Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Khủng hoảng tài chính châu Á và những ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế thế giới nói chung và VN nói riêng

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
kinh tế OECD thì khủng hoảng tài chính ở châu á sẽ làm giảm 1% tốc độ tăng tr-
ởng chung của thế giới năm 1998 .Còn theo dự báo của cố vấn kinh tế của ngân
hàng thế giới WB thì mức tăng trởng toàn cầu sẽ giảm từ 2,1% đến 3% .Điều này
chứng tỏ ngay khi cuộc khủng hoảng mới bắt đầu các nhà kinh tế đã thấy đợc
những hậu quả nặng nề mà nó gây ra cho nền kinh tế thế giới .Đến đây em xin đ-
ợc tiếp tục đề cập đến những ảnh hởng sâu rộng của cuộc khủng hoảng tới nền
kinh tế thế giới trong phần tiếp theo của đề án .
1.2.Những ảnh hởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính châu á tới nền
kinh tế thế giới
Có thể nói rằng đã một thời gian dài thế giới không phải chứng kiến một cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ nặng nề đến vậy .Để thấy đợc những sự ảnh hởng
sâu rộng của cuộc khủng hoảng này em xin điểm qua sự ảnh hởng của nó đến
từng khu vực kinh tế trên thế giới .
1.2.1.Đối với các nớc châu á
Chúng ta đều biết rằng nơi khởi nguồn của cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ này là châu á ,vì vậy châu á cũng là nơi phải hứng chịu những hậu quả nặng nề
nhất .
Trớc hết ta phải kể đến Thái Lan ,một nền kinh tế từng có thời kì phát triển
nhanh nhất Châu á nay đã trở thành nạn nhân của cuộc khủng hoảng tài chính do
đồng tiền bị mất giá mạnh ,thị trờng chứng khoán giảm sút ,các vụ phá sản ngày
càng lan nhanh đặc biệt là phá sản của các ngân hàng .Hầu nh tất cả các ngân
hàng và công ty tài chính Thái Lan đều bị tổn thơng .Những khoản tiền cho vay
khó đòi lên đến 12,5% tổng số tiền cho vay năm ngoái và sẽ còn tiếp tục tăng lên
đến 25% ,những vụ phá sản kinh doanh bất động sản rồi sự sụt giảm trên thị tr-
ờng chứng khoán đã kéo 56 trên tổng số 58 ngân hàng và công ty tài chính phải
đóng cửa .Những ngân hàng sống sót thì phải đơng đầu với một tơng lai cực kỳ
không sáng sủa .
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tiếp theo ,ngay sau khi đồng Rupi phá giá ,phần lớn trong tổng số 239 ngân
hàng và công ty tài chính của Indonexia đứng trên bờ vực của sự phá sản .ở
Malaixia thủ tớng M.Mohamet cay đắng thú nhận rằng chỉ sau một đêm
,Malaixia đã mất trắng 150 tỷ USD .Tỷ lệ lạm phát của Indonexia đã lên đến hơn
10% ,giá cả tăng cao ,thất nghiệp xảy ra cha từng có ,đời sống nhân dân vô cùng
bấp bênh .
Sang đến khu vực khác của Châu á ta thấy đối với Trung Quốc mặc dù
không bị ảnh hởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng song có thể nó làm gián đoạn
các cuộc cải cách các ngân hàng Nhà nớc và các ngành công nghiệp .Dự đoán
mức tăng trởng của Trung Quốc sẽ là 8% thay vì 9% trong năm 97 .
Đối với Nhật Bản , một nớc láng giềng lân cận của Đông Nam á có quan hệ
gắn bó mật thiết với khu vực này từ rất sớm và đã trở thành bạn hàng lớn thứ hai
( sau Mỹ ) của Đông Nam á thì việc phải chịu ảnh hởng từ cuộc khủng hoảng này
là không thể tránh khỏi .ảnh hởng dễ nhận thấy nhất đó là Đông Nam á là một
trong những thị trờng xuất khẩu lớn nhất của Nhật nên việc các đồng tiền Đông
Nam á bị mất giá và sự sa sút kinh tế ở khu vực này đã hạn chế một cách đáng kể
lợng xuất khẩu của Nhật vào khu vực này .Các số liệu thống kê cho thấy lợng ô
tô Nhật bán ra thị trờng Đông Nam á quý I năm 98 chỉ bằng 1/4 cùng kỳ năm tr-
ớc . Mặt khác việc phá giá đồng nội tệ ở các nớc Đông Nam á lại phần nào tạo lợi
thế cho các nớc này trong việc xuất khẩu hàng hoá .Điều này đồng nghĩa với việc
các công ty xuất khẩu Nhật Bản sẽ vấp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng
thế giới và hậu quả tất yếu là lợi nhuận của những công ty này sẽ bị thu hẹp một
cách đáng kể .Hơn nữa , khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam á đã đẩy các
ngân hàng Nhật Bản vào tình cảnh khó khăn cha từng có .Gần 1/3 tổng số tiền
cho vay ra nớc ngoài của Nhật là vào khu vực Đông Nam á và Đông á . Do vậy
,các ngân hàng Nhật cũng đang rối tung lên vì các khoản nợ khó đòi đối với các
nớc châu á và có thể gây ra một cuộc khủng hoảng các ngân hàng .Rồi sau đó là
sự xuống giá của thị trờng chứng khoán Tôkyô,sự phá sản của các ngân hàng và
các doanh nghiệp có tên tuổi đã kéo theo hàng loạt những hậu quả to lớn : giá cả
( nhất là của các tài sản có về tài chính )giảm sút ,các tác nhân mất sức chi trả
,các ngân hàng đình chỉ cho vay , nợ nần trở thành nguy kịch .Nhân dân đua nhau
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
bán tống bán tháo các các tài sản có làm cho thị trờng chứng khoán đã tồi tệ lại
càng trợt dốc trong vòng xoáy .Ngân hàng thế giới ( WB ) đã thông báo dự đoán
về mức tăng trởng của Nhật Bản sẽ giảm từ 3% xuống còn 1% và năm 1998 sẽ
không tốt lành đối với nền kinh tế Nhật Bản.
1.2.2.Đối với các nớc châu Mỹ
Đối với khu vực này có lẽ đầu tiên ta phải xét đến nớc Mỹ , một cờng quốc kinh
tế hàng đầu thế giới và có những lợi ích chiến lợc gắn bó chặt chẽ với khu vực
Đông Nam á và Đông á . Trong hơn hai thập kỷ qua ,các nớc ở Đông Nam á và
Đông á đã đạt đợc mức tăng trởng kinh tế cao ,trở thành một khu vực phát triển
năng động nhất thế giới ,hấp dẫn giới đầu t nớc ngoài trong đó Mỹ luôn ở vị trí
hàng đầu .Do vậy cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ trầm trọng diễn ra ở Đông
Nam á đã có những ảnh hởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Mỹ .Tác động đầu
tiên đối với nớc Mỹ chính là sự sụt giảm nặng nề đến thị trờng chứng khoán New
York đã trình bày ở phần trên .Mặt khác , việc mất giá tiền tệ ở Châu á so với đô
la Mỹ có nghĩa là xuất khẩu của Mỹ giảm và lợi nhuận của công ty Mỹ thêm sức
ép . Đồng USD lên giá làm cho hàng hoá của Mỹ ở nớc ngoài trở nên đắt đỏ
hơn .Nhập khẩu từ châu á vào Mỹ sẽ tăng mạnh .Các công ty Mỹ phải cạnh tranh
khốc liệt hơn với nớc ngoài ,nhập siêu của Mỹ tăng ,năm 1998 cao hơn năm 1997
tới 50% ,có thể lên tới 300 tỷ USD .Theo đánh giá của Viện kinh tế thế giới ( ở
Washington ) ớc tính Mỹ sẽ mất từ
75 - 100 tỷ USD trong năm 1998 vì sụt giảm đáng kể kim ngạch xuất khẩu
của Mỹ sang Châu á .Các nhà máy của Mỹ nhiều khi không bán đợc hoặc phải
giảm giá một số mặt hàng .Do vậy khó mà tiếp tục đầu t để nâng cao sản lợng
thêm nữa .Và nếu cả đầu t ( chiếm 10% GDP ) lẫn xuất khẩu đều giảm ,Mỹ sẽ
phải chịu một ảnh hởng kép về suy giảm .Ngay từ giữa tháng 6 / 1998 ,cổ phiếu
bán ra đã giảm hơn 100 điểm theo chỉ số DowJones Industrial .Và khi giảm 2
%thì dự tính đã có 60 triệu cổ đông ở Mỹ bị thiệt hại . Cũng vào thời điểm này
các ngành xuất khẩu tạo việc làm cho 11 triệu ngời Mỹ và các công ty Mỹ cũng
đã bắt đầu thấy có ít lợi nhuận hơn .Sự chậm trễ các đơn đặt hàng từ châu á đã
góp phần làm giãn thợ ồ ạt và tăng nhanh khoảng cách thơng mại .Thâm hụt th-
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ơng mại của Mỹ tăng lên đạt mức tồi tệ nhất kể từ năm 1992 .Thâm hụt tài khoản
vãng lai cũng ở mức kỷ lục 47,2 tỷ USD trong quý I năm 1998 ,tăng 4,8% so với
quý trớc .Chỉ tính tháng 4 /1998 thâm hụt thơng mại với các nớc bên bờ Thái
Bình Dơng ,kể cả Trung Quốc ,Nhật Bản ,Hàn Quốc ,Indonexia đã lên đến 46,7
tỷ USD ,cao hơn cùng kỳ năm 1997 .Ngày càng nhiều khu vực kinh tế và địa lý
của Mỹ chịu ảnh hởng của cuộc khủng hoảng Châu á .Riêng trong năm 1997 ,Mỹ
đã phải rút khoảng 3 tỷ USD khỏi các quỹ tơng hỗ của Châu á và các hợp đồng
mới về đầu t nớc ngoài vào Trung Quốc đã giảm 39% .Mỹ đang giảm đợc sức ép
lạm phát ,duy trì đợc đồng USD mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác .Tuy
nhiên , nhịp độ phát triển kinh tế Mỹ sẽ không mấy sáng sủa một khi đồng USD
yếu đi nếu các nớc châu á tăng cờng nhập khẩu trong thời gian tới .Lúc này ,
hàng hoá của Mỹ bán sang cá nớc châu á trở nên đắt đỏ hơn do đồng USD tăng
giá cao so với các đồng tiền các nớc châu á ,làm cho hàng hoá Mỹ giảm sức cạnh
tranh dẫn đến xuất khẩu của Mỹ giảm đi .Nhìn chung ,triển vọng kinh tế Mỹ sẽ
đạt tốc độ tăng trởng 2,4% năm 1998 và 1,9% vào năm 1999 so với 3,8% của
năm 1997 .Tỷ lệ thất nghiệp chỉ là 4,7% ,giảm 0,3% so với năm 1997 .Theo báo
cáo của chính phủ Mỹ ,quý I _1998 ,sản lợng của Mỹ tăng 6% so với 4,.9% quý
IV năm 1997 ,số giờ lao động tăng 4,8 % so với 3,5% ,giá lao động tăng 3,1%
,năng suất lao động tăng ,1,1% .Trong tháng 4/ 1998 ,tỷ lệ lạm phát của Mỹ là
4,3% ,thấp nhất trong vòng 28 năm qua . Tuy nhiên các ngân hàng của Mỹ
không bị ảnh hởng lắm do cuộc khủng hoảng nhờ có một hệ thống ngăn ngừa
hoàn hảo và nhờ vào việc Mỹ không cho vay các thị trờng non trẻ của châu á
những số tiền lớn .
Các nớc Mỹ La tinh ,trớc đó nhiều năm đã từng gánh chịu một cuộc khủng
hoảng tơng tự ,cũng bị ảnh hởng khá lớn .Cuối năm 1997 quĩ tiền tệ quốc tế IMF
ớc tính cuộc khủng hoảng ở châu á sẽ làm cho tốc độ tăng trởng kinh tế của toàn
bộ khu vực này giảm khoảng 1% năm nay và năm 98 là 3,5% .Tại Brazil ,AFP dự
đoán rằng năm 98 sẽ là năm khô hạn đối với Brazil với việc GDP sẽ giảm 3-4%
thay vì 2% nh dự đoán trớc đây ,lãi suất cao cũng ảnh hởng nhiều đến các hoạt
động kinh tế .Trong khi đó tại URugoay so phụ thuộc vào nền kinh tế Brazil nên
thành công hay thất bại của khu vực công nghiệp nớc này trong năm 98 sẽ phụ
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thuộc vào chơng trình cải cách về cơ cấu của Brazil .Tại Achentina ,cuộc khủng
hoảng ĐNA đang gây ra những mối lo ngại rằng xuất khẩu nớc này sẽ mất khả
năng cạnh tranh trong khu vực và đặc biệt là Brazil sẽ giảm bớt việc mua bán các
sản phẩm của Achentina .Tại Mêhi co ,thống đốc ngân hàng trung ơng Guillermo
ortiz cho biết ,tốc độ tăng trởng kinh tế dự tính sẽ giảm xuống trong năm do
những sức ép giảm phát và lãi suất tăng . Tại Peru ,nhìn chung các quan chức ở
đây không lo ngại lắm về cuộc khủng hoảng do sức mạnh của nền kinh tế Pêru
,tuy nhiên ảnh hởng cũng sẽ có ở một số ngành công nghiệp đặc biệt là dệt vì các
mặt hàng dệt xuất khẩu của châu á đang làm cho các mặt hàng dệt trong nớc mất
giá .Tại Vênêzuela,các chính sách của chính phủ gần đây đã bị ảnh hởng trực tiếp
của cuộc khủng hoảng .Các nhà phân tích cho biết ,cuộc khủng hoảng đã làm cho
nhu cầu của châu á về dầu lửa của Vênêzuela giảm khoảng 500 triệu thùng mỗi
ngày ,khiến cho giá dầu nớc này giảm .
1.2.3.Đối với các nớc châu Âu
Châu Âu cũng chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á
song mức độ có thể nhẹ hơn so với Nhật và Mỹ .Hoạt động xuất khẩu và hoạt
động của các ngân hàng khu vực bị ảnh hởng lớn ,tình trạng thất nghiệp cũng gia
tăng .CHLB Đức là nớc phải chịu tác động mạnh nhất vì nớc này thờng xuất
khẩu nhiều máy móc thiết bị có hàm lợng vốn cao ,đặc biệt là những hàng hoá đ-
ợc sử dụng trong những dự án phát triển lớn của chính phủ .Những dự án lớn này
đang bị trì hoãn hoặc loại bỏ do hầu hết các nớc Châu á phải tập trung vốn đối
phó với khủng hoảng .Các hợp đồng mua bán từ châu á giảm liên tục từ 2-3%
trong những tháng diễn ra khủng hoảng .Hãng chế tạo máy bay khổng lồ thì còn
vấp phải các khó khăn trong việc thu hồi tiền bán máy bay qua Đông á .Các hãng
ở châu Âu phải liên tục điều chỉnh kế hoạch đầu t do sự sút giảm trong doanh thu
và điều này có quan hệ mật thiết với vấn đề việc làm ở đây .Pháp và Đức là hai n-
ớc có tỷ lệ thất nghiệp tăng cao ( tính đến cuối tháng 2 năm 1998 đã gấp đôi tỷ lệ
ở Mỹ ) .Tại Anh ,một thị trờng đầu t đầu t đợc a chuộng nhất ở châu Âu của các
công ty Châu á -các khoản đầu t vào nớc này đã từng là một nguồn thúc đẩy tăng
trởng và tạo việc làm cho quan trọng cho khu vực này- nay giảm sút một cách
đáng lo ngại ,một số dự án đầu t phải đình hoãn .Thêm vào đó ,các công ty con
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trực thuộc các các tập đoàn lớn của châu á đang làm ăn và sử dụng nhân công ở
các nớc EU cũng buộc phải thu hẹp quy mô hoạt động ,cắt giảm việc làm và đẩy
công nhân nớc sở tại lâm vào tình trạng thất nghiệp .Các ngân hàng châu Âu
cũng bị suy yếu lây .Ngời ta đang phân tích xem liệu các ngân hàng có phải lập
ra những khoản dự trữ mới hay không để đơng đầu với những khoản vay không
trả đợc của khách hàng .Tính đến thời điểm nổ ra khủng hoảng ,các nớc Châu á
nợ các ngân hàng quốc tế 389 tỷ USD ,trong đó 44% là nợ các ngân hàng châu
Âu .Đầu t nhiều nhất vào "những con rồng Châu á " là các ngân hàng Đức ( gần
43 tỷ USD ) ,Anh ( 32 tỷ USD ) ,Hà Lan ( 17 tỷ USD ) và các ngân hàng Pháp
.Đa số các khoản vay mới dành cho Thái Lan và Hàn Quốc đều là các khoản vay
ngắn hạn ,phải thanh toán tối đa trong vòng một năm .Ngày nay ,cũng giống nh
đối với các ngân hàng Nhật Bản hay Mỹ thì chúng cũng trở thành " nợ khó đòi"
khiến các ngân hang châu Âu mất đi một khoản tiền lớn .Công ty Standard and
Poor ( S & P ) đánh giá ,các ngân hàng châu Âu nói trên có thể chịu một khoản
thua lỗ lên tới 20 tỷ USD từ các khoản cho vay sang Châu á. Tổng số vốn các
ngân hàng cho vay sang các nớc Indonexia ,Malaixia ,Hàn Quốc ,Thái Lan là từ
110 tỷ USD tới 130 tỷ USD ,nhiều khoản cho vay này sẽ trở thành khó đòi .Trong
đó khoảng 30% vốn cho Thái Lan ,50% số vốn Indonexia vay bị liệt vào loại khó
đòi trong năm 1998 .Xét trên tổng thể ,tuy thơng mại và khu vực tài chính ngân
hàng có bị ảnh hởng bởi hậu quả từ châu á thì 15 nớc thành viên EU vẫn đạt mức
tăng trởng GDP bình quân trong 6 tháng đầu năm 1998 là 2,7% . Cao nhất là
CHLB Đức với mức 3,0% so với 2,4% năm 97 ,của Pháp là 3% so với 2,3% năm
1997 ,Anh có tỷ lệ tăng trởng 2,2% so với 3,45% trong năm 97 .Tỷ lệ thất nghiệp
nh trên đã đề cập là có gia tăng ở một số ngành song xét một cách toàn diện thì
có giảm đôi chút ,10,5% năm 1998 so với mức 11,3% trong năm 1997 .Tuy ảnh
hởng tiêu cực lan truyền ở nhiều khu vực ,nhng tốc độ tăng trởng kinh tế của toàn
châu lục này sẽ đạt 3% trong năm 1998 ,cao hơn 0,5% so với năm 1997 và cũng
là mức tăng cao nhất từ năm 1990 đến nay .
1.2.4.Đối với các nớc Châu úc
Australia cũng phải chịu ảnh hởng không nhỏ bởi có mối quan hệ chặt chẽ về
kinh tế với các nớc trong khu vực .Đồng đôla nớc này đã tụt giá xuống mức thấp
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhất trong 12 năm qua do cuộc khủng hoảng tiền tệ từ châu á lan sang .Cuối
tháng 6 /1997 ,tỷ giá 1AU$ / 0,73USD thì ngày 10/6/1998 chỉ còn 1 AU$ /
0,59USD .Điều này có nghĩa chỉ trong vòng 8 ngày đầu tháng 6 ,thị trờng chứng
khoán Australia đã mất khoảng 25,5 tỷ USD hoặc tính từ giữa tháng 4/1998 đến
nay thì giá trị chứng khoán tại Australia đã bị thiệt hại 52,5 tỷ USD .Dầu mỏ, kim
loại , vàng ,kẽm ,nhôm xuất khẩu bị giảm giá và lợng mà các hãng nhập khẩu lại
tăng ,buôn bán mậu dịch với các nớc châu á của Australia ngày càng trầm
trọng .Chính phủ phải hạ tỷ lệ tăng trởng kinh tế đến 0,75% so với mức dự tính tr-
ớc đây ,nạn lạm phát và thất nghiệp sẽ gia tăng ,đồng AU$ sẽ trở nên kém hấp
dẫn hơn đối với các nhà chuyên đầu t vào thị trờng tài chính quốc tế .Một loạt các
ngân hàng Australia đã phải tăng lãi suất đối với các khoản tiền vay mua nhà theo
lãi suất cố định ,tất nhiên sẽ kéo theo sự gia tăng lãi suất các khoản vay khác
.Cho đến cuối tháng 6 / 1998 ,khối lợng hàng hoá xuất khẩu của nớc này vẫn
đang có chiều hớng đi xuống trong khi ngành chế biến cũng đang trong tình
trạng suy giảm .Có thể trong 2 năm tới đây nền kinh tế nớc này còn đứng trớc
nguy cơ suy thoái .
Newzealand cũng đang lâm vào khủng hoảng kinh tế đầu tiên kể từ năm 1992
do tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á ,lãi suất tăng đã làm giảm
sút chi tiêu tiêu dùng và nhu cầu xuất khẩu .Nền kinh tế đã bị chững lại trong quý
1 và tiếp tục trì trệ trong quý 2 năm 1998 .Hiện nay lãi suất ở Newzealand vào
hàng cao nhất thế giới ,làm khó khăn cho các doanh nghiệp vay vốn sản xuất
cũng nh hạn chế mức tiêu dùng xã hội .Tỷ giá đồng tiền nớc này đang ở mức
thấp nhất trong vòng 12 năm qua .Tính đến hết năm tài chính ,tức ngày 31/3/1999
,nhịp độ phát triển kinh tế có lẽ cũng chỉ tăng 2,5%.
1.2.5.Đối với các nớc châu Phi
Nền kinh tế châu Phi cũng bị ảnh hởng bởi khủng hoảng lan truyền từ châu á
.Điều này thể hiện ở giá nguyên liệu xuất khẩu giảm mạnh song tốc độ tăng trởng
GDP năm 1998 vẫn có thể đạt 4,5% so với 3,7% của năm 1997 ,bất chấp khủng
hoảng ở châu á .Tuy vậy tích luỹ kém và nợ nớc ngoài cao vẫn là căn bệnh của
khu vực này .
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Qua phần trên có thể thấy kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm 1998 khá ảm
đạm .Ai lạc quan nhất cũng chỉ dám đánh giá sự phục hồi và tăng trởng kinh tế
thế giới sẽ chỉ diễn ra vào cuối năm 1999 .Hiện giờ ngời ta phải hết sức thận
trọng với vấn đề cơ cấu kinh tế .Thế giới đã thành công bớc đầu trong việc tránh
đổ vỡ hàng loạt và hạn chế phần nào sự lây lan rộng ra của khủng hoảng ,nhng cú
sốc châu á lại thổi bùng lên những mâu thuẫn về thơng mại .Những rối loạn về tài
chính tiền tệ ,nhất là tỷ giá hối đoái sẽ làm suy yếu quá trình toàn cầu hoá về tài
chính ,buộc ngời ta tìm ra những biện pháp hữu ích hơn để can thiệp vào thị trờng
chứng khoán toàn cầu
Nói tóm lại ,cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á với những hậu quả
ảnh hởng lan toả ra toàn cầu càng chứng tỏ nhận định tiên đoán đúng đắn của
C.Mac và F. Angghen ,lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới ghi trong " tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản " cách đây hơn 150 năm rằng t bản với đầy khuyết tật của nó
theo chu kỳ sẽ tàn phá nền kinh tế thế giới ,mỗi cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ lần sau sẽ lại nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng lần trớc .Chính các lực lợng
thị trờng đợc hệ thống thị trờng tự do khuyến khích là nguồn gốc chủ yếu của
cuộc khủng hoảng đã diễn ra ở châu á ( thu hút t bản quá mức ,tăng trởng theo
định hớng xuất khẩu quá mức và tự do hoá tài chính cũng quá mức ) ,nó bắt Ph-
ơng Đông lệ thuộc vào phơng Tây .Và rút cuộc ,theo đúng chu kỳ phát triển t bản
thì cuộc khủng hoảng này - dù đang làm gia tăng lạm phát ở các nớc khu vực bị
lâm vào khủng hoảng - đang báo hiệu một áp lực về hiện tợng thiểu phát trên
toàn cầu .
Ch ơng 2 Những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng
tài chính tiền tệ châu á năm1997
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng thì có nhiều . Song ở đây chúng ta
hãy xem xét đến các nguyên nhân thuộc về một nền kinh tế "hớng ngoại " yếu
kém của các nớc Đông Nam á .Từ đó rút ra những bài học về một nền kinh tế
vững vàng trong xu hớng toàn cầu hoá cao độ nh hiện nay ,có thể hội nhập tốt
đẹp với thế giới .Vậy ta cùng tìm hiểu một số nguyên nhân sau :
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.1.Đó là sự đánh giá quá cao đồng USD
Nguyên nhân đầu tiên đợc các nhà kinh tế nhất trí , đó là việc các nớc Đông
Nam á đã neo tỷ giá của mình quá chặt vào đồng USD.Các nhà hoạch định chính
sách của các nớc này đã quá tin tởng vào sự ổn định của đồng USD mà quên đi
một quy luật tỷ giá quan trọng ,đó là quy luật tỷ giá thực .Tất cả các đồng tiền
đều có tỷ giá riêng của mình do chính những điều kiện của đất nớc đó quy
định .Thế nhng việc neo chặt tỷ giá của mình vào đồng USD đã làm cho tỷ giá
thực tế bị kéo rất xa so với tỷ giá thực .Điều này đợc thấy rõ ở Thái Lan ,khi cha
xảy ra khủng hoảng ,tỷ giá thực của đồng Bath là 30,27Bath/ USD ,thế nhng
chính phủ Thái Lan đã không lắng nghe ý kiến của các chuyên gia phát ra rằng
đồng Bath bị đánh giá quá cao so với tỷ giá danh nghĩa .Do đó đã kéo đồng Bath
lên giá 27,16 Bath / USD rồi tiếp tục lên 25,29 Bath / USD và cuối cùng giữ ổn
định ở mức hơn 25,5Bath/USD trong suốt 13 năm mặc cho tỷ giá thực lên đến
30,27 Bath/ USD.
Có thể nói việc chính phủ duy trì một quan hệ tỷ giá cứng nhắc trong một thời
gian dài và gắn chặt với đồng đôla Mỹ mà không tính đến những thay đổi của
mối quan hệ giá trị thực tế của đồng tiền nội địa là một trong những nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng .Thật vậy ,sự can thiệp của nhà nớc để duy trì
tỷ giá hối đoái ổn định trớc áp lực tăng giá USD của thị trờng đã tạo môi trờng
đầu t ổn định giả tạo thu hút đầu t nớc ngoài .Chính sách này ban đầu phát huy đ-
ợc hiệu quả khi nó tạo lòng tin cho các nhà đầu t vào sự ổn định tiền tệ ,do đó
,nguồn vốn nớc ngoài tiếp tục gia tăng khiến cho những tổn thất của việc nâng
giá đồng bản tệ bị che lấp và làm cho tốc độ tăng trởng kinh tế vẫn cao theo sự
gia tăng của luồng vốn này ,Nhng về lâu dài ,chính sách này sẽ khoét sâu lỗ
thủng thâm hụt tài khoản vãng lai vì nhập khẩu sẽ tăng nhanh hơn xuất khẩu do
xuất khẩu mất dần tính cạnh tranh và đồng thời lại khuyến khích nhập khẩu
những hàng hoá đắt tiền nh ô tô ,hàng điện tử .Nh vậy lãi của các dự án đầu t
trong nớc chảy ra ngày càng nhiều và nó gây ra những vết nứt ngầm trong nền
kinh tế .Thêm vào đó nhờ sự ổn định này mà các nớc Đông Nam á đã đạt đợc tốc
độ tăng trởng kinh tế hàng cao nhất thế giới ,và chính tốc độ tăng trởng kinh tế
cao đã che mờ những nguy cơ tiềm ẩn của cuộc khủng hoảng này .
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.2. Đó là do việc tự do hoá thị trờng tài chính một cách quá mức
Vào những năm 90 ,các nớc Đông Nam á đã có những những nỗ lực lớn nhằm
mở cửa thị trờng tài chính đối với vốn nớc ngoài .Các thị trờng tài chính trong n-
ớc đợc hình thành và thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn từ bên ngoài ,đợc
khuyến khích thông qua tỷ lệ lãi suất cao ở thị trờng trong nớc .Đồng thời với
những nỗ lực này là quá trình tự do hoá thị trờng tài chính ,bao gồm cả tự do hoá
tỷ lệ lãi suất ,nới lỏng các quy định về số lợng các giao dịch tài chính ,tự do hoá
các hạng mục kinh doanh tài chính .Cả hai quá trình này đều khuyến khích
nguồn vốn nớc ngoài ,tạo khả năng duy trì tỷ lệ tăng trởng kinh tế ở mức cao
.Tuy nhiên ở một khía cạnh khác ,hệ thống quản lý các tổ chức tài chính cha phát
triển đủ mạnh và việc cung cấp các thông tin cũng cha đáp ứng phù hợp với các
quá trình này .Thật vậy ,việc này cộng với việc đánh giá quá cao đồng USD đã
tạo điều kiện cho giới đầu t vay đồng USD với lãi suất thấp ,cho vay lại bằng
đồng nội tệ cao ăn chênh lệch mà không lo sợ rủi ro bị phá giá đồng nội tệ .Tuy
nhiên ,cho đến năm 1995 ,đồng USD đã tăng giá khoảng 20% so với đồng DM và
đồng Yen ,điều đó dẫn đến xuất khẩu của các nớc Đông Nam á bị chậm lại ,hệ
thống tài chính ngân hàng bắt đầu bộc lộ yếu kém ,tăng trởng chung có dấu hiệu
giảm sút .Đây thực sự là một điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu cơ bắt đầu hoạt
động .Nạn đầu cơ có thể nói là một cú đẩy khủng khiếp vào một nền kinh tế vốn
đã cực kỳ chông chênh và nó thực sự lật nhào tất cả .
Xung quanh việc đầu cơ tiền tệ ,có rất nhiều ý kiến trái ngợc nhau về việc
nó có phải là nguyên nhân trực tiếp làm cho các đồng tiền Đông Nam á bị giảm
giá hay không .Vậy trớc hết chúng ta hãy xem xét cơ chế của hành động đầu cơ
tiền tệ .Đó thực chất là việc kiếm lời phi rủi ro bằng phơng pháp bán khống tiền
tệ .Nguyên tắc bán khống khá đơn giản ,khi ta dự đoán một đồng tiền nào đó sắp
sửa bị hạ giá ,ta đầu cơ bằng cách mua bằng nội tệ các hợp đồng tỷ giá tơng lai
(FRA), rồi sau đó ,với các hợp đồng này ,ta có thể bán ra một khối lợng nội tệ
gấp 100 lần giá trị của hợp đồng .Điều này ngay lập tức sẽ làm cho giá trị bản tệ
sụt xuống ,USD tăng lên do cầu về USD đã bị kích lên giả tạo đến 100 lần .Nh
vậy chỉ với một số lợng nội tệban đầu để mua FRA ,ta đã có lãi gấp nhiều lần do
giá USD tăng lên một cách giả tạo .Đây quả là một mức siêu lợi nhuận cực kỳ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét