Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

phân tích kế toán tiền lương tại công ty TNHH liên doanh công nghiệp thực phẩm An Thái

Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
- Ghi chép, phản ánh, tổng hợp kịp thời, đầy đủ và chính xác về số
lượng, chất lượng lao động, tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả
lao động.
- Tính toán các khoản tiền lương, tiền thưởng, các khoản trợ cấp phải
trả cho người lao động và thanh toán đầy đủ, kịp thời.
- Kiểm tra việc sử dụng lao động, việc chấp hành chính sách chế độ về
lao động, ti
ền lương, bảo hiểm xã hội…Đồng thời quản lý chặt chẽ việc sử
dụng, chi tiêu quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ.
- Tính toán, phân bổ hợp lý, chính xác chi phí về tiền lương và các
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho đối tượng liên quan.
- Định kỳ tiến hành phân tích tình hình sử dụng lao động, tình hình
quản lý và chi tiêu quỹ tiền lương, quỹ bảo hiểm xã hội, BHYT, KPCĐ từ đó
đề xuất các biện pháp khai thác có hiệu qu
ả tiềm năng lao động, tăng năng
suất lao động, ngăn ngừa các vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách,
chế độ về lao động tiền lương và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, chế độ sử dụng chi tiêu KPCĐ, chế độ phân phối theo lao động…
2. Hình Thức Tính Tiền Lương, Quỹ Tiền Lương Và Các Khoản Trích
Theo Lương:
2.1 Các hình thứ
c tính tiền lương:
Các doanh nghiệp thường áp dụng 2 chế độ trả lương cơ bản, phổ biến là:
+ Chế độ trả lương theo thời gian làm việc
+ Chế độ trả lương theo khối lượng sản phẩm (hay công việc hoàn thành)
Tương ứng với hai chế độ tính lương nói trên là hai hình thức tiền lương:
+ Hình thức tiền lương thời gian
+ Hình thức tiền lương sản ph
ẩm
2.1.1 Hình thức tiền lương thời gian:
Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương tính trả cho người lao
động theo thời gian làm việc, cấp bậc công việc và thang lương của người lao
động.
SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
5
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
Tiền lương tính theo thời gian có thể được thực hiện theo tháng,
ngày hoặc giờ làm việc tùy thuộc theo yêu cầu và trình độ quản lý thời gian
lao động của doanh nghiệp.
Tiền lương thời gian có thể thực hiện tính theo thời gian giản đơn
hay tính theo thời gian có thưởng.
Công thức tính tiền lương theo thời gian:
• Mức lương tháng:

Mức lương tháng
=
Mức lương cơ bản
(tối thiểu)
×
Hệ số
lương
+
Tổng hệ số các
khoản phụ cấp
• Mức lương tuần:

Mức lương tháng × 12
Mức lương tuần =
52
• Mức lương ngày:

Mức lương tháng
Mức lương ngày =
22 (hoặc 26)

Hình thức tiền lương tính theo thời gian có nhiều hạn chế vì tiền lương
tính trả cho người lao động chưa đảm bảo đầy đủ nguyên tắc phân phối theo
lao động vì chưa tính đến một cách đầy đủ chất lượng lao động, do đó chưa
phát huy đầy đủ chức năng đòn bẩy kinh tế của tiền lương trong việc kích
thích sự phát triển của sản xuất, chưa phát huy hế
t khả năng sẵn có của người
lao động.
Do những hạn chế trên, khi áp dụng hình thức tiền lương theo thời
gian cần thực hiện một số biện pháp phối hợp như: giáo dục chính trị tư tưởng,
động viên khuyến khích vật chất, tinh thần dưới các hình thức tiền thưởng;
thường xuyên kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động và sử dụng thời gian
lao động. Việ
c phối hợp nhiều biện pháp sẽ tạo cho người lao động có kỷ luật,
có kỹ thuật và năng suất cao.
2.1.2 Hình thức tiền lương sản phẩm:
Tiền lương tính theo sản phẩm là tiền lương trả cho người lao động
theo kết quả lao động - khối lượng sản phẩm, công việc đã hoàn thành, bảo
SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
6
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
đảm yêu cầu chất lượng đã quy định và đơn giá tiền lương tính cho 1 đơn vị
sản phẩm, công việc đó.
Tiền lương tính theo sản phẩm có thể được thực hiện theo những cách sau:
 Tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp: áp dụng đối với lao
động thuộc bộ phận trực tiếp sản xuất sản phẩm

Tiền lương được
lĩnh trong tháng
=
Số lượng (khối lượng) sản phẩm,
công việc hoàn thành
×
Đơn giá
tiền lương

 Tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp: áp dụng đối với lao
động gián tiếp phục vụ sản xuất hưởng lương phụ thuộc vào kết quả lao động
của bộ phận trực tiếp sản xuất

Tiền lương được
lĩnh trong tháng
=
Tiền lương được lĩnh
của bộ phận trực tiếp
×
Tỷ lệ lương
gián tiếp

Tỷ lệ lương của bộ phận gián tiếp do đơn vị xác định căn cứ vào tính
chất, đặc điểm của lao động gián tiếp phục vụ sản xuất. Cách tính lương này
có tác dụng làm cho những người phục vụ sản xuất quan tâm đến kết quả hoạt
động sản xuất vì nó gắn liền với lợi ích kinh tế của bản thân họ.
 Tiền lươ
ng tính theo sản phẩm có thưởng:
Cách tính này có tác dụng kích thích người lao động không chỉ
quan tâm đến số lượng sản phẩm làm ra mà còn quan tâm nâng cao chất lượng
sản phẩm, tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu,…Khoản tiền
thưởng này trích từ lợi ích kinh tế mang lại do việc tăng tỷ lệ sản phẩm có chất
lượng cao, giá trị nguyên vật liệu tiết kiệm được…
 Tiền lươ
ng tính theo sản phẩm lũy tiến:
Suất tiền thưởng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt mức kế
hoạch sản xuất sản phẩm do doanh nghiệp quy định. Ví dụ như cứ vượt 10%
định mức thì tiền thưởng tăng thêm cho phần vượt là 20%; vượt từ 11% - 20%
định mức thì tiền thưởng tăng thêm cho phần vượt là 40%; vượt từ 50% trở lên
thì tiền thưởng tăng thêm cho phần vượ
t là 100%. Có thể được áp dụng ở
những bộ phận sản xuất cần thiết phải đẩy mạnh tốc độ sản xuất.
Nó khuyến khích người lao động phải luôn phát huy sáng tạo, cải tiến
kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động, đảm bảo cho đơn vị thực hiện kế
hoạch sản xuất sản phẩm một cách đồng bộ và toàn diện.
SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
7
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chú ý, khi xây dựng tiền thưởng lũy tiến
cần hạn chế 2 trường hợp có thể xảy ra đó là:
o Người lao động phải tăng cường độ lao động đưa đến việc không
đảm bảo sức khỏe cho lao động lâu dài.
o Tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao động.
 Tiền lương tính theo sản ph
ẩm cuối cùng:
Đối với các doanh nghiệp có tính chất chế biến, doanh nghiệp cần tạo
ra các điều kiện ổn định sản xuất, tổ chức lại từng dây chuyền ổn định sản xuất
và xác định rõ giai đoạn cuối cùng của từng nửa thành phẩm hoặc thành phẩm.
Trên cơ sở xác định giai đoạn cuối cùng của từng nửa thành phẩm hoặc thành
phẩ
m để xác định tiền lương tính theo sản phẩm cuối cùng cho từng người lao
động hay một tập thể người lao động.
Cách tính lương này là tiến bộ nhất vì nó gắn trách nhiệm của cá nhân
hoặc tập thể người lao động với chính sản phẩm mà họ đã làm ra. Như vậy
trong trường hợp tính lương theo sản phẩm cuối cùng, tiền lương phải trả cho
người lao động không thuộc chi phí sản xu
ất mà nằm trong thu nhập còn lại
sau khi trừ đi các khoản chi phí hợp lý và các khoản phân phối lợi nhuận theo
quy định.
Hình thức tiền lương theo sản phẩm có nhiều ưu điểm: đảm bảo được
nguyên tắc phân phối theo lao động, làm cho người lao động quan tâm đến số
lượng và chất lượng lao động của mình. Tiền lương tính theo sản phẩm phát
huy đầy đủ vai trò đòn bẩy kinh tế, kích thích sản xuấ
t phát triển, thúc đẩy
tăng năng suất lao động, tăng sản phẩm cho xã hội.
Tuy nhiên, để áp dụng một cách thuận lợi và phát huy đầy đủ những
ưu điểm của hình thức này doanh nghiệp phải xây dựng được một hệ thống
định mức lao động thật hợp lý, xây dựng được đơn giá tiền lương trả cho từng
loại sản phẩm, từng loại công việc mộ
t cách khoa học hợp lý, xây dựng được
chế độ thưởng phạt rõ ràng, xây dựng suất thưởng lũy tiến thích hợp với từng
loại sản phẩm, công việc, tổ chức quản lý chặt chẽ việc nghiệm thu sản phẩm:
đảm bảo đủ, đúng số lượng, chất lượng theo quy định.
Việc áp dụng chế độ trả lương phù hợp với từng đối tượ
ng lao động
trong doanh nghiệp cũng là một trong những điều kiện quan trọng để huy động
và sử dụng có hiệu quả lao động, tiết kiệm hợp lý về lao động sống trong chi
phí SXKD, góp phần hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
8
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
2.2 Quỹ tiền lương:
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương tính theo số
công nhân viên của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trực tiếp quản lý và chi trả
lương bao gồm các khoản:
+ Tiền lương tính theo thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm và
tiền lương khoán, công nhật.
+ Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều độ
ng đi công tác, đi làm
nghĩa vụ trong phạm vi chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi
học…
+ Các loại phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm…
+ Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên.
+ Tiền ăn giữa ca của người lao động,…
Ngoài ra, trong quỹ tiền lương còn gồm cả khoản tiền chi trợ cấp bảo
hiểm xã hội cho công nhân viên trong thời gian ốm đ
au, thai sản, tai nạn lao
động (BHXH trả thay lương).
Quỹ tiền lương trong doanh nghiệp cần được quản lý và kiểm tra một
cách chặt chẽ, đảm bảo việc sử dụng quỹ tiền lương một cách hợp lý và có
hiệu quả. Quỹ tiền lương thực tế phải được thường xuyên đối chiếu với quỹ
tiền lương kế hoạch trong mối quan hệ với việc th
ực hiện kế hoạch sản xuất
của doanh nghiệp trong kỳ đó nhằm phát hiện kịp thời các khoản tiền lương
không hợp lý, kịp thời đề ra các biện pháp nâng cao năng suất lao động, đảm
bảo thực hiện theo nguyên tắc phân phối theo lao động, thực hiện nguyên tắc
mức tăng năng suất lao động bình quân nhanh hơn mức tăng tiền lương bình
quân góp phần hạ thấp chi phí trong s
ản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng tích
lũy xã hội.
Trong kế toán và phân tích kinh tế, tiền lương của công nhân viên trong
doanh nghiệp được chia làm 2 loại: tiền lương chính và tiền lương phụ.


SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
9
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
+ Tiền lương chính: là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời
gian công nhân viên thực hiện nhiệm vụ chính của họ bao gồm: tiền lương trả
theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo lương (như phụ cấp trách nhiệm,
phụ cấp khu vực, phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ, phụ cấp thâm niên…)
+
Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian
công nhân viên thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời
gian CNV nghỉ theo chế độ được hưởng lương (như nghỉ phép, nghỉ lễ, đi học,
nghỉ vì ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan, đi họp…). Ngoài ra tiền
lương trả cho công nhân sản xuất nhưng không mang lại kết quả cũng được
xếp vào lương phụ.
Việc phân chia tiền l
ương chính, tiền lương phụ có ý nghĩa quan trọng
trong công tác kế toán tiền lương và phân tích khoản mục chi phí tiền lương
trong giá thành sản phẩm. Trong công tác kế toán, tiền lương chính của công
nhân sản xuất thường được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất cho từng
loại sản phẩm vì tiền lương chính của công nhân sản xuất có quan hệ trực tiếp
với khối lượng sản phẩm sản xuất ra, có quan hệ v
ới năng suất lao động.
Trường hợp doanh nghiệp có thực hiện trích trước chi phí tiền lương nghỉ
phép thì sẽ căn cứ vào tiền lương chính của công nhân sản xuất để tính số trích
trước tiền lương nghỉ phép vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Tiền lương phụ của công nhân trực tiếp sản xuất không gắn với việc chế
tạo sản phẩm cũng như không quan hệ đến n
ăng suất lao động cho nên tiền
lương phụ được phân bổ một cách gián tiếp vào chi phí sản xuất các loại sản
phẩm. Tiền lương phụ thường được phân bổ cho từng loại sản phẩm căn cứ
theo tiền lương chính công nhân sản xuất của từng loại sản phẩm.
2.3 Các khoản trích theo lương:
2.3.1
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành do việc trích lập và tính
vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khoản chi phí về bảo hiểm
theo quy định của Nhà nước.
Quỹ BHXH được tạo ra bằng cách trích theo tỷ lệ phần trăm trên tiền
lương phải thanh toán cho công nhân để tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
và khấu trừ vào tiền lương công nhân. Theo quy định hiện nay thì tỷ lệ này là
20% trong đó: tính vào chi phí sản xuất kinh doanh 15% và công nhân phải
chịu là 5%.
SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
10
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành nhằm tạo nguồn để chi trả cho
công nhân viên trong trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất sức,
nghỉ hưu,…Tùy theo cơ chế tài chính quy định cụ thể mà việc quản lý và sử
dụng quỹ bảo hiểm xã hội có thể ở cơ quan quản lý quỹ (cơ quan chuyên môn
chuyên trách) hay có thể ở tại doanh nghiệp.
Theo cơ chế tài chính hiện hành, nguồ
n quỹ bảo hiểm xã hội do cơ
quan chuyên môn chuyên trách quản lý và chi trả các trường hợp cho công
nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức… còn ở tại doanh nghiệp, sau khi tạo nguồn
quỹ bảo hiểm xã hội phải nộp toàn bộ số quỹ bảo hiểm xã hội đó lên cơ quan
quản lý quỹ và được phân cấp chi trả một số trường hợp như: công nhân viên
ốm đau, thai sản… cuối tháng ( hoặ
c quý) tổng hợp chứng từ chi tiêu để quyết
toán với cơ quan chuyên môn chuyên trách ( theo hình thức thu đủ, chi đủ).
2.3.2
Về bảo hiểm y tế, theo quy định của chế độ tài chính hiện hành,
bảo hiểm y tế cũng được hình thành từ hai nguồn như bảo hiểm xã hội. Một
phần do doanh nghiệp chịu và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh hàng
tháng theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân
viên trong tháng, một phần do người lao động chịu thường được trừ vào lương
của họ. Theo quy định hiện nay, BHYT đượ
c trích theo tỷ lệ 3% trên lương
phải thanh toán cho công nhân trong đó tính vào chi phí sản xuất kinh doanh là
2% và khấu trừ vào tiền lương công nhân là 1%.
BHYT được nộp toàn bộ lên cơ quan chuyên môn chuyên trách về
bảo hiểm y tế (dưới hình thức mua bảo hiểm y tế) để phục vụ chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe cho người lao động như khám bệnh, chữa bệnh và điều trị bệnh…
2.3.3
Đối với kinh phí công đoàn cũng được hình thành do việc trích
lập và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hàng tháng theo
tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương thực tế phải trả công nhân viên trong
tháng. Quỹ kinh phí công đoàn được hình thành bằng cách theo tỷ lệ quy định
trên tiền lương phải trả và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Theo quy định hiện hành, tỷ lệ trích KPCĐ tính vào chi phí trên tiền
lương phải trả là 2% trong đó 1% dành cho hoạt động công đoàn c
ơ sở và 1%
cho hoạt động công đoàn của cấp trên.
Theo quy định của chế độ tài chính hiện hành, nguồn kinh phí công
đoàn trích được sẽ phải nộp một phần lên cơ quan quản lý công đoàn cấp trên,
một phần để lại doanh nghiệp phục vụ chi tiêu cho hoạt động công đoàn doanh
nghiệp.
SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
11
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
Tăng cường quản lý lao động, cái tiến và hoàn thiện việc phân bổ và
sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động, cải tiến và hoàn thiện chế độ tiền
lương, chế độ sử dụng quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ được xem là một phương
tiện hữu hiệu để kích thích người lao động gắn bó với hoạt động sản xuất kinh
doanh, rèn luyện tay nghề, nâng cao năng suất lao động.
Trên cơ sở các chế độ về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ
Nhà nước đã ban hành, các doanh nghiệp tùy thuộc vào đặc điểm ngành mình
phải tổ chức tốt lao động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, đồng thời tính toán, thanh toán đầy đủ kịp thời các khoản tiền lương,
tiền thưởng, BHXH, BHYT đúng chính sách, chế độ; sử dụng tốt kinh phí
công đoàn nhằm khuyế
n khích người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ, góp
phần thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh đơn vị.
3. Hạch Toán Lao Động, Tính Và Thanh Toán Lương, Bảo Hiểm Xã Hội:
3.1 Hạch toán lao động:
Trong quản lý và sử dụng lao động ở doanh nghiệp, cần thiết phải tổ
chức hạch toán các chỉ tiêu liên quan về lao động. Nội dung của hạch toán lao
động là hạch toán số lượng lao độ
ng, thời gian lao động và kết quả lao động.
+
Hạch toán số lượng lao động: Số lượng lao động trong doanh nghiệp
thường có sự biến động tăng giảm trong từng đơn vị, bộ phận cũng như phạm
vi toàn doanh nghiệp. Sự biến động trong doanh nghiệp có ảnh hưởng đến cơ
cấu lao động, chất lượng lao động và do đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Để phản ánh số lượng lao động hi
ện có và theo dõi sự biến động lao
động trong từng đơn vị, bộ phận doanh nghiệp sử dụng “Sổ danh sách lao
động”. Cơ sở để ghi vào sổ là các chứng từ ban đầu về tuyển dụng, các quyết
định thuyên chuyển công tác, nâng bậc, thôi việc, hưu trí… Việc ghi chép vào
“Sổ danh sách lao động” phải đầy đủ, kịp thời làm cơ sở cho việc lập báo cáo
về lao động và phân tích tình hình biến động về lao động trong doanh nghiệ
p
hàng tháng, quý, năm theo yêu cầu quản lý lao động của doanh nghiệp và của
cơ quan quản lý cấp trên.
+
Hạch toán sử dụng thời gian lao động:
Thời gian lao động của nhân viên cũng có ý nghĩa quan trọng trong
việc thực hiện nhiệm vụ SXKD của doanh nghiệp. Để phản ánh kịp thời, chính
SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
12
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
xác tình hình sử dụng thời gian lao động, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao
động của CNV trong doanh nghiệp, kế toán sử dụng “Bảng chấm công”.
Bảng chấm công được lập hàng tháng cho từng tổ, phòng, ban,…và do
người phụ trách bộ phận hoặc người được ủy quyền căn cứ vào tình hình thực
tế của bộ phận mình để chấm công cho từng người trong ngày theo các ký hiệu
quy định trong chứng từ. Cuối tháng ng
ười chấm công và phụ trách bộ phận
ký vào Bảng chấm công và chuyển bảng chấm công cùng các chứng từ có liên
quan (Phiếu nghỉ hưởng BHXH, Phiếu báo làm thêm giờ, Phiếu điều tra tai
nạn lao động…) về bộ phận kế toán kiểm tra, đối chiếu quy ra công để tính
lương và BHXH.
Bảng chấm công nhằm theo dõi ngày công thực tế làm việc, nghỉ việc,
ngừng việc, nghỉ BHXH,… để có căn cứ tính trả lương, BHXH trả
thay lương
cho từng người và quản lý lao động trong đơn vị, vì vậy Bảng chấm công phải
được treo công khai tại nơi làm việc để công nhân viên có thể thực hiện kiểm
tra, giám sát việc chấm công hàng ngày, tham gia ý kiến vào công tác quản lý
và sử dụng thời gian lao động
Bảng chấm công là tài liệu quan trọng để tổng hợp, đánh giá phân tích
tình hình sử dụng thời gian lao động, là cơ sở để kế toán tính toán kết quả lao
động và tiề
n lương cho công nhân viên.
+
Hạch toán kết quả lao động:
Kết quả lao động của công nhân viên trong doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố: thời gian lao động, trình độ thành thạo, tinh thần thái
độ, phương tiện sử dụng,…Khi đánh giá, phân tích kết quả lao động của công
nhân viên phải xem xét một cách đầy đủ các nhân tố trên.
Kết quả lao động của công nhân viên trong doanh nghiệp được phản
ánh vào các chứng từ: Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành,
Hợp
đồng giao khoán.
Tùy theo loại hình, đặc điểm sản xuất, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
mà doanh nghiệp sẽ chọn sử dụng chứng từ thích hợp để phản ánh kịp thời,
đầy đủ, chính xác kết quả lao động.
Căn cứ chứng từ hạch toán kết quả lao động kế toán lập Sổ tổng hợp
kết quả lao động nhằm tổng hợp kết quả
lao động của từng cá nhân, bộ phận
và toàn đơn vị làm cơ sở cho việc tính toán năng suất lao động và tính tiền
lương theo sản phẩm cho công nhân viên.

SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
13
Phân Tích Kế Toán Tiền Lương Tại Công Ty TNHH LD CNTP An Thái
3.2 Tính và thanh toán lương, trợ cấp bảo hiểm xã hội:
Hàng tháng, trên cơ sở tài liệu hạch toán về thời gian lao động và kết quả
lao động cũng như chế độ, chính sách về lao động - tiền lương và bảo hiểm xã
hội mà Nhà nước ban hành, kế toán tiến hành tính tiền lương và trợ cấp bảo
hiểm xã hội phải trả cho công nhân viên. Sau khi có kết quả tính toán tiền
lương phải trả cho từng người,
được tổng hợp theo từng bộ phận và phản ánh
vào “Bảng thanh toán tiền lương” lập cho bộ phận đó.
Trường hợp CNV được hưởng trợ cấp BHXH, thì căn cứ vào số ngày
thực tế nghỉ việc được hưởng trợ cấp BHXH phản ánh trên các chứng từ hạch
toán lao động liên quan như: “Phiếu nghỉ hưởng BHXH”, “Biên bản điều tra
tai nạn lao động”… để tính toán lập “Bảng thanh toán b
ảo hiểm xã hội”. Bảng
thanh toán BHXH được lập cho từng đơn vị sử dụng lao động hoặc lập chung
cho toàn doanh nghiệp căn cứ vào kết quả tính trợ cấp BHXH của từng người.
Bảng thanh toán tiền lương của các bộ phận trong doanh nghiệp là cơ sở
để chi trả, thanh toán lương cho người lao động, và là cơ sở để kế toán tổng
hợp, phân bổ tiền lương và tính trích bảo hiể
m xã hội, bảo hiểm y tế và kinh
phí công đoàn - Lập Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Việc trả lương cho CNV trong doanh nghiệp thường được tiến hành 2 lần
trong tháng, lần đầu doanh nghiệp tạm ứng lương cho CNV theo tỷ lệ nhất
định căn cứ vào lương cấp bậc. Sau khi tính lương và các khoản phải trả khác
cho CNV trong tháng doanh nghiệp tiến hành thanh toán số tiền CNV còn
được lĩnh trong tháng đó sau khi trừ các kho
ản khấu trừ vào lương như
BHXH, BHYT và các khoản khác.
Các khoản phải nộp về BHXH, BHYT và KPCĐ, hàng tháng hoặc quý
doanh nghiệp có thể lập ủy nhiệm chi để chuyển tiền hoặc chi tiền mặt để nộp
cho cơ quan quản lý theo quy định.
Đối với CNV nghỉ phép hàng năm, theo chế độ quy định thì công nhân
trong quá trình nghỉ phép đó vẫn được hưởng lương đầy đủ như thời gian đi
làm việc. Tiề
n lương nghỉ phép phải được tính vào CPSX một cách hợp lý vì
nó ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm. Trong trường hợp doanh nghiệp không
bố trí được cho CN nghỉ phép đều đặn trong năm, để đảm bảo cho giá thành
không bị đột biến, tiền lương nghỉ phép của CN được tính vào CPSX thông
qua phương pháp trích trước theo kế hoạch. Cuối năm sẽ tiến hành điều chỉnh
số trích trước theo kế hoạch cho phù hợp vớ
i số thực tế tiền lương nghỉ phép
SVTH: Lê Thị Thùy Trang Trang
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét