Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Trăm năm cô đơn – tiểu thuyết đỉnh cao của Márquez

1. Trăm năm cô đơn – tiểu thuyết đỉnh cao của Márquez
Có ý kiến cho rằng muốn biết một nhà văn có vị trí như thế nào trong bản lược
đồ văn học, hãy nghĩ đến cây sồi trong rừng, vắng cây sồi rừng trống vắng bao
nhiêu thì tầm vóc của nhà văn cũng lớn bấy nhiêu. Và tôi liên tưởng đến Márquez.
Bóng trưởng lão Márquez đổ xuống một khoảng rộng, làm mái che cho biết bao thế
hệ sau. Đó vừa là một sự dẫn đường quí giá vừa là một thử thách lớn lao. Bởi nếu
không muốn bị cớm nắng, các cây non phải vươn cao hơn cây sồi cổ thụ.
Márquez được biết đến như một nhà văn bậc thầy về tiểu thuyết và truyện
ngắn, trong đó đỉnh cao là Trăm năm cô đơn. Tác phẩm được nhà xuất bản
Sudamerica xuất bản lần đầu bằng tiếng Tây Ban Nha vào năm 1967 tại Buenos
Aires (Argentina). Cho đến nay, tác phẩm đã chuyển dịch qua hơn 30 ngôn ngữ
trên thế giới được tặng giải Chianchiano của Ý, được Pháp công nhận là cuốn sách
hay nhất trong năm và được giới phê bình văn học Mỹ đánh giá là một trong 12
cuốn sách hay nhất trong thập niên 1960. Cùng với những tác phẩm Ngài đại tá chờ
thư (El coronel no tiene quien le escriba, 1959), Mùa thu của ngài trưởng lão (El
otoño del patriarca, 1975), Trăm năm cô đơn đã mang đến cho tác giả giải Nobel
Văn học danh giá năm 1982.
18 tháng làm việc cật lực trong căn phòng đầy khói thuốc, căn phòng mafia,
với sự ra đi của vô số đồ đạc trong nhà, với món nợ lên tới 10 ngàn đô, Márquez đã
tạo nên một kiệt tác văn chương nhân loại. Nó đã vượt lên trên tất cả giới hạn về
không gian, thời gian, về cả định kiến xã hội để trở thành huyền thoại. Bởi hơn tất
cả, Trăm năm cô đơn đã chạm đến những cội rễ sâu xa trong mỗi con người, phản
ánh những xáo trộn trong cuộc sống và cảnh tỉnh con người về một bức tranh tận
thế có thật, tức là nó thâu tóm cả quá khứ, hiện tại và tương lai, nó tái hiện sâu sắc
bản thể và tâm thể con người. Đây là một tiểu thuyết huyền thoại đã đi vào huyền
thoại.
2. Tổng thuật các công trình nghiên cứu Trăm năm cô đơn
Trăm năm cô đơn là một trong những tuyệt tác của văn học Châu Mỹ La tinh
nói riêng và văn học thế giới nói chung. Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi có một
lượng lớn các công trình với qui mô khác nhau bàn về tác phẩm này. Do giới hạn
1
ngôn ngữ nên chúng tôi không thống kê được đầy đủ tất cả các công trình mà chỉ
khảo những trang viêt tiêu biểu viết bằng tiếng Anh và tiếng Việt.
Về những bài nghiên cứu viết bằng tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy có một số
những điểm sáng nổi bật sau.
Gabriel García Márquez do Harold Bloom (Giáo sư khoa Nhân học trường Đại
học Yale) hiệu đính và giới thiệu, nhà xuất bản Chealsea. Đây là một cuốn sách tập
hợp nhiều bày nghiên cứu công phu về Márquez. Trong đó có một số bài viết về tác
phẩm nổi danh Trăm năm cô đơn: Gabriel García Márquez từ Aracata đến
Macondo, Những sản phẩm khoa học của José Acardio Buendía- con người đi tìm
bản thể của Floyd Merrell, Trăm năm cô đơn - huyền thoại và lịch sử của Roberto
González Echevarría …
Một cuốn sách khác khảo sát trên diện rộng về tác phẩm này là Trăm năm cô
đơn: những phương thức thâm nhập của Regina Janes, nhà xuất bản Twayne, 1991.
Regina Janes cung cấp một phân tích toàn diện, hấp dẫn về Trăm năm cô đơn của
Gabriel García Márquez, bàn đến nhiều "phương thức đọc", giải thích tác phẩm này
theo các phương cách khác nhau, đây cũng là một cuốn sách bestseller của Mỹ
Latinh. Janes tiếp cận tác phẩm này qua bình diện văn học và lịch sử, bình luận
theo nhiều hướng: chính trị, tiểu sử học , liên văn bản, và từ góc độ của huyền thoại
và hiện thực huyền ảo. Trong quá trình đó, Janes cung cấp một cuộc khảo sát có
sức thuyết phục về tiểu thuyết, và kết luận, "Nếu García Márquez có bước đi riêng,
tạo ra huyền thoại hiện đại, thì dường như đó là mong muốn giữ gìn, bồi dưỡng,
nuôi dưỡng ý thức của chúng ta về cõi không thực. Không chỉ thế giới thực mà
chúng ta đang sa lầy mà cả những cuốn sách chúng ta đọc cũng đang phủ nhận
chính chúng ta, một cách tạm thời, cần có một thế giới tốt hơn để có thể xác tín
được.”
Định hình rõ nét hơn về lí thuyết ứng dụng trong nghiên cứu Trăm năm cô đơn
là cuốn sách mang nhan đề: Phê bình hậu hiện đại về Trăm năm cô đơn của
Marquuez, cuốn sách của tác giả Jofer Serapio (A Postmodernist Critique of One
Hundred Years of Solitude by Gabriel Garcia Márquez) đăng tải trên trang web:
http://joferserapio.wordpress.com. Theo tác giả bài viết, yếu tố thể hiện rõ nhất tính
2
hậu hiện đại trong tác phẩm này là hiện thực huyền ảo. Và nhà văn đã có sự pha
trộn nhiều thể loại, lãng mạn, lịch sử, kì ảo.
Tiếp cận tác phẩm ở góc độ phương pháp dạy dạy học, Maria Elena de Valdés
và Mario J.Valdés đã xuất bản cuốn sách Những phương hướng giảng dạy tác phẩm
trăm năm cô đơn của Márquez (Approaches to teaching Garcia Márquez’s One
hundred years of solitude). Cuốn sách này được thiết kế dành cho giáo viên, tập
hợp những bài luận nghiên cứu đánh tin cậy. Phân 1: Dẫn nhập tư liệu giới thiệu về
những tiểu thuyết của ông, lịch sử nghiên cứu, tiểu sử. Phân 2: các hướng tiếp cận
bao gồm những bài viết như:
 Trăm năm cô đơn với thuyết nhân văn (Tác giả Hanna Geldrich-
Leffman).
 Nghiên cứu Trăm năm cô đơn từ lí thuyết văn học so sánh ( Lois
Parkinson Zamora).
 Nghiên cứu Trăm năm cô đơn theo lịch sử học, chính trị và văn minh
( Chester S. Halka).
 Trăm năm cô đơn từ lí thuyết liên ngành, ( Sandra M. Boschetto)
 Trăm năm cô đơn trong văn học Mỹ La Tinh ( Walter D. Mignolo).
Các hướng diễn giảng ở lớp học
 Tiếp cận qua hệ tư tưởng và lịch sử của Gabriela Moar
 Tiếp cận qua lịch sử, huyền thoại và siêu hư cấu của Isabel Alvarez
Borlan
 Một hướng tiếp cận từ góc độ tâm lý học phân tích ( Gary Eddy)
 Tiếp cận theo hướng trần thuật học (Amarryll Chanady)
Tập chuyên luận này mở ra cho chúng ta nhiều đường hướng khác nhau để có
thể tiếp cận tác phẩm. Tùy theo mục đích, đối tượng giảng dạy mà có thể lựa chọn
một phương thức giảng dạy tối ưu. Trên cơ sở đó cũng có thể tổng hợp nhiều
hướng tiếp cận khác nhau để có thể đưa ra sự tiếp nhận có tính phổ quát và toàn
diện hơn.
Những công trình nghiên cứu tiếng Anh mà chúng tôi tổng hợp trên đây tuy
không nhiều nhưng khá đa dạng và phong phú. Nó là một bức tranh thu nhỏ thể
3
hiện chiều dài và chiều rộng của những công trình nghiên cứu về tác phẩm nổi danh
của nhà văn Columbia này. Qua đó ta có thể nhìn nhận khái quát về những hướng
nghiên cứu, tiếp nhận nổi bật về tác phẩm này.
Ở Việt Nam, Trăm năm cô đơn được dịch và xuất bản năm 1983. Bài giới thiệu
của dịch giả Nguyễn Trung Đức ở phần đầu của cuốn tiểu thuyết được xem là một
trong những bài viết có tính khai đường trong nghiên cứu tiểu thuyết này. Từ đó
đến nay đã có hàng chục những công trình nghiên cứu với những qui mô khác nhau
bàn đến tiểu thuyết này. Bởi sự hạn chế về điều kiện và thời gian nên chúng tôi
không thống kê đầy đủ và chi tiết tất cả những công trình đó, chúng tôi chỉ tổng
thuật những bài tiêu biểu.
Trước hết là bài nghiên cứu : Nhân vật và thông điệp của Nguyễn Trung Đức
đăng trên trang web http://maxreading.com/sach-hay/tram-nam-co-don. Nguyễn
Trung Đức đã chỉ ra những bức thông điệp gắn với tên của nhân vật trong sáng tác
của nhà văn đạt giải Nobel 1982. Ông xác định những vòng tròn đan lồng trong
truyện, vòng tròn cuộc đời của đại tá Aureliano, vòng trong xoay quanh hai người
sinh đôi, sự quẩn quanh của những số phận, sự nhầm lẫn trong cách nhìn nhận của
Ursula và bao trùm lên tất cả là sự xoay vòng của thế giới, cuộc sống. Nhà nghiên
cứu khái quát bằng bức thông điệp của chính tác giả Trăm năm cô đơn từng tuyên
bố cuốn sách mà ông để cả đời sáng tác là cuốn sách về cái cô đơn và thông qua cái
cô đơn ông kêu gọi mọi người đoàn kết, đoàn kết để đấu tranh, đoàn kết để chiến
thắng tình trạng chậm phát triển của Mỹ Latinh, đoàn kết để "sáng tạo ra một thiên
huyền thoại khác hẳn. Một huyền thoại mới, hấp dẫn của cuộc sống, nơi không ai bị
kẻ khác định đoạt số phận mình ngay cả cái cách thức chết, nơi tình yêu có lối thoát
và hạnh phúc là cái có khả năng thực sự, và nơi những dòng họ bị kết án Trăm năm
cô đơn cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may lần thứ hai để tái sinh trên mặt đất này".
Trong bài viết này, Nguyễn Trung Đức đã đi sâu tìm hiểu những bức thông điệp mà
nhà văn gửi gắm trong tác phẩm, đặc biệt là qua số phận của nhân vật. Đó là một
phương thức thâm nhập sâu để tìm hiểu tư tưởng của nhà văn. Nhưng chúng tôi cho
rằng ngoài những điều nêu trên còn có một bức thông điệp khác quan trọng là sự dự
báo. Nhà văn của nỗi cô đơn đang dự báo và cảnh báo về một ngày tận thế ngoài
4
thánh kinh. Một dòng họ có thể bị tuyệt diệt, vùng đất huyền thoại có thể bị nhấm
chìm, loài người cũng có thể biến mất như chưa từng tồn tại nếu con người vẫn cứ
xây cất cho mình những tòa tháp cô đơn.
Một bài báo khác khảo về một hình tượng trung tâm của tác phẩm, Hình tượng
Macondo trong Trăm năm cô đơn ( Phan Tuấn Anh, Tạp chí Sông Hương 259/9-
10). Trong bài viết này, tác giả Tuấn Anh đã kiến giải về hình tượng làng Macondo
– hình tượng xuyên suốt nhiều sáng tác tác quan trọng của Márquez, từ vấn đề
nguồn cội tên gọi, tần suất đến ý nghĩa biểu trưng. Người viết đưa ra nhận xét khá
táo bạo: “Có thể nhận định rằng, nếu “nỗi cô đơn” là chủ đề lớn nhất mà
G.G.Márquez dành cả cuộc đời để theo đuổi, thì hình tượng trung tâm nhất, có tính
xuyên suốt các tác phẩm của nhà văn người Colombia lại không phải là một nhân
vật cụ thể, mà chính là hình tượng về vùng đất Macondo.” Bằng sự đối chiếu với
những cứ liệu lịch sử, văn hóa, Tuấn Anh đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa sự
phát triển của làng Macondo với tiến trình phát triển của Châu Mỹ La Tinh. Những
cứ liệu này soi sáng và chứng minh rõ hơn ý nghĩa biểu trưng của Macondo: xã hội
Mỹ La Tinh thu nhỏ. Đây là thế mạnh cũng là hạn chế của bài viết này. Bởi quá tập
trung vào những tài liệu mang tính tổng quát ấy mà người viết bỏ qua yếu tố huyền
thoại. Vẻ đẹp của hình tượng Macondo là vẻ đẹp hiện thực huyền ảo, là kết tinh của
những giá trị thực và ảo, là biểu trưng cho cả hiện thực và linh hồn của Mỹ La
Tinh. Vi vậy nếu như tác giả bài viết dành một dung lượng lớn hơn cho phần này
thì bài viết sẽ cân đối và chuẩn xác hơn.
Nghiên cứu về tác phẩm này còn phải kể đến những đề tài khoa học các cấp,
các sách chuyên luận nghiên cứu … Trước hết chúng tôi xin điểm qua một số khóa
luận, luận văn Ngữ Văn.
Khóa luận tốt nghiệp Khảo sát tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn trong hai tiểu
thuyết Trăm năm cô đơn và Tình yêu thời thổ tả của García Márquez (Nguyễn Thị
Tuyết Lan- Đại học Sư phạm Huế, 2005). Khóa luận tập trung vào 2 vấn đề: khảo
sát tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn trong Trăm năm cô đơn và Tình yêu thời thổ tả,
Những phương thức nghệ thuật thể hiện tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn trong tác
phẩm này. Tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn là 3 yếu tố quan trọng, có mối quan hệ
5
chặt chẽ với nhau trong sáng tác của nhà văn Comlombia này. Lí giải được mối
quan hệ của 3 yếu tố này sẽ lí giải được sự ý nghĩa của sự xuất hiện dày đặc những
xen làm tình, nỗi cô đơn tràn ngập trong sáng tác của ông. Công trình nghiên cứu
song hành 2 tác phẩm đỉnh cao của nhà văn biểu trưng cho nỗi cô đơn của Châu
Mỹ La Tinh, tìm hiểu toàn diện các phương thức nghệ thuật thể hiện như người kể
chuyện, không, thời gian trong hai tác phẩm, giọng điệu, điểm nhìn nhân vật.
Chúng tôi cho rằng công trình này vẫn còn khá nhiều thiếu sót. Chọn lối trình bày
song hành 2 tác phẩm, Tuyết Lan không kết nối được mối tương liên giữa chúng
dẫn đến sự rời rạc, vụn vỡ. Lối diễn đạt thiếu dẫn nhập, chuyển ý cũng là một điều
đáng bàn. Người viết về cơ bản vẫn chưa lí giải được mối quan hệ giữa nhục thể và
tình yêu, tình dục và nỗi cô đơn …Chúng tôi cho rằng cần phải đi sâu vào những
khía cạnh như về sự tương tranh giữa vô thức tập thể và ý thức cá nhân, con người
bản năng trong sự phát triển của xã hội, nỗi cô đơn tràn ngập trong văn học hậu
hiện đại có khởi nguyên từ sáng tác của Márquez hay không? …
Trong phần khảo sát về nỗi cô đơn, chúng tôi cho rằng cách phân chia luận
điểm không thuyết phục. Có thể chấp nhận sự phân chia mang tính khái quát ở hai
phần khảo sát về nhục thể, tình yêu nhưng với “nỗi cô đơn” thì không. Bởi đây là
một trong những yếu tố quan trọng nhất của tác phẩm, tiêu biểu cho sáng tác của
Márquez. Khảo sát mà không chỉ ra được những loại thể cô đơn trong tác phẩm thì
không có giá trị.
Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện tình yêu, nhục thể, nỗi cô đơn
trong Trăm năm cô đơn và Tình yêu thời thổ tả không có sự đóng góp nhiều. Bởi
người viết quá ôm đồm. Trong 23 trang (từ 61 đến 84), người viết nghiên cứu từ
người kể chuyện, không- thời gian, giọng điệu, điểm nhìn nhân vật trong 2 tiểu
thuyết. Việc trình bày song hành một lần nữa lại bộc lộ nhược điểm. Bởi người viết
lại thiếu thao tác so sánh giữa hai tác phẩm, định giá trị đặc trưng của từng “đứa
con tinh thần” của nhà văn. Điều này dẫn tới mặc dù đi vào phương thức nghệ thuật
nhưng Tuyết Lan hầu như chỉ dừng lại ở việc liệt kê mà sự liệt kê này xét đến cùng
vẫn chưa đầy đủ. Trong chương này, cô không chỉ ra được sự can dự của yếu tố
6
huyền ảo trong việc thể hiện tình yêu, nhục thể và nỗi cô đơn. Đó thực sự là một
điều rất đáng tiếc.
Ở một cấp độ cao hơn có thể kể đến luận văn cao học Thời gian và không gian
huyền thoại trong Trăm năm cô đơn của Gabriel García Márquez (Luận văn cao
học chuyên ngành Văn học nước ngoài Nguyễn Thị Hảo, Đại học Khoa học xã hội
nhân văn Hà Nội, 2009”). Luận văn này đã chạm đến vấn đề đặc biệt lí thú trong
sáng tác nổi danh của Máquez. Luận văn đã đưa ra một cái nhìn tổng quan và khá
hoàn thiện về đặc điểm của văn học Mĩ La Tinh và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Thời gian được tái hiện qua các cấp độ: trật tự, thời lưu, tần suất; cùng với hiện
tượng điềm báo. Sự xoay vòng của thời gian mang tính ẩn dụ. Không gian bàng bạc
màu sắc kì ảo. Với những biến đổi kì lạ của thiên nhiên, tác giả đưa độc giả đến
những miền đất kì ảo. Chốn không – thời gian huyền thoại góp phần quan trọng
chuyển tải thông điệp vì hoà bình, đoàn kết nhân loại – mặt trái của cái cô đơn.
Thời gian và không gian huyền thoại là những yếu tố quan trọng góp phần tạo
lập giá trị của tiểu thuyết Máquez. Phần viết về thời gian của người viết nổi trội
hơn so với phần không gian. Sử dụng lí thuyết thời gian của Gernette, người viết đã
từng bước tìm hiểu những cấp độ thời gian, giá trị của mỗi biểu hiện thời gian trong
sáng tác. Nếu nhấn mạnh hơn nữa vào yếu tố điềm báo với kết cấu xoay vòng thì có
tính khái quát cao hơn.
Đề tài cấp bộ do PGS. TS Bửu Nam chủ nhiệm (2002-2005): Đặc điểm,
khuynh hướng và sự phát triển của văn học Mỹ - La Tinh nửa sau thế kỉ XX trong
phần phụ lục 3: Các tác giả và tác phẩm tiêu biểu cho tiểu thuyết và truyện ngắn
Mỹ- La Tinh từ những năm 60 đến nay dành dung lượng bàn đến Marquez trong đó
đã bàn luận nhiều vấn đề từ góc độ liên văn bản (tiểu thuyêt huyền thoại đã tía chế
nhiều chất liệu dân gian của Châu Mỹ- La tinhh, một các tự do và sáng tạo, vay
mượn các motif trong thánh kinh và các huyền thoại cổ đại, sử dụng các các tình
tiết trong truyền thuyết lịch sử, các sự kiện có thật), từ cấp độ kí hiệu học (mô hình
hế giới dưới hình thức làng Macondo); đề cập đến vấn đề thời gian lịch sử và thời
gian vòng tròn theo chu kỳ … Nhà nghiên cứu khẳng định: cách kể chuyện của
7
Marquez được xem như tiêu biểu cho chủ nghĩa huyền ảo nhưng đây là một thứ chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo theo phương thức hài, lướt qua một cách thản nhiên giữa
hiện thực và cái kỳ diệu để làm kinh ngạc các nhân vật ngờ nghệch trong khi đương
đầu với một thế giới mà họ không hiểu thấu. Nhưng sự hài hước này lại đi kèm với
một cảm giác trắc ẩn, xót xa mà tác giả có vẻ như chia sẻ với các số phận nhân vật.
Tuy chỉ dành một phần để bàn về tác phẩm Trăm năm cô đơn nhưng công trình
nghiên cứu này đã gợi mở nhiều điều cho những người nghiên cứu về Marquez.
Đặc biệt ở khía cạnh các yếu tố huyền ảo, tính hài hước, yếu tố thời gian, cách xây
dựng cốt truyện, tuyến nhân vật … Cách đặt ngược vấn đề: phải chăng tiểu thuyết
là một ẩn dụ của sự thất bại của quá trình hiện đại hóa? khiến cho người đọc phải
suy ngẫm.
Chuyên luận mới nhất bàn về Márquez phải kể đến Chủ nghĩa hiện thực huyền
ảo của Gabriel García Márquez của PGS.TS. Lê Huy Bắc soạn thảo,(NXB Giáo
dục, 2009). Đây là một chuyên luận công phu về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Cuốn sách gôm 2 phần chính: chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García
Márquez, ngoài ra còn có phần phụ lục trích đăng những bài dịch có liên quan đến
chủ đề.
Trog phần 1, người viết đã đưa ra nhiều giải về khái niệm như cái kì ảo, cái
huyền ảo, văn học huyền ảo, văn học hiện thực huyền ảo, nhà văn hiện thực huyền
ảo. Trong đó đáng chú ý là sự phân kì văn học huyễn ảo. Lê Huy Bắc cho rằng lịch
sử văn học huyễn ảo có thể được chia làm 3 giai đoạn tương ứng với cách thức
sáng tạo và tiếp nhận văn học: giai đoạn 1(cái huyễn tưởng): thời trung cổ, khi con
người xem những yếu tố siêu nhiên, kì quái, hoang đường … như những cái tất
nhiên, lí trí chưa phải là cơ sở để con người tin tưởng. Giai đoạn 2 (cái kì ảo): thời
cận hiện đại. Cái kì ảo xuất hiện trong văn học mới mục đích gây nên sự hoang
mang cho người đọc. Đât là điều mà văn học thời kì trước không mấy bận tâm. Giai
đoạn thứ 3 ( cái huyền ảo) gắn với thời hiện đại, hậu hiện đại. Cái huyền ảo xuất
hiện như một sự đối thoại trở lại, bản chất là bộc lộ sự bất tin.
8
Chương 2 ở phần 1, tác giả khái quát hệ thống về Văn học hiện thực huyền ảo,
bao gồm: nguồn gốc và lịch sử, nguyên nhân ra đời, xác định khái niệm, đặc điểm,
tiếp nhận văn học hiện thực huyền ảo ở Việt Nam. Trong đó chúng tôi cho rằng
phần về nguyên nhân ra đời chưa thực sự đầy đủ. Trích dẫn ý kiến của 2 nhà nghiên
cứu John Peck và Martin Coyle, nhấn mạnh nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của văn
học hiện thực huyền ảo là tính chất tự ý thức trách nhiệm nghệ thuật của văn học
Mỹ LaTin trong việc thể hiện bản sắc và thẩm mỹ đặc biệt cho xứ sở và muốn
khẳng định quyền tự do và dân chủ của mình. Lê Huy Bắc cũng bổ sung thêm một
số nguyên nhân như thói quen xem cái hoang đường như cái thường nhật của
người bản địa, tìm sự an ủi trong thế giới siêu nhiên trước cuộc sống quá khắc
nghiệt. Chúng tôi cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Văn học hiện thực
huyền ảo còn là sự đối thoại trở lại với văn học phương Tây, đả phá lí tính, hoài
nghi thực tại, khuynh hướng này còn bắt nguồn từ sự đa văn hóa ở Châu Mỹ Latin.
Chương 3 phần 1, Lê Huy Bắc điểm qua những tên tuổi thuộc khuynh hướng
này như Franz Kafka, Jorge Borges, Miguel Asturias, Alijo Carpentier, Italo
Calvino, Gunter Grass, Toni Morrison. Nhà nghiên cứu quan niệm Kafka là gười
khai sinh ra khuynh hướng hiện thực huyền ảo thế kri XX, “người sử dụng giọng
văn trắng khi trần thuật và đan cài trong tác phẩm của mình những yếu tố hiện thực
và hoang đường một cách độc đáo”. Trong những trang tiếp theo, Lê Huy Bắc giới
thiệu và nhận xét tổng quan về các nhà văn hiện thực huyền ảo. Đó là những nghiên
cứu có tính gợi mở cho những người quan tâm tìm hiểu về những nhà văn này.
Phần 2 của chuyên luận gồm 6 chương, được sắp xếp theo thứ tự:
Chương 1: Lịch sử Comonbia và hiện thực của Márquez
Chương 2: Những người thầy
Chương 3: Khát vọng trở thành người giỏi nhất thế giới
Chương 4: Tự sự nhiều điểm nhìn trong Cụ già với đôi cánh khổng lồ
Chương 5: Những cô gái điếm buồn của Márquez
Chương 6: Trăm năm cô đơn
9
Đóng góp của phần 2 này chủ yếu tập trung ở chương 4, 5, 6, những chương 1,
2, 3 mang tính tổng thuật nhiều hơn là nghiên cứu. Trong giới hạn của bài viết này,
chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu chương 6.
Chương 6 được tác giả chia thành 7 phần.
1.Câu chuyện một trăm năm
2.Gia hệ Trăm năm cô đơn
3.Nhân vật
4.Huyền thoại về cái cô đơn
5.Macondo huyền thoại
6.Trần thuật mê lộ - biên niên sử huyền thoại
7.Ngọn sóng văn chương
Trong 7 phần nêu trên thi phần 1, 2, 3 mang tính chất tóm tắt và giới thiệu, có
sự tương đồng với nhiều những tài liệu tham khảo trước đó. Sự dẫn nhập này mang
tính hướng dẫn ban đầu cho những ai mới tiếp xúc với văn bản, khá bối rối với gia
hệ phức hợp trong tác phẩm. 4 phần còn lại nhà nghiên cứu đi sâu khải sát về các
huyền thoại, nghệ thuật trần thuật. Trong Huyền thoại về cái cô đơn, Lê Huy Bắc có
tiếng nói chung với những nhà nghiên cứu trước đó, cho rằng nỗi cô đơn là chủ đề
chính trong sáng tác của Márquez, nó vừa là nỗi cô đơn bản thể vừa là sự cảnh báo
đẻ hướng đến sự đoàn kết để mưu cầu hạnh phúc. Trong Trăm năm cô đơn người tá
có thể tìm thấy muôn vàn cấp độ, dạng hình cô đơn, từ José luôn cảm thấy ám ảnh
về tội lỗi quá khứ, những đam mê khoa học bất tận, Arcadio cô đơn vì hôn nhân
cận huyết, Aureliano Segundo cô đơn ngay trong sự giàu sang hạnh p húc bất tận
của mình, Rebeca cô đơn vì thói lập dị không giống ai Macondo huyền thoại
nhấn mạnh hình tượng làng Macondo. Tính huyền thoại thể hiện ngay trong tên gọi
của ngôi nhà, sự xuất hiện và biến mất. Nó là sự ẩn dụ về bức tranh phát triển của
xã hội, thế giới loài người. Trần thuật mê lộ- biên niên sử huyền thoại là phần mà
nhà nghiên cứu dụng công nhiều hơn cả. Mê lộ là biểu trưng cho Trăm năm cô đơn,
thể hiện rõ qua thế giới nhân vật, kết cấu, tự sự đa chủ thể, huyền thoại … Mê lộ
dẫn dụ người đọc vào thế giới huyền thoại, bị đánh đáo các nhân vật, các giá trị. Nó
10
khiến cho yếu tố hiện thực và huyền ảo đan cài vào nhau một cách chặt chẽ, tự
nhiên.
Những công trình nghiên cứu trên đây đã động chạm tới hầu hết những ngõ
ngách trong sáng tác của Márquez. Soi chiếu tác phẩm dưới nhiều góc độ khác
nhau, những nhà nghiên cứu đã chỉ ra những giá trị thẩm mỹ tiêu biểu của Trăm
năm cô đơn, giải mã phần nào bức thông điệp kí thác của tác giả. Sự tiếp nối của
các bài nghiên cứu theo thời gian, của đào sâu tìm hiểu tác phẩm theo nhiều cấp độ
khác nhau, qua nhiều ngôn ngữ cho thấy tính vô cùng của văn bản, sức hấp dẫn lớn
lao của tác phẩm.
3. Một số đề xuất về hướng tiếp nhận Trăm năm cô đơn
Trên cơ sở những nghiên cứu trên đây, chúng tôi xin bổ sung thêm một số
những hướng tiếp nhận riêng.
Chúng tôi nhận thấy hệ thống biểu tượng trong Trăm năm cô đơn rất đáng chú
ý. Ngoài những biểu tượng như làng Macondo, người tiên tri … mà các nhà nghiên
cứu đã bàn đến còn có thể kể đến nhiều biểu tượng khác như những chú cá vàng,
đường sắt, đoàn người Digan … Tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong tác phẩm có
thể giải mã được nhiều bức thông điệp trong tác phẩm. Ví như biểu tượng đường
sắt gợi đến thế giới văn minh, hiện đại. Nó tiêu biểu cho sự phát triển của khoa học
công nghệ, mang cho làng Macondo sự khởi sắc diện mạo, nhưng nó cũng là biểu
tượng cho sự phá vỡ thế giới tự nhiên hài hòa, đánh dấu sự tan rã và báo hiệu hủy
diệt. Cá vàng lại mang ý nghĩa khác, nó xuất hiện như một vòng tròn định mệnh.
Suốt cuộc đời nhân vật gắn liền với những chú cá, làm một công việc lặp đi lặp lại
đến nhàm chán và càng về sau lại càng bi thảm. Nó gợi đến hình ảnh hòn đá lăn,
con người cứ như vị thần xưa trong truyện cổ, mải miết lăn hòn đá lên đỉnh núi rồi
lại lăn ngược trở xuống, cứ lặp đi lặp lại như thế cho đến khi từ giã cõi đờì. Hình
ảnh chiếc khăn mà người đẹp Remediot mang khi bay lên trời cũng là một biểu
tượng có nhiều ám gợi. Chiếc khăn gợi về cuộc sống bình thường, hiện thực.
Remeriot bay lên trời, hóa thân thành một sinh thể trinh khiết thuộc về cõi Chúa, đó
là một phương thức bất tử hóa cái đẹp, cũng là một sự phản ánh bi đát về thân phận
của cái đẹp giữa trần gian. Nó không thể tồn tại một cách trọn vẹn giữa chốn đầy
11

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét