Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM



5

Nếu ICOR khơng đổi, mức tăng GDP hồn tồn phụ thuộc vào vốn đầu tư.
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu
kinh tế và hiệu quả trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộc vào
hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thơng thường, ICOR trong cơng nghiệp
cao hơn trong nơng nghiệp, ICOR trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận
dụng năng lực sản xuất. Do đó, ở các nước phát triển tỷ lệ đầu tư thấp thường dẫn
đến tốc độ tăng trưởng thấp.
Thứ hai : đầu tư tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thực tế cho thấy,
con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn (9-10%) là tăng
cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực cơng nghiệp và dịch vụ.
Đối với các ngành nơng, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả
năng sinh học nên để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó. Như vậy
chính sách đầu tư quyết định q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia
nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của tồn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát
triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thốt ra khỏi tình
trang đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh vế tài ngn, địa thế, kinh tế
của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy ngững
vùng khác cùng phát triển.
2.3 Đầu tư tác động tới việc tăng cường khả năng khoa học và cơng nghệ của
đất nước
Xuất phát từ nền cơng nghiệp lạc hậu, nền kinh tế kém phát triển, cơng nghệ là
trung tâm của cơng nghiệp hố. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và
tăng cường khả năng cơng nghệ của nước ta. Theo UNIDO, nếu chia q trình phát
triển cơng nghệ của thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990 ở giai đoạn 1
và 2. Với trình độ cơng nghệ hiện nay, q trình Cơng nghiệp hố- Hiện đại hố
cảu Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu khơng đề ra một chiến lược đầu tư
phát triển cơng nghệ nhanh và vững chắc.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


6

Có hai con đường cơ bản để có cơng nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra cơng
nghệ và nhập cơng nghệ từ nước ngồi. Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nước
ngồi cũng cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Một phương án đổi mới cơng
nghệ khơng gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là phương án khơng khả thi.
2.4 Đầu tư tác động tới q trình hội nhập kinh tế quốc tế
Đầu tư mà cụ thể là đầu tư nước ngồi sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đối
với q trình hội nhập kinh tế thế giới. Thơng qua các hình thức đầu tư gián tiếp
ODA, NGO, Việt Nam tạo ra mối quan hệ mật thiết với các nước và các tổ chức
đầu tư. Đầu tư nước ngồi cũng là tiền đề cho nền kinh tế mở đưa Việt Nam tham
gia vào các khu vực kinh tế như APEC hay gia nhập Tổ chức thương mại thế giới
WTO.

II. NGUỒN HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
CHÚNG
1. Khái niệm và phân loại nguồn vốn đầu tư
Đứng trên góc độ nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng, ta có thể đưa ra định
nghĩa về vốn đầu tư như sau: Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở
sản xuất, kinh doanh dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn
khác được đưa vào sử dụng trong q trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm
lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
Từ đây, người ta phân loại vốn đầu tư ra thành 2 nguồn :
- Vốn trong nước
- Vốn nước ngồi
2. Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngồi
Với cách chia như trên, ta cần xem xét mối quan hệ giữa 2 nguồn vốn này đối
với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Với các nước nghèo, để phát triển kinh tế,
và từ đó để thốt ra khỏi khó khăn thì một vấn đề nan giải ngay từ đầu là thiếu vốn
gay gắt và từ đó dẫn tới thiếu nhiều thứ khác cần thiết cho sự phát triển như cơng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


7

nghệ, cơ sở hạ tầng… Do đó, trong những bước đi ban đầu, để tạo được cú “hích”
đầu tiên cho sự phát triển, để có được tích luỹ ban đầu từ trong nước cho đầu tư
phát triển kinh tế, khơng thể khơng huy động vốn từ nước ngồi. Khơng có một
nước chậm phát triển nào trên con đường phát triển lại khơng tranh thủ nguồn vốn
đầu tư nước ngồi, nhất là trong diều kiện nền kinh tế mở.
Tuy nhiên, cở sở vật chất kỹ thuật để có thể tiếp thu và phát huy tác dụng của
vốn đầu tư nước ngồi đối với sự phát triển kinh tế của đất nước lại chính là khối
lượng vốn đầu tư trong nước. Tỷ lệ giữa vốn huy động được ở trong nước để tiếp
nhận và sử dụng có hiệu quả vốn nước ngồi tuỳ thuộc vào đặc điểm và điều kiện
phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước. Ở Trung Quốc, tỷ lệ này là 5:1, một số nước
khác là 3:1, Việt Nam, theo các nhà kinh tế, tỷ lệ này phải là 2:1.
Nói như vậy để thấy một điều là : Nguồn vốn huy động trong nước và nguồn
vốn huy động từ nước ngồi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thơng qua nhiều cơ
chế tác động, cả trực tiếp và gián tiếp, nguồn vốn nước ngồi có tác dụng rất lớn
làm cho nguồn vốn trong nước tăng lên cả về quy mơ và hiệu quả sử dụng. Đồng
thời, các nguồn vốn trong nước cũng tác động tích cực trở lại đối với nguồn vốn
nước ngồi. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hai nguồn vốn này cũng gây ra
những tác động tiêu cực cho nhau và ảnh hưởng khơng tốt đến sự phát triển kinh tế
của nước nhận đầu tư.
Trước hết, ta hãy cùng xem xét tác dộng của nguồn vốn trong nước đối với
vốn nước ngồi. Có thể nói, nguồn vốn trong nước giữ vai trò quyết định trong
chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Xét về lâu
dài thì nguồn vốn đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất
nước đến sự phần vinh một cách chắc chắn và khơng phụ thuộc phải là nguồn vốn
đầu tư huy động được ở trong nước. Quy mơ của nguồn vốn trong nước là nhân tố
cơ bản cho phát triển kinh tế. Thực tế là trong một khoảng thời gian tương đối dài,
nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, sản xuất khơng
phát triển. Ngun nhân sâu xa và khách quan là nền kinh tế xuất phát ở trình độ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


8

thấp kém, xản xuất nhỏ là phổ biến lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề và hậu quả
chiến tranh để lại khá nghiêm trọng. Nhưng ngun nhân quyết định là do chúng ta
đã duy trì q lâu mơ hình kinh tế kế hoạch hố tập trung quan liêu bao cấp, đóng
cửa nền kinh tế cả bên trong và bên ngồi. Hệ quả là chúng ta đã kìm hãm các
nguồn lực (bao gồm cả nguồn vốn) trong nước, mặt khác, những nguồn vốn đã
được sử dụng lại khơng đem lại hiệu quả cao. Từ năm 1986, Đảng đã chủ trương
chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường, thực hiện nhất qn
nền kinh tế hàng hố nhiều thành phần, phát huy tiềm năng của tồn xã hội. Kể từ
mốc thời gian này, với sự năng động của các thành phần kinh tế, một khối lượng
vốn lớn đã được huy động. Tuy chưa ở mực triệt để nhưng lượng vốn này đã tạo ra
một bước chuyển biến quan trọng, góp phần quyết định trong việc cải thiện đời
sống kinh tế ở nước ta. Đạt được những thành quả như vậy, một phần quyết định là
do nguồn vốn trong nước đã tăng đáng kể. Như vậy, quy mơ và hiệu quả sử dụng
vốn trong nước là động lực cho tăng trưởng kinh tế và qua đó thể hiện tiềm năng
phát triển kinh tế của một quốc gia. Đối với các định chế tài chính và các nhà đầu
tư nước ngồi, đây là tiêu chí hàng đầu để cho vay vốn hoặc đầu tư trực tiếp. Ở
nước ta, cùng với việc khai thơng nguồn vốn trong nước, từ năm 1998, nguồn vốn
nước ngồi cho đầu tư phát triển kinh tế đã khơng ngừng gia tăng. Vào những năm
1997-1998, khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực nổ ra làm cho tốc độ
nền tăng trưởng kinh tế bị sụt giảm mạnh, kéo theo sự suy giảm của khối lượng vốn
nước ngồi đầu tư vào Việt Nam, vốn trong nước vẫn tiếp tục gia tăng. Nhờ những
nỗ lực trên, trong năm 2000 chúng ta đã ngăn chặn được sự giảm sút về tốc độ tăng
trưởng và làm cho nguồn vốn nước ngồi gia tăng trở lại với sức hút của một thị
trường ổn định và an tồn cho hoạt động đầu tư.
Như vậy, sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam với nguồn gốc là sự gia tăng lượng
vốn trong nước đã tạo uy tín cho thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc
tế và qua đó nguồn vốn nước ngồi vào Việt Nam đã tăng đáng kể. Sự tác động của
vốn đầu tư trong nước đối với sự tăng hay giảm của đầu tư nước ngồi còn thể hiện
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


9

ở chỗ : Các nguồn vốn trong nước, đăc biệt là nguồn vốn của ngân sách nhà nước
được sử dụng để xây cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng càng hiện đại, càng đồng bộ thì
hoạt động đầu tư càng thuận lợi và khi đó dòng vốn chảy vào càng nhiều.
Theo những phân tích trên, nguồn vốn trong nước có ảnh hưởng rất lớn đến
các nguồn vốn nước ngồi. Đến lượt mình, nguồn vốn huy động từ nước ngồi đã
tạc dộng trở lại đối với nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực và tác động khơng
nhỏ tới nguồn vốn trong nước. Theo đánh giá của các chun gia kinh tế, tốc độ
tăng GDP của nước ta năm 1995 là 9,5% nhưng nếu khơng có đầu tư trực tiếp nước
ngồi thì mức tăng trưởng chỉ đạt được 5,2%, tức là đầu tư trực tiếp nước ngồi đã
tạo ra tốc độ tăng trưởng GDP là 4,3%. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi còn tạo ra một khối lượng lớn việc làm, tăng thu
nhập cho người lao động. Đây chính là nguồn gốc của tích luỹ để tăng vốn cho đầu
tư. Mặt khác, đời sống của người lao động được cải thiện, những nhu cầu thiết yếu
được đáp ứng tốt hơn, các nhu cầu cao hơn nảy sinh, mở ra những cơ hội lớn đối
với các nhà sản xuất. Nói một cách khác, nó góp phần kích thích các nhà cung ứng
tăng tích luỹ để mở rộng quy mơ sản xuất nhằm mục tiêu lợi nhuận. Thực tế là
cùng với chính sách mở cửa, kêu gọi đầu tư nước ngồi, tiết kiệm trong nước đã
tăng liên tục cả về quy mơ tuyệt đối và tỷ lệ so với GDP.
Khi nền kinh tế của đất nước có sự tham gia của khu vực có vốn đầu tư nước
ngồi với ưu điểm về cơng nghệ, kinh nghiệm quản lý… sẽ làm tăng tính cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước do u cầu phải sản xuất có hiệu quả. Ở
khía cạnh khác, thơng qua các nguồn vốn nước ngồi, thơng qua hợp tác đầu tư với
nước ngồi, những nguồn lực của nền kinh tế mà trước đây chưa được sử dụng hết
(do khơng đủ vốn, do thiếu cơng nghệ kỹ thuật, do khơng có thị trường) nay được
đưa vào sản xuất bằng cách hợp tác kinh doanh với nước ngồi. Cùng với q trình
hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp liên doanh, phần vốn góp của phía
Việt Nam trong các doanh nghiệp đó cũng tăng lên, có nghĩa là quy mơ vốn trong
nước tăng lên. Như vậy, vai trò của vốn đầu tư nước ngồi thể hiện ở chỗ: với sự có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


10

mặt của nguồn vốn nước ngồi, tính hiệu quả trong hoạt động thị trường Việt Nam
được cải thiện và qua đó tác động tích cực đến nguồn vốn trong nước.
Vốn huy động trong nước và vốn huy động từ nước ngồi có mối quan hệ
khăng khít với nhau, hỗ trợ nhau cùng gia tăng về số lượng và hiệu quả sử dụng.
Kinh nghiệm thực tế của các nước trong khu vực đã cho thấy, những năm khởi đầu
của q trình phát triển kinh tế đều phải dựa vào vốn nước ngồi. Nguồn vốn này
đã đóng góp một phần đáng kể (đối với một số nước góp phần quyết định như Hàn
Quốc, Philipin…) tạo nên sự phát triển nhanh của các nước này đồng thời đưa đến
sự lệ thuộc nhiều mặt của nước đó vào nước ngồi. Mặt khác, do mục tiêu của các
nhà đầu tư nước ngồi là lợ nhuận nên việc họ đầu tư vào các lõnh vực có tỷ suất
lợi nhuận cao là điều tất yếu. Tuy nhiên, một khối lượng vốn lớn từ nước ngồi đầu
tư vào, trong nhiều trường hợp, cũng khiến các nguồn vốn trong nước phải chuyển
sang những hướng đầu tư khác khơng thuận lợi. Ở nước ta, tuy sự tiêu cực này
chưa được thể hiện rõ nét nhưng đó là bài học để chúng ta có những biện pháp
nhằm hạn chế những tác động khơng tốt của vốn nước ngồi. Vấn đề đặt ra là
chúng ta phải nhận thức được vốn đầu tư chủ yếu phải dựa vào tích luỹ trong nước
và do đó phải thực hiện các chính sách và giải pháp để phát triển kinh tế nhằm tăng
nhanh tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, khuyến khích tiết kiệm.

III. NỘI DUNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1. Nguồn vốn trong nước
Đứng trên góc độ vi mơ của nền kinh tế, chúng ta phân chia nguồn vốn trong
nước theo các nguồn hình thành sau:


Vốn của Doanh nghiệp quốc doanh

Nguồn vốn trong nước Vốn của Doanh nghiệp ngồi quốc doanh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


11


Vốn của các tổ chức phi lợi nhuận
Đứng trên góc độ vĩ mơ, chúng ta lại chia nguồn vốn trong nước theo các
nguồn sau:
Tiết kiệm của Chính phủ
Nguồn vốn trong nước Tiết kiệm của doanh nghiệp

Tiết kiệm của dân cư
Trong bài này chúng ta sẽ nhất qn phân tích nguồn vốn trong nước trên quan
điểm kinh tế vĩ mơ.
1.1 Tiết kiệm của Chính phủ (nguồn vốn Nhà nước)
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của Ngân sách nhà nước,
nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển
của doanh nghiệp nhà nước.
• Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn chi của ngân
sách nhà nước cho đầu tư. Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng
cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các
dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho
cơng tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đơ thị và nơng thơn.
Trong những năm gần đây, quy mơ tổng thu của ngân sách nhà nước khơng
ngừng gia tăng nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau (huy động qua thuế, phí,
bán tài ngun, bán hay cho th tài sản thuộc nhà nước quản lý…). Đi cùng với sự
mở rộng quy mơ ngân sách, mức chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
cũng gia tăng đáng kể, tăng từ mức 2,3% GDP năm 1991 lên 6,1% GDP năm 1996.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


12

• Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Cùng với q trình đổi mới
và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể
trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nếu như trước năm 1990, vốn tín dụng
đầu tư phát triển của nhà nước chưa được sử dụng như một cơng cụ quản lý và điều
tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn 1991-2000, nguồn vốn này đã có mức tăng
trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí quan trọng trong chính sách đầu tư của chính
phủ.
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong
việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các
đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo ngun tắc hồn trả vốn vay. Chủ đầu
tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn. Vốn
tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức q độ chuyển từ phương
thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng
thu hồi vốn trực tiếp.
Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư của nhà nước còn phục vụ cơng tác quản lý
và điều tiết kinh tế vĩ mơ. Thơng qua nguồn tín dụng đầu tư, nhà nước thực hiện
việc khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định
hướng chiến lược của mình. Đứng ở khía cạnh là cơng cụ điều tiết vĩ mơ, nguồn
vốn này khơng chỉ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục
tiêu phát triển xã hội. Việc phân bổ và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến
khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xố
đói giảm nghèo. Và trên hết, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có
tác dụng tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Cơng nghiệp
hố - Hiện đại hố.
• Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: Được xác định là thành phần
giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước vẫn nắm giữ một
khối lượng vốn nhà nước khá lớn. Theo báo cáo tổng kết cơng tác tổng kiểm kê tài
sản và xác định lại giá trị tài sản doanh nghiệp nhà nước tại thời điểm 1/1/2000,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


13

tổng nguồn vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp nhà nước là 173.857 tỷ đồng. Mặc
dù vẫn còn một số hạn chế nhưng đánh giá một cách cơng bằng thì khu vực kinh tế
nhà nước với sự tham gia của các doang nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế nhiều thành phần.
DNNN vẫn đóng góp một lượng lớn vào GDP của nền kinh tế, nộp ngân sách
chiếm 40% tổng thu của ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho trên 1,9 triệu người.
Một số sản phẩm của doanh nghiệp nhà nước có đóng góp chủ yếu vào cân bằng
hàng hố của nền kinh tế như: xi măng, dầu khí, bưu chính viễn thơng…
Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả hoạt động
của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanh nghiệp
nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mơ vốn đầu tư của
tồn xã hội.

1.2 Tiết kiệm của doanh nghiệp
Với khoảng vài vạn doanh nghiệp ngồi nhà nước (doanh nghiệp tư nhân,
cơng ty cổ phần, cơng ty trách nhiệm hữu hạn, các HTX) đang và sẽ đi vào hoạt
động, phần tích luỹ của các doanh nghiệp này cũng sẽ đóng góp đáng kể vào tổng
quy mơ vốn của tồn xã hội.
Thực hiện chính sách đổi mới, cơ chế mở cửa nhằm huy động mọi nguồn lực
cho đầu tư được thực hiện, trong những năm gần đây các loại hình doanh nghiệp
dân doanh có những bước phát triển mạnh mẽ. Hoạt động đầu tư từ khu vực này gia
tăng mạnh mẽ. Hàng chục ngàn doanh nghiệp được thành lập mới với số vốn hàng
chục tỉ đồng (chỉ riêng 8 tháng đầu năm 2001, có khoảng 11 ngàn doanh nghiệp
mới được thành lập với số vốn 13.000 tỉ đồng). Nhà nước cũng có những hỗ trợ
thiết thực nhằm tăng cường thêm sức mạnh cho các doanh nghiệp tư nhân. Các
cuộc hội thảo liên tiếp được mở ra, mục đích là lắng nghe, tiếp nhận ý kiến của các
doanh nghiệp, từ đó tiến hành điều chỉnh luật cũng như ban hành các chính sách
mới tạo diều kiện hơn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng cạnh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


14

tranh khi hội nhập quốc tế và khu vực. Đặc biệt là với các doanh nghiệp có quy mơ
vừa và nhỏ, các dự án hỗ trợ về luật, nghiệp vụ, việc thành lập các tổ chức, hiệp hội
theo ngành nghề, lĩnh vực đang là những hoạt động có ý nghĩa được Đảng và Nhà
nước quan tâm kịp thời, đúng mức. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp tư nhân đã
có thêm những sức mạnh mới, Việt Nam đã được bạn bè trên thế giới biết đến qua
nhiều thương hiệu nổi tiếng, điều này càng khẳng định vai trò khơng nhỏ của doanh
nghiệp tư nhân cũng như số lượng vốn huy động được từ khu vực này. Dự báo
trong thời gian tới, các doanh nghiệp sẽ còn tăng thêm cả về số lượng, quy mơ vốn
cũng như chất lượng hoạt động. Đây sẽ là câu hỏi đặt ra cho các nhà kinh tế trong
việc quản lý hoạt động và cũng sẽ là bài tốn có nhiều lời giải cho việc huy động
vốn đầu tư từ khu vực được đánh giá là còn chứa ẩn nhiều tiềm năng này.
1.3 Tiết kiệm của khu vực dân cư
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, một bộ phận khơng nhỏ trong dân
cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích luỹ truyền
thống, nhìn tổng quan, nguồn vốn tiềm năng trong dân cư khơng phải là nhỏ, tồn tại
dưới dạng vàng, ngoại tệ, tiền mặt… Nguồn vốn này xấp xỉ bằng 80% tổng nguồn
vốn huy động của tồn bộ hệ thống ngân hàng. Thực tế phát hành trái phiếu chính
phủ và trái phiếu của một số ngân hàng thương mại quốc doanh cho thấy, chỉ trong
thời gian ngắn đã huy động được hàng ngàn tỉ đồng và hàng chục triệu USD từ khu
vực dân cư.
Với khoảng 15 triệu hộ gia đình đóng góp khoảng 1/3 GDP, trong giai đoạn
1996-2000 tiết kiệm của khu vực dân cư chiếm khoảng 15% GDP. Nhiều hộ gia
đình đã thực sự trở thành các đơn vị kinh tế năng động trong các lĩnh vực kinh
doanh thương mại, dịch vụ, sản xuất nơng nghiệp và tiểu thủ cơng nghiệp. Ở mức
độ nhất định, các hộ gia đình cũng sẽ là một trong số các nguồn tập trung và phân
phối vốn quan trọng trong nền kinh tế.
Vốn của dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy
mơ của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét