt hơn thì thường xuyên phải thay đổi nồng
độ hoá chất cho vào. Điều này đặc biệt khó khăn trong việc tự động hoá quá trình hoạt
động của trạm xử lý
Việc điều hoà lưu lượng và nồng độ nước thải trong công nghiệp Mỹ phẩm còn
có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với các quá trình xử lý hoá lý và sinh học: việc làm
ổn định nồng độ nước thải sẽ giúp cho giảm nhẹ kích thước công trình xử lý, đơn giản
hoá công nghệ xử lý và tăng cao hệ quả xử lý.
2.4.2 Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học
Phương pháp cơ học thường được áp dụng ở giai đoạn đầu của quá trình xử lý
loại bỏ các tạp chất không tan ra khỏi nước để tránh việc gây tắc nghẽn trong đường
ống. Gồm các công trình như:
 Song chắn rắc: Được đặt trước các công trình làm sạch nước thải để giữ lại
các vật thô như: giấy, rác, vỏ hộp, mẫu đất đá… ở trước song chắn.
 Bể vớt dầu mỡ: Nhằm loại bỏ các tạp chất có khối lượng riêng nhỏ hơn
nước. Các chất này sẽ bịt kín lổ hổng giữa các hạt vật liệu lọc trong các bể
lọc sinh học… và chúng cũng phá hủy các cấu trúc bùn hoạt tính trong bể
Aeroten, gây khó khăn trong quá trình lên men cặn.
 Bể lắng: Dùng để lắng các hạt lơ lững, các hạt bùn (kể cả bùn hoạt tính)…
nhằm làm cho nước trong.
Nguyên lý làm việc của bể thường dựa trên cơ sở trọng lực. Dựa vào chức năng,
vị trí, bể lắng được chia thành: bể lắng đợt 1 trước công trình xử lý sinh học và bể lắng
đợt 2 sau công trình sinh học.
Dựa vào nguyên lý hoạt động, có các loại bể lắng như: bể lắng hoạt động gián
đoạn và bể lắng hoạt động liên tục.
13
Dựa vào cấu tạo: bể lắng đứng, bể lắng ngang, bể lắng ly tâm và một số bể lắng
khác.
2.4.3 Xử lý nước thải bằng phương pháp hóa lý
Khi trong nước thải có nhiều chất lơ lững, chất độc hại hay độ màu cao thì phải
ứng dụng quy trình hóa lý. Đặc biệt khi tỷ lệ COD/BOD > 2 và có nhiều chất hoạt tính
bề mặt thì không thể áp dụng ngay phương pháp xử lý hóa học mà phải dùng biện pháp
hóa lý trước. Cơ sở của phương pháp này là dựa vào các quá trình vật lý và các phản
ứng hóa học. Người ta cho vào nước các loại muối sắt, nhôm để thực hiện các phản ứng
keo tụ hay kết cặn. Lượng cặn tạo thành sẽ được tách ra trong bể lắng đợt 1. Những
phương pháp hóa lý thường áp dụng để xử lý nước thải thực phẩm là: keo tụ, tuyển nổi,

Quá trình keo tụ: là quá trình kết hợp các hạt lơ lững khi cho các chất cao phân tử
vào nước bằng cách tiếp xúc trực tiếp và do sự tương tác lẫn nhau giữa các phân tử chất
keo tụ bị hấp phụ trên các hạt lơ lững.
 Sự keo tụ được tiến hành nhằm thúc đẩy quá trình tạo bông Hydroxit nhôm
và sắt để tăng vận tốc lắng.
 Tuyển nổi là phương pháp áp dụng tương đối rộng rãi nhằm loại bỏ các chất
lơ lững mịn, dầu mỡ ra khỏi nước và cũng là phương pháp xử lý rất quan
trọng đối với nước thải mì ăn liền, đặc biệt là đối với nước thải ở các khâu
sản xuất bột nêm sa tế.
Bản chất của quá trình tuyển nổi ngược lại với quá trình lắng và được áp dụng
trong trường hợp quá trình lắng xảy ra rất chậm và rất khó thực hiện. Các chất lơ lững
và dầu mỡ sẽ được nổi lên trên bề mặt nước thải dưới tác dụng nâng của bọt khí (thường
là không khí) vào pha lỏng, các bọt khí đó đủ lớn sẽ kéo theo các hạt cùng nổi lên bề
mặt, sau đó chúng tập hợp với nhau thành lớp bọt chứa hàm lượng cao hơn trong chất
lỏng ban đầu.
Trong xử lý nước thải người ta phân biệt các phương pháp tuyển nổi như sau:
 Tuyển nổi phân tán không khí bằng thiết bị cơ học.
 Tuyển nổi phân tán không khí bằng máy bơm khí nén (qua các vòi phun, qua
các tấm xốp).
 Tuyển nổi với tách không khí từ nước (tuyeển nổi chân không, tuyển nổi
không áp, tuyển nổi có áp hoặc bơm hỗn hợp khí nước).
 Tuyển nổi điện, tuyển nổi sinh học và hóa học.
2.4.4 Xử lý nước thải bằng phương pháp hóa học
Phương pháp hóa học để khử các chất hòa tan và trong các hệ thống cấp nước
khép kín. Đôi khi phương pháp này được sử dụng để xử lý sơ bộ trước xử lý sinh học
hay sau công đoạn này là phương pháp xử lý nước thải lần cuối trước khi thải vào
nguồn tiếp nhận.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét