5
12.5.2. Khảo sát việc tiếp cận 48
12.5.3. Đào tạo giáo viên 48
12.5.4. ay đổi thái độ 49
12.5.5. u thập dữ liệu 49
12.5.6. Tăng cường việc thi hành Chỉ thị của ủ tướng số 01/2006/CT-g 49
12.5.7. Chính sách đối với các nhà tài trợ quốc tế 49
12.6. Quyền về danh tính 50
12.6.1. Đăng ký khai sinh khi ra đời 50
12.6.2. Tôn trọng năng lực tham gia của TKT 50
12.7. Tăng cường thực hiện và cơ chế giám sát 50
12.7.1. iết lập một hệ thống bảo vệ trẻ em 50
12.7.2. Đào tạo cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp 50
12.7.3. Giám sát và thực thi 50
12.7.4. am gia công dân 50
13. Kiến nghị cho các nhà tài trợ 50
Phụ bản 1: Ban hành giáo dục hòa nhập ở các nước đang phát triển 52
6
UBVH,GD Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, anh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ LĐ,TB&XH Bộ Lao động, ương binh và Xã hội
Bộ TC Bộ Tài chính
Bộ KH&ĐT Bộ kế hoạch và đầu tư
Bộ YT Bộ Y tế
Bộ GT&VT Bộ Giao thông vận tải
CT-g Chỉ thị của ủ tướng chính phủ
CN& Công nghệ thông tin và truyền thông
MDRI Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần
NCCD Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam
VNAH Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam
WHO Tổ chức Y tế ế giới
7
Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) và chính phủ Việt Nam ủy nhiệm cho ông Eric Rosenthal
thực hiện đánh giá và phân tích trong báo cáo này, cùng với những chuyên gia khác của Viện Quốc tế
bảo vệ Quyền Người khuyết tật tâm thần (MDRI). Mục đích chính của báo cáo là để giúp chính phủ
Việt Nam đưa luật pháp và những chính sách của mình phù hợp với Công ước mới của Liên Hiệp Quốc
về Quyền của Người khuyết tật (sau đây viết tắt là CRPD), mà Việt Nam đã ký kết vào ngày 22 tháng 10
năm 2007. Những mục tiêu chính của nhiệm vụ tư vấn này là:
Đánh giá và phân tích văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam liên quan đến trẻ khuyết tật ▪
(TKT) cùng với Công ước CRPD và những hiệp ước, chuẩn mực và tiêu chuẩn khác về NKT
(sử dụng phương pháp rà soát những văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam liên quan đến TKT
do chuyên gia luật trong nước thực hiện);
Rà soát dự thảo Luật Người khuyết tật, rà soát những nhận xét và khuyến nghị để sửa đổi và ▪
hoàn chỉnh luật này;
Soạn thảo những khuyến nghị cho chính phủ Việt Nam về thay đổi chính sách và pháp luật để ▪
việc thực thi những tiêu chuẩn pháp lý mới đã được qui định trong CRPD; những gợi ý này dựa
trên phân tích của chúng tôi về luật pháp Việt Nam cùng với các cuộc phỏng vấn với quan chức
chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ, nhà giáo dục, những người hoạt động về khuyết tật; phân
tích của chúng tôi cũng có thông tin từ các chuyến thăm thực địa đến những chương trình dịch
vụ phục vụ cho cả trẻ em và người lớn khuyết tật tại Việt Nam.
Văn bản phân tích luật này đã được ông Eric Rosenthal, Giám đốc điều hành của MDRI soạn thảo, có hỗ
trợ của Arlene S. Kanter, Giáo sư Luật, Đại học luật Syracuse, và Erin Jehn, luật sư trợ lý của MDRI. Giáo
sư Arlene S Kanter đã thăm Việt Nam hồi mùa xuân năm 2009 thay mặt cho VNAH và đã tham gia vào
các buổi họp biên soạn bộ Luật Người khuyết tật mới của Việt Nam. UNICEF đã mời Eric Rosenthal
đến Việt Nam hồi tháng 7 và tháng 9 năm 2009. Hồi tháng 9-2009, Viện Quốc tế bảo vệ Quyền người
Khuyết tật tâm thần (MDRI) đã mời bà Elizabeth Bauer, thư ký của Ban giám đốc MDRI, đồng thời là
ủy viên của Sở Giáo dục tiểu bang Michigan (Hoa Kỳ). Còn hồi tháng 7 năm 2009, Eric Rosenthal đã
tham gia vào một hội thảo do Bộ LĐTB&XH và VNAH bảo trợ để soạn thảo bộ Luật Người khuyết tật
mới. Ông Rosenthal cũng tham gia và một lớp tập huấn các nhà hoạt động khuyết tật do VNAH tổ chức,
và ông cũng đã đến thăm thực địa một Trung tâm Phục hồi chức năng cho TKT tại Hà nội. Rosenthal
và cán bộ của UNICEF đã đến Đà nẵng hồi tháng 7 năm 2009 và thăm một trung tâm phục hồi chức
năng dựa vào cộng đồng cho trẻ em và NKT, một trường học chuyên cho trẻ khuyết tật, một trung tâm
nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và một trung tâm chăm sóc nạn nhân chất độc da cam. Hồi tháng 9 năm 2009,
Rosenthal và Bauer đã gặp gỡ các quan chức chính phủ tại Hà nội, Đà Nẵng và Đồ Sơn, tiến hành hội
thảo cho các quan chức cấp bộ về xây dựng các văn bản pháp lý về NKT. Những chuyên gia này cũng đã
phát biểu tại một hội thảo của Quốc hội về dự thảo Luật Người khuyết tật hồi tháng 9 năm 2009. Cũng
trong tháng 9, MDRI và cán bộ UNICEF đã tới thăm thực địa tại một trường đặc biệt, một cơ sở tâm
thần, một mô hình trung chăm sóc ban ngày dành cho TKT. Chuyên gia Rosenthal và Bauer đã thực
hiện một hội thảo cho UNICEF và các tổ chức phát triển quốc tế khác đang hoạt động tại Việt Nam về
cách áp dụng thích hợp những chương trình do quốc tế tài trợ để đáp ứng những yêu cầu của Công ước
Liên Hiệp Quốc về Quyền của Người khuyết tật (CRPD).
Phần phân tích pháp luật Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào công trình nghiên cứu rất tỷ mỉ của Tiến
sĩ Tường Duy Kiên. Công trình nghiên cứu này tóm lược pháp luật Việt Nam và phân tích những điểm
mạnh và những hạn chế. Chúng tôi không có bản dịch sang tiếng Anh của một số văn bản luật được đề
8
cập trong công trình nghiên cứu này và chúng tôi đã giả định rằng đa phần nội dung công trình nghiên
cứu của Tiến sĩ Kiên là chính xác trong việc miêu tả về pháp luật Việt Nam.
MDRI đã gặp đại diện Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới trong chuyến thăm tháng 9 năm 009. MDRI biết
rằng Bộ Y tế đang phác thảo một luật mới về Sức khỏe tâm thần mới, nhưng MDRI chưa thể có được bản
dịch bằng tiếng Anh của luật này. CRPD quy định quyền của những người tâm thần hoặc khuyết tật về
tâm lý xã hội và yêu cầu điều trị cho họ, nhưng việc không được tiếp cận với luật chăm sóc sức khỏe tâm
thần đã tạo nên điểm hạn chế trong phần phân tích này. Quan trọng rằng luật pháp mới này phù hợp với
những tiêu chuẩn nêu trong CRPD.
Báo cáo này chủ yếu tập trung vào những thay đổi lập pháp cần thiết để Việt Nam có các qui định phù
hợp với CRPD. Tuy nhiên, ngoài việc thay đổi luật, CRPD yêu cầu chính phủ Việt Nam cũng phải có
thay đổi trong chính sách và thực hiện để chấm dứt sự phân biệt đối xử với trẻ khuyết tật trong xã hội
Việt Nam, cũng như để tăng cường thực hiện pháp luật sao cho quyền của những NKT được bảo đảm.
Những thay đổi cần thiết này trong chính sách, luật, và thi hành luật được nêu đại cương trong báo cáo
này.
9
Chúng tôi chân thành cám ơn nhiều người đã dành thời gian thảo luận với chúng tôi tại Việt Nam. Ban
chuyên gia soạn thảo Luật Người khuyết tật của Bộ Lao động,ương binh,Xã hội đã nhiều lần họp với
chúng tôi và cung cấp thông tin nền tảng có giá trị về tình hình pháp lý của TKT. Trưởng ban soạn thảo,
ông Lập cùng cán bộ của mình đã hỗ trợ đắc lực để tổ chức những chuyến đi thực địa khắp Việt Nam.
Đại diện của Quốc hội cởi mở và nhiệt tình, cũng như các quan chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y
tế. Các cán bộ của Sở Lao động,ương binh, Xã hội Đà Nẵng đã nhiệt tình giới thiệu các chương trình
của họ và đã cung cấp cho chúng tôi thông tin nền tảng về những dịch vụ và chương trình giáo dục TKT
trong tỉnh. Chúng tôi đặc biệt đánh giá cao phần giúp đỡ và hỗ trợ của cán bộ UNICEF, đặc biệt là chị
Naira Avetisyan, người có kiến thức rộng về TKT và mối quan hệ công tác tuyệt vời với các quan chức
Việt Nam, mới làm nên được bản phân tích này.
10
Tóm tt các quan sát chính
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Cam kết của chính phủ Việt Nam đưa quốc gia mình tuân thủ với Công ước LHQ về Quyền của Người
khuyết tật (CRPD) rất có ấn tượng. Như bản phân tích này cho thấy, Việt Nam đã ban hành một số luật rất
có giá trị để bảo vệ quyền của người khuyết tật. Nếu Việt Nam thông qua/phê duyệt Luật về NKT mà hiện
nay bản thảo của Luật này đang được xem xét, Việt Nam sẽ đi lâu dài theo hướng tuân thủ với CRPD. Tuy
nhiên, còn một số thiếu sót đáng kể trong bản thảo Luật người khuyết tật, song có thể chỉnh sửa những thiếu
sót này để luật này phù hợp với CPRD. Để phù hợp hoàn toàn với CRPD, chính phủ Việt Nam nên xem xét
những nét chuyển đổi sau đây:
Để bảo vệ chống phân biệt đối xử, đề xuất về Luật người khuyết tật cần bao gồm quyền có điều chỉnh ▪
hợp lý, như yêu cầu của CRPD Điều 5(3) và được xác định trong CRPD Điều 2; một điều khoản như
vậy cần điều chỉnh dịch vụ công và các chương trình cần thiết để cho phép cá nhân khuyết tật tiếp
cận đến được giáo dục, nhà ở, y tế, dịch vụ, giao thông và những lĩnh vực khác của cuộc sống.
Quyền có được công nghệ thông tin và truyền thông phù hợp phải được thiết lập trong đề xuất Luật ▪
về Người khuyết tật, trong khi đó văn bản hiện nay chưa rõ ràng là quyền này có được bảo đảm hay
không.
Luật pháp và quy định về quyền tiếp cận phải được tăng cường; việc này gồm quyền tiếp cận môi ▪
trường vật chất, phương tiện giao thông, truyền thông, thông tin liên lạc và các cơ sở dịch vụ khác;
những dạng thức truyền thông có thể tiếp cận đến các dịch vụ công cũng phải được thực thi, kể cả
ngôn ngữ ký hiệu, chữ nổi Braille, cassees, cỡ phông chữ lớn, và những biện pháp công nghệ hỗ trợ
khác.
Quyền của trẻ em khuyết tật sống trong cộng đồng cùng với gia đình, hoặc nếu nên đảm bảo có được ▪
các hình thức các gia đình khác chăm sóc thay thế, nếu cần thiêt.
Can thiệp sớm và chăm sóc sức khỏe cần có sẵn sao cho TKT và gia đình các em dễ tiếp cận. ▪
Cần phải thiết lập quy trình và đánh giá định kỳ việc đưa các em vào các cơ sở chăm sóc tập trung và ▪
luật cần nêu rõ một thời điểm cụ thể khi đã tạo lập được hệ thống hỗ trợ chăm sóc tại cộng đồng thì
chấm dứt đưa các cháu mới vào sống trong các cơ sở chăm sóc tập trung.
Cần thành lập kế hoạch quá độ để chuyển đổi các trường chuyên biệt thành chương trình giáo dục ▪
hòa nhập nhằm đảm bảo rằng tất cả TKT được giáo dục trong hệ thống giáo dục chung.
Dự thảo Luật Người khuyết tật cần yêu cầu rằng tất cả trẻ em khuyết tật phải được làm giấy khai sinh ▪
khi ra đời.
Công tác bảo trợ luật pháp cần được tạo lập để bảo vệ quyền nâng cao năng lực của TKT sao cho ▪
các em có thể diễn đạt được quan điểm của mình và có quyền lựa chọn những vấn đề liên quan đến
mình.
Công tác bảo trợ luật pháp cần phải có để chống lại kiểu chăm sóc ép buộc, không đúng quy cách và ▪
cưỡng chế đưa vào trại tâm thần, như yêu cầu của các Điều 12 và 14 của CRPD; pháp chế mới của
Việt Nam về sức khỏe tâm thần cần được soạn thảo theo tinh thần nhất quán với những điều khoản
này.
Cần phải thiết lập hệ thống bảo trợ trẻ em để báo cáo và điều tra những vụ việc tắc trách và lạm ▪
dụng.
Nên thiết lập một hệ thống giám sát và theo dõi tất cả các chương trình cộng đồng và tất cả các cơ sở ▪
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em khuyết tật.
Tổ chức độc lập của NKT và thành viên gia đình cần phải được lôi cuốn tham gia vào những vấn đề ▪
liên quan đến theo dõi và thực thi CRPD.
11
CHÍNH SÁCH
Luật pháp của Vit Nam cn phn ánh nhng nguyên tc ct lõi ca CRPD, gm có quyn ca tt c
nhng NKT h “tham gia y và hiu qu vào xã hi” − Để có thể làm nên việc này, hệ thống dịch
vụ phải được cải cách sao cho TKT có thể sống và lớn lên cùng gia đình trong cộng đồng. Các em phải được
giáo dục thích hợp trong hệ thống trường học chính.
Dịch vụ y tế, tái phục hồi chức năng, phục hồi chức năng phải có sẵn trong cộng đồng. iếu vắng những
chương trình hỗ trợ cộng đồng toàn diện, nhiều TKT sẽ ít có cơ hội sống độc lập khi thành người lớn. Một số
TKT hiện nay đang sống trong các trại mồ côi và các cơ sở chăm sóc tập trung khác mà tại đó các cháu chịu
rủi ro phải sống cả đời tại đó. Trực tiếp đi ngược với Điều 19 của CRPD, MDRI đã thấy rằng Việt Nam đang
mở rộng những cơ sở chăm sóc nội trú tập trung và chương trình chuyên biệt kiểu này.
Vit Nam nên o li nhng k hoch hin nay m rng các cơ s ni trú cho tr em và m rng tm
c ca các cơ s ni trú ngưi tâm thn – ay vì mở rộng những cơ sở hiện nay, Việt Nam nên thông qua
các kế hoạch chấm dứt việc đưa TKT vào sống trong các cơ sở này. Đây nên được coi là ưu tiên hàng đầu
cho những cố gắng cài cách bởi vì việc chia tách người ta ra khỏi xã hội sẽ góp phần làm tăng thêm khuyết tật
và cản trở việc hưởng thụ những quyền khác. Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ nước ngoài cần hướng
công sức vào hỗ trợ cho các trẻ em tại gia đình và cung cấp dịch vụ theo một nền tảng cơ sở tổng hợp nhất.
Cần dành công sức hỗ trợ và đào tạo cha mẹ các TKT, đặc biệt là cha mẹ các cháu khuyết tật trí tuệ, bởi vì
chính họ là nguồn lực thường xuyên bị coi nhẹ đối với hỗ trợ cộng đồng hiện, mà họ lại đóng tỉ lệ hỗ trợ các
cháu khuyết tật rất lớn.
Vì Vit Nam dành ngun lc hn ch cung cp dch v h tr da vào cng ng và h tr cho TKT,
Vit Nam nên tránh sai lm thit lp nhng chương trình dch v mi và các trưng chuyên bit, mà
chính nhng cơ s này li không hòa nhp TKT vào xã hi mt cách y − Cần tránh đầu tư vào các
cơ sở nội trú mới, cho dù những cơ sở này nhỏ hơn, sạch sẽ hơn những cơ sở hiện nay. Tương tự như thế, ta
nên tránh đầu tư vào giáo dục chuyên biệt.
Ci cách giáo dc nên thit lp giáo dc hòa nhp cho tt c TKT − Điều 24 của CRPD nêu rằng các
chính phủ “phải bảo đảm có một hệ thống giáo dục hòa nhập ở tất cả các cấp học”. eo đó, Việt Nam nên
bảo đảm rằng các trường phải nhận, dạy và tiếp nhận TKT. Cộng thêm vào xây dựng, sửa đổi các trường
hiện có, sao cho học sinh khuyết tật các loại có thể tiếp cận đến học, điều thiết yếu là phải đầu tư mới vào các
chương trình đào tạo giáo viên, cung cấp các giáo trình học tập thích hợp và hỗ trợ giảng dạy TKT tật trí tuệ
và các dạng khuyết tật khác.
Chính ph, NKT và thành viên gia ình có NKT cng nên tham gia tích cc óng góp công sc vào
giám sát nhng chương trình và c gng ci cách hin nay − Cuộc cải cách hiệu quả sẽ bị hạn chế nếu
không minh bạch và không có số liệu về tình hình hiện nay. Như UNICEF và Bộ LĐTB&XH đã mô tả trong
báo cáo năm 2009 “tạo ra một môi trường bảo vệ trẻ em tại Việt Nam”, sẽ không thể có một hệ thống tổng
hợp và toàn diện để bảo vệ trẻ em trong những hoàn cảnh chuyên biệt. CRPD đòi hỏi rằng cơ quan chính
quyền độc lập cần được thành lập để theo dõi giám sát bất cứ chương trình nào phục vụ TKTt. Điều 4(3)
nêu rõ rằng NKT và những tổ chức đại diện cho họ cần được tham gia giám sát như vậy cũng như được tham
gia vào lập kế hoạch thực thi CRPD.
12
THAM GIA CÔNG DÂN & THỰC THI
iu sót chính trong bt c mt c gng ci cách nào ti Vit Nam chính là thiu mt phong trào
mnh, có t chc và c lp ca các bên liên quan – ch yu là NKT và thành viên gia ình h - cam kt
hi thúc vic thc thi và thc hin lut hin có ti cp a phương và quc gia. iếu một cơ chế cử tri
mạnh giám sát việc thực hiện thì một bộ Luật mới về Người khuyết tật dù có ấn tượng đến đâu cũng không
được tăng cường thực hiện. Để làm cho những cố gắng khổng lồ trong cải cách luật pháp của Việt Nam xứng
đáng, điều thiết yếu là cần trao quyền cho NKT lập chính sách và biện lý chính sách công. Đa phần trên thế
giới, cải cách đã diễn ra tại nơi đâu xã hội dân sự độc lập có lãnh đạo của NKT tìm kiếm được cải cách chính
phủ. Người khuyết tật nên được bổ nhiệm vào UBND và những chức vụ lãnh đạo khác trong các cấp chính
quyền trung ương và địa phương làm chính sách và thực thi những chương trình tác động đến những NKT.
Giả định là từ lâu đã thiếu đào tạo và cơ hội cho NKT, nhóm khuyết tật này trong xã hội có thể thiếu kinh
nghiệm và thiếu trình độ đảm đương những vị trí này. Cách nhanh nhất để phát triển kinh nghiệm đó là thách
thức cá nhân khuyết tật bằng chính trải nghiệm đời thực triển khai và thực thi các chương trình. Cá nhân
khuyết tật phải được hỗ trợ và đào tạo cần thiết cho phép họ làm việc hiệu quả trong những cương vị ấy.
13
1. Bi cnh thc t ca TKT ti Vit Nam
Giống như bất cứ trẻ em nào, TKT cũng có tiềm năng phát triển trong cộng đồng và ảnh hưởng tích cực
đến cuộc sống của mọi người quanh mình. Khác biệt ở đây là xã hội có thể phải thích ứng để thực hiện
hóa tiềm năng đó của trẻ. Bằng việc ký Công ước về Quyền của Người khuyết tật (CRPD), Việt Nam đã
đánh tín hiệu rằng nước mình cam kết một xã hội thích ứng với nhu cầu của TKT và Việt Nam đã đạt
tiến bộ đầy ý nghĩa trong lĩnh vực này. Tại Việt Nam, như nhiều nơi trên thế giới, TKT đương đầu với
nhiều khó khăn tiếp cận môi trường vật chất, cũng như tiếp cận những dịch vụ dựa vào cộng đồng, dịch
vụ y tế, giáo dục và hệ thống bảo vệ trẻ em. ực thi CRPD sẽ đòi hỏi nhiều biện pháp tích cực để chấm
dứt tình trạng phân biệt đối xử. Trong khi một số biểu hiện phân biệt đối xử là kết quả của luật pháp có
tính phân biệt, đại đa số phân biệt đối xử lại là kết quả của những chính sách và cách làm có lịch sử từ
lâu là tách biệt TKT ra khỏi xã hội thông thường. Những thách thức đặc biệt đối với TKT tại Việt Nam
được nêu đại cương dưới đây.
1.1. Kh nng tip cn
Vấn đề thiếu khả năng tiếp cận đối với NKT tại Việt Nam đặc biệt trầm trọng đối với TKT, nó tạo ra
những rào cản đến dịch vụ y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, văn hóa, thể thao và những hoạt động khác
rất thiết yếu cho sự phát triển của một đứa trẻ. Cụ thể là, TKT tật thiếu khả năng tiếp cận dịch vụ giao
thông công cộng, trường học, bệnh viện, nhà vệ sinh, các tòa nhà văn hóa và những tòa nhà khác.
1
iếu
tiếp cận đến thông tin liên lạc đối với những người khiếm khuyết về thị lực và thính lực.
2
Trẻ em khiếm
khuyết thị lực và thính lực không thể tiếp cận được những chương trình học tập và những thông tin khác
vì những nội dung đó không có bằng chữ nổi Braille, phông chữ lớn, hoặc có phụ đề bằng chữ đi kèm.
3
Phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu thì hiếm và NKT phải dựa vào cố gắng của các giáo viên tình nguyện làm
việc với những người điếc.
4
Trong kkhi đài truyền hình Việt Nam (VTV) có chương trình thời sự đêm
với phụ đề, các chương trình khác có phụ đề thì lại chưa sẵn có.
5
1.2. Dch v da vào cng ng và y t
Xét đến những dịch vụ dựa vào cộng đồng và dịch vụ y tế, thiếu những dịch vụ phát hiện sớm, can thiệp
sớm, tái phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng dành cho
TKT trong cộng đồng tại Việt Nam. Trong khi những chính sách chính thống cung cấp dịch vụ tái hồi
chức năng cho NKT cũng có đấy, tổng quan vẫn còn thiếu rất nhiều những dịch vụ như vậy, cũng như
hoàn toàn còn thiếu những dịch vụ lấy TKT làm mục tiêu.
6
iếu những dịch vụ này là do kinh phí chưa
đầy đủ, thực thi kém, mở rộng dàn trải và thiếu duy trì.
7
Nhiều TKT không nhận được chăm sóc sức
khỏe và dịch vụ phục hồi chức năng.
8
Còn đối với những em nào nhận được, số lượng trẻ em sử dụng trợ
giúp phục hồi chức năng rất thấp, chỉ khoảng 1/5 TKT được dùng tay giả, chân giả, chỉnh hình, hỗ trợ
nghe và nhìn hoặc xe lăn
9
Dịch vụ phục hồi chức năng không sẵn có tại nhiều cộng đồng và nhân viên
1 Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, UNICEF và Bộ LĐ-TB-XH 155 (Hà Nội), 2004.
2 Michael Schwartz, Điếc tại Việt Nam: Liệu Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền của người khuyết tật có làm nên khác
biệt hay không? 34 Syracuse J. Int’l L. & Com 483, 492 (2007).
3 Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 1, trang 128.
4 Michael Schwartz, như đã trích dẫn chú giải 2, trang 492.
5 Như trên
6 Tạo lập một môi trường bảo vệ trẻ em tại Việt Nam: đánh giá luật và những chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em
có những hoàn cảnh đặc biệt tại Việt Nam, UNICEF và Bộ Lao động – ương binh và Xã hội 80 (Hà Nội), 2009.
7 Người hướng dẫn quyền người khuyết tật quốc tế (IDRM)—Báo cáo khu vực châu Á: báo cáo quốc gia Việt Nam
140 (2005), hp://www.idrmnet.org/pdfs/CIR_IDRM_Asia_05.pdf (lần xem gần đây nhất 23 tháng 11, 2009).
8 Tạo lập một môi trường bảo vệ trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 6, tại 80.
9 Như trên
14
y tế thì thường chưa được đào tạo đầy đủ, hoặc họ chưa có động viên vật chất để làm việc cùng với gia
đình TKT.
10
Nhiều gia đình TKT không nhận được hỗ trợ mà họ rất cần để nuôi một đứa con khuyết
tật. Hiện nay, chưa có chương trình phát hiện có hệ thống, chưa có đánh giá chuyên nghiệp hoặc chưa
giúp đỡ được cho những gia vị tổn thương thế để giúp cho TKT ở lại với gia đình.
11
Còn một số chương
trình hỗ trợ tại trường học và cộng đồng dành cho TKT thì còn hạn chế.
12
Các gia đình không được lợi
lộc gì từ các chương trình tham mưu, dịch vụ tư vấn cho tuổi thiếu niên, các chương trình kỹ năng sống,
những trung tâm tiếp nhận hoặc những hoạt động giải trí.
13
êm vào đó, còn thiếu cán bộ công tác xã
hội chuyên nghiệp được đào tạo.
14
Bởi vì công tác xã hội còn là một nghề mới, hiện nay vẫn chưa bổ
nhiệm chức danh cho những cán bộ làm công tác xã hội được đào tạo.
15
1.3. Giáo dc
Việt Nam từ lâu đã biết đánh giá tầm quan trọng của giáo dục và chính phủ Việt Nam đã đầu tư một tỉ lệ
ngân sách nhà nước cao cho các dịch vụ giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, lại có một tỉ lệ khá lớn TKT không
được đi học tí nào. eo một số con số thống kê, chỉ có 52% TKT được tiếp cận với giáo dục, trong khi
đó 33% TKT bị mù chữ.
16
Những nghiên cứu khác cho thấy một tỉ lệ thấp hơn rất nhiều (20%) các TKT
được đi học.
17
Trong số những TKT được đi học, hệ thống giáo dục chia tách các loại khuyết tật và xếp
các em vào những trường học hoặc lớp học riêng.
18
Mặc dầu đã có một số cố gắng để tạo ra một hệ thống
giáo dục hòa nhập, vẫn còn thiếu hỗ trợ kỹ thuật và tài chính.
19
iếu đào tạo giáo viên và thiếu thông tin
cũng góp phần làm thiếu giáo dục hòa nhập.
20
Cuối cùng, rất nhiều TKT không có được điều chỉnh phù
hợp cho phép các em có thể học tập hoặc ở trường chuyên biệt, hoặc ở trường hòa nhập.
21
1.4. ành lp các cơ s chm sóc tp trung
Một trong những thách thức căng thẳng nhất đối với TKT tại Việt Nam là việc đưa các em vào những
trung tâm bảo trợ xã hội, các trại tế bần, các trường nội trú hoặc các cơ sở khác. Vấn đề này là mối quan
tâm đặc biệt khi Việt Nam dường như đang định hướng những luồng nguồn lực mới vào xây dựng các
tòa nhà và chương trình để tăng số lượng người lớn và TKT nhận vào các cơ sở nội trú. Hiện nay, chưa có
thống kê tin cậy về số lượng trẻ em trong các trung tâm và cơ sở như thế của chính phủ, của các tổ chức
phi chính phủ quốc tế, các tổ chức tôn giáo, các cơ sở tư nhân và các tổ chức địa phương. Tuy nhiên, một
nghiên cứu trích dẫn số lượng trẻ em trong những cơ sở này là 14,574,
22
mặc dầu người ta tin rằng con
số thực tế còn cao hơn. Còn tồn tại nhiều bất cập lớn liên quan đến những con số thống kê về số TKT
không được học tập và cần phải có những quy trình thu thập số liệu tốt hơn để giải quyết vấn đề này.
10 Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 1, at 129.
11 Tạo lập một môi trường bảo vệ trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 6, at 24.
12 Như trên
13 Như trên
14 Như trên tại 29.
15 Như trên
16 Như trên tại 81.
17 Phân tích tình hình các chương trình và cơ sở chăm sóc trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, UNICEF và Bộ LĐ-TB-XH
34 (Hà Nội), 2005.
18 Tạo lập một môi trường bảo vệ trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 6, tại 81.
19 Như trên tại 82.
20 Như trên
21 Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 1, tại 128.
22 Phân tích tình hình các chương trình và cơ sở chăm sóc trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 17,
tại 8.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét