Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Xuất khẩu thanh long sang thị trường Hoa Kỳ, vì đang là một thách thức lớn cho người dân và doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng trên con đường hội nhập

LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
trong bối cảnh hội nhập. Vì vậy, việc đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu thanh long Bình
Thuận sang thị trường Hoa kỳ là một nhiệm vụ quan trọng.
Xuất phát từ những lý do trên em mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học
sinh viên là “ Thực trạng và một số giải pháp xuất khẩu thanh long Bình
Thuận sang thị trường Hoa Kỳ”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Khái quát hóa một số lý luận xuất khẩu thanh long Bình Thuận, nhầm thúc đẩy
xuất khẩu trong điều kiện hội nhập thương mại quốc tế.
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu thanh long vào thị trường
Hoa kỳ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động xuất khẩu thanh long của
Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các giải pháp trên tầm vĩ mô tác động tới
hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt nam sang thị trường Hoa kỳ.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích tổng hợp
5. Nội dung và kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài nghiên cứu
gồm ba phần:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MÔN HỌC
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THANH LONG VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC
Trang 5
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN MÔN HỌC
1. KHÁI QUÁT Về KINH TẾ VĨ MÔ
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Kinh tế học
Kinh tế học là môn học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài
nguyên khan hiếm để sản xuất ra những hàng hóa cần thiết và phân phối cho các
thành viên của xã hội. Kinh tế học nghiên cứu hoạt động của con người trong sản
xuất và tiêu thụ hàng hóa.
Kinh tế học được chia thành hai ngành lớn:
- Kinh tế học vĩ mô: Nghiên cứu hoạt động của toàn bộ tổng thể rộng lớn của nền
kinh tế như tăng trưởng kinh tế, sự biến động giá cả và việc làm của cả nước, cán
cân thanh toán và tỷ giá hối đoái
- Kinh tế vi mô: Nghiên cứu sự hoạt đông của các tế bào trong nên kinh tế là các
doanh nghiệp hoặc gia đình, nghiên cứu những yếu tố quyết định giá cả trong các
thị trường riêng lẻ
Tùy theo cách thức sử dụng, kinh tế học được chia thành hai dạng:
- Kinh tế học thực chứng: Mô tả và phân tích các sự kiện, những mối quan hệ trong
nền kinh tế. Trả lời câu hỏi: “là bao nhiêu?”, “là gì?”, “Như thế nào?”.
- Kinh tế học chuẩn tắc: Đề cập đến mặt đạo lý được giải quyết bằng sự lựa chọn.
Trả lời câu hỏi: “Nên làm cái gì?”
1.1.5 Định luật Okun
Ý tưởng cơ bản của Định luật Okun: Sản lượng thực tế càng thắp hơn sản lượng
tiềm năng thì thất nghiệp tăng thêm càng nhiều. Có cách ước lượng:
- P.A. Samuelson và W.D Nordhaus: Khi sản lượng thực tế thắp hơn sản lượng tiềm
năng 2% thì thất nghiệp sẽ tăng thêm 1%.
- R. Dornbursch và S. Fischer: Khi tốc độ tăng của sản lượng thực tế cao hơn tốc độ
tăng của sản lượng tiềm năng 2,5% thì thất nghiệp sẽ giảm bớt 1%.
Trang 6
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
1.1.6 Chu kỳ kinh doanh
Chu kỳ kinh doanh là hiện tượng sản lượng thực tế dao động lên xuống theo thời
gian xoay quanh sản lượng tiềm năng:
- Nếu sản xuất bị thu hẹp đến mức sản lượng thực tế nhỏ hơn sản lượng tiềm năng
thì nền kinh tế bị suy thóai nghiêm trọng có thể dẫn đến khủng hỏang.
- Nếu sản xuất mở rộng đến mức sản lượng thực tế lớn hơn sản lượng tiềm năng thì
thường xảy ra lạm phát cao.
1.1.7 Nền kinh tế hỗn hợp
Nền kinh tế hỗn hợp là một nền kinh tế trong đó cơ chế thị trường xác định giá cả
và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, còn Chính phủ thì điều tiết thị trường thông qua
các chương trình thuế, chi tiêu và ban hành các luật lệ. Mô hình “kinh tế hỗn hợp”
của từng nước có thể khác nhau tùy thuộc vào mức độ can thiệp của Chính phủ đối
với thị trường.
Nền kinh tế hỗn hợp có 4 nhóm tác nhân:
+ Người tiêu dùng:
+ Nhà doanh nghiệp:
+ Chính phủ:
+ Người nước ngoài
1.3 Mục tiêu và công cụ trong kinh tế
1.3.1 Các mục tiêu kinh tế vĩ mô:
Thành tựu kinh tế vĩ mô được đánh dấu theo 3 dấu hiệu chủ yếu:
- Sự ổn định kinh tế: kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề cấp bách như lạm
phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn.
- Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết những vấn đề dài hạn hơn như chính sách
tiết kiệm, chính sách đầu tư, chính sách công nghệ, chính sách đào tạo…
- Công bằng trong phân phối vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế.
1.3.2 Các chính sách kinh tế vĩ mô:
1.3.2.1 Chính sách tài khóa:
1.3.2.2 Chính sách tiền tệ:
1.3.2.3 Chính sách thu nhập:
Trang 7
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
1.3.2.4 Chính sách kinh tế đối ngoại
2. HOẠCH TOÁN THU NHẬP QUỐC DÂN
2.1 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
2.1.1 Khái niệm tổng sản phẩm quốc dân
Tổng sản phẩm quốc dân là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các
hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất trong một thời kỳ bằng các
yếu tố sản xuất của mình.
GNP danh nghĩa (GNPn), đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một
thời kỳ, theo giá cả hiện hành, tức là giá cả của cùng thời kỳ đó. Nó được dùng để
nghiên cứu mối quan hệ tài chính, ngân hàng.
GNP thực tế (GNPr), đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời
kỳ, theo giá cả cố định ở một thời kỳ được lấy làm gốc. Nó được dùng khi phân tích
tốc độ tăng trưởng kinh tế.
2.1.2 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Tổng sản phẩm quốc nội đo lường tổng giá trị của các hàng hóa dịch vụ cuối cùng
được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, trong một thời kỳ nhất định
(thường là 1 năm).
GDP = GNP – NIA
NIA: Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài là phần chênh lệch giữa thu nhập của
công dân nước ta ở nước ngoài và công dân nước ngoài ở nước ta.
Ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô.
- Là những thước đo tốt nhất về thành tựu của một đất nước.
- Các nhà kinh tế sử dụng GNP và GDP để so sánh quy mô sản xuất của các nước
khác nhau trên thế giới sau khi tính chuyển số liệu về đồng USD.
Trang 8
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
- Tính tốc độ tăng trưởng GDP hay GNP thực tế để phân tích những biến đổi và sản
lượng của một đất nước trong thời gian khác nhau.
- Phân tích sự thay đổi của mức sống dân cư thông qua chỉ tiêu GDP và GNP bình
quân đầu người
- GNP bình quân đầu người là một thước đo tốt hơn xét theo khía cạnh số lượng
hàng hóa và dịch vụ mà mỗi người dân một nước có thể mua được.
- GDP bình quân đầu người là thước đo tốt hơn về số lượng hàng hóa và dịch vụ
sản xuất ra tính bình quân cho một người dân
2.2. Phương pháp xác định GDP và GNP
Trước đây GDP được tính toán dựa trên cơ sở hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc
dân (MPS) do Liên xô (cũ) soạn thảo. Từ năm 1992 việc xác định GDP theo hệ
thống tài khoản quốc gia (SNA)
1. Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô (Phụ lục)
2. Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm.
3. Phương pháp xác định GDP theo luồng thu nhập hoặc chi phí:
4. Phương pháp xác định GDP theo giá trị gia tăng.
5. Phương pháp xác định GNP.
3. THẤT NGHIỆP VÀ LẠM PHÁT
3.1 Thất nghiệp
3.1.1 Tác hại của thất nghiệp
- Khi thất nghiệp ở mức cao, sản xuất sút kém, tài nguyên không được sử dụng
hết, thu nhập của dân cư giảm sút, kéo theo nạn lạm phát.
- Nhiều hiện tượng tiêu cực phát triển, sự gia tăng các tệ nạn xã hội làm xói mòn
nếp sống lành mạnh, có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, gây tổn thương về
mặt tâm lý và niềm tin của nhiều người.
Trang 9
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
3.1.2 Thế nào là thất nghiệp
3.1.2.1 Vài khái niệm
- Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và
quyền lợi lao động theo quy định đã ghi trong Hiến pháp.
- Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc hoặc chưa
có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm.
- Người có việc là những người đang làm cho các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã
hội…
- Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc nhưng mong muốn và đang
tìm kiếm việc làm.
3.1.2.1 Tỷ lệ thất nghiệp
- Tỷ lệ thất nghiệp là % số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực
lượng lao động.
- Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của
một quốc gia.
3.2 Lạm phát
3.2.1. Lạm phát là gì?
- Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian
- Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số chung của giá cả và loại chỉ số biểu hiện
lạm phát gọi là chỉ số lạm phát hay chỉ số giá cả chung của toàn bộ hàng hoá cấu
thành tổng sản phẩm quốc dân. Nó chính là GNP danh nghĩa/GNP thực tế.
- Trong thực tế thường được thay thế bằng một trong hai loại chỉ số giá thông
dụng khác: chỉ số giá tiêu dùng hoặc chỉ số giá bán buôn (còn gọi là chỉ số giá cả sản
xuất).
- Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh sự biến động giá cả của một giỏ hàng hoá và dịch
vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của xã hội.
- Chỉ số giá bán buôn (giá cả sản xuất) phản ánh sự biến động giá cả của đầu vào,
thực chất là biến động giá cả chi phí sản xuất.
- Hiện nay ở Việt Nam, chỉ số được dùng để biểu hiện lạm phát là chỉ số giá tiêu
dùng ( được tính hàng tháng, quý, năm).
- Tỷ lệ lạm phát là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô và
sự biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng lạm phát.
Trang 10
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
3.2.2. Quy mô lạm phát
- Lạm phát vừa phải, còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10%
một năm. Lạm phát ở mức độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền
kinh tế.
- Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con
số trong một năm. Loại lạm phát này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến
dạng kinh tế nghiêm trọng.
- Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm
phát phi mã.
Nhiều nhà kinh tế dựa vào 3 loại lạm phát trên kết hợp với độ dài thời gian lạm
phát để chia lạm phát thành ba loại:
- Lạm phát kinh niên thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến 50% một
năm.
- Lạm phát nghiêm trọng kéo dài trên 3 năm, với tỷ lệ lạm phát trên 50% một
năm.
- Siêu lạm phát kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm.
3.2.3. Tác hại của lạm phát
- Khi giá cả các loại hàng hoá tăng với tốc độ đều nhau thì loại lạm phát này
thường được gọi là lạm phát thuần tuý.
- Trong thực tế các cuộc lạm phát thông thường đều có hai đặc điểm đáng quan
tâm sau đây:
+ Tốc độ tăng giá cả thường không đồng đều giữa các loại hàng.
+ Tốc độ tăng giá và tăng lương cũng xảy ra không đồng thời.
Trang 11
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
3.3. Mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp
3.3.1. Đường Phillips ban đầu
- Dựa vào kết quả thực nghiệm trên cơ sở số liệu nhiều năm về tiền lương, giá cả,
thất nghiệp ở Anh đã ra đời đường Phillips ban đầu.
- Đường này cho thấy mối quan hệ nghịch giữa thất nghiệp và lạm phát. gợi ra
rằng có thể đánh đổi lạm phát để lấy thất nghiệp thấp.
Tỷ lệ thất nghiệp
- Đường Phillips đã gợi cho những người làm chính sách lựa chọn các chính sách
vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khoá và tiền tệ.
+ Giả sử nền kinh tế đang ở điểm B trên hình 6.7 (suy thoái thất nghiệp).
+ Chính phủ có thể mở rộng lượng cung tiền nhằm hạ lãi suất, thúc đẩy đầu tư,
mở rộng tổng cầu. nền kinh tế sẽ tăng công ăn việc làm, thất nghiệp giảm. điểm B sẽ
di chuyển theo đường Phillips lên phía trên.
3.3.2. Khắc phục lạm phát
Trong lịch sử của mình, các nước trên thế giới đều trải qua lạm phát với những
mức độ khác nhau.
- Đối với mọi cuộc siêu lạm phát và lạm phát khi mã, hầu như đều gắn chặt với
sự tăng trưởng nhanh chóng về tiền tệ, có mức độ thâm hụt cao ngày cáng lớn về ngân
sách và có tốc độ tăng lương danh nghĩa cao.
- Đối với lạm phát vừa phải, kiềm chế và đẩy từ từ xuống mức thấp hơn cũng đòi
hỏi áp dụng các chính sách nói trên.
Trang 12
PC
PC
gp
0
u
u*
Hình 6.6 : Mối quan hệ giữa tăng
lượng thất nghiệp và lạm phát
Hình 6.7 : Đường Phillips ban đầu
Lạm phát
Tiền lương
B
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
4. TỔNG CẦU VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
4.1 Tổng cầu và sản lượng cân bằng
Chúng ta sẽ nghiên cứu mặt cầu của nền kinh tế bằng cách giả thiết rằng giá cả
không đổi, không có lạm phát và mức tổng cung là đã cho. Từ giả thiết này chúng ta
sẽ nghiên cứu các mô hình tổng cầu từ giản đơn đến phức tạp và cách thức mà nó
xác định sản lượng cân bằng.
4.2 Tổng cầu trong mô hình kinh tế đơn giản.
Tổng cầu trong một nền kinh tế khép kín, chưa có Chính phủ là toàn bộ số lượng
hàng hóa và dịch vụ mà các hộ gia đình và doanh nghiệp dự kiến chi tiêu, tương
ứng với mức thu nhập của họ.
AD = C + I (3.1)
Ta sẽ xét tiếp hàm số tiêu dùng (C) và hàm đầu tư (I).
4.3 Tổng cầu trong nền kinh tế đóng có sự tham gia của Chính phủ.
Chính phủ có tác động lớn đến tổng cầu và sản lượng vì chi tiêu của Chính phủ
chiếm tỷ lệ lớn trong tổng cầu và thuế khóa ảnh hưởng đến các chi tiêu của Chính
phủ.
4. Chính sách tài khóa
Tóm lại, thuế và chi tiêu Chính phủ đang dần trở thành những công cụ điều tiết vĩ
mô quan trọng của Nhà nước.
5. TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.
5.1 Chức năng của tiền tệ
Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và trao đổi đã ra đời một loại hàng hóa đặc biệt
đóng vai trò vật ngang giá chung, đó là tiền tệ.
Ngày nay tiền được coi là thứ được xã hội chấp nhận dùng làm phương tiện thanh
toán và trao đổi. Bản thân chúng có thể có hoặc không có giá trị riêng.
Trang 13
LÊ MINH NHÂN GVHD: TS. NGUYỄN MINH TUẤN
5.2 Mức cung tiền và vai trò kiểm soát tiền tệ của ngân hàng trung ương
(NHTW)
5.2.1. Tiền cơ sở
- NHTW là cơ quan được quyền phát hành tiền, chủ yếu là tiền mặt, được gọi là tiền
cơ sở (hay cơ số tiền).
- Tiền cơ sở (H) = tiền mặt lưu hành (U) + tiền dự trữ trong các NHTM (R).
- Sự quay vòng bộ phận tiền cơ sở làm tăng tổng mức cung tiền

tiền cơ sở còn
gọi là tiền mạnh.
5.2.2. Hoạt động của ngân hàng thương mại
- Ngân hàng thương mại là DN kinh doanh tiền tệ, một tổ chức môi giới tài chính, tổ
chức tài chính trung gian.
- Sự “tạo ra tiền ngân hàng ” của tiền gửi là sự mở rộng nhiều lần số tiền gửi và
được thực hiện bởi hệ thống các ngân hàng thương mại
5.3 Mức cầu tiền tệ
5.3.1 Các loại tài sản tài chính:
- Tài sản giao dịch (thanh khoản): dùng để thanh toán khi mua hàng hoá và
dịch vụ. Không tạo ra thu nhập.
- Tài sản tạo ra thu nhập: tín phiếu, cổ phiếu, sổ tiết kiệm…(gọi chung là trái
phiếu), không thể dùng trực tiếp để mua hàng hoá dịch vụ.
5.3.2 Mức cầu về tiền: khối lượng tiền cần để chi tiêu thường xuyên, đều đặn cho
nhu cầu tiêu dùng cá nhân và kinh doanh sản xuất.
Mức cầu về tiền phụ thuộc vào 2 nhân tố:
- Thu nhập thực tế: thu nhập tăng → tiêu dùng tăng → cầu tiền tăng.
- Lãi suất: Lãi suất là chi phí cơ hội của việc gửi tiền. Lãi suất giảm → mức
cầu tiền tăng.
Hàm cầu về tiền:
LP = kY – hi , trong đó:
LP: mức cầu về tiền thực tế.
Y: thu nhập; i: lãi suất.
k,h: các hệ số phản ảnh độ nhạy cảm với mức cầu tiền đối với thu nhập và lãi s
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét