hoặc số lao động trung bình hàng năm khơng q 300 ngưòi”. Căn cứ vào tình hình
kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong q trình thực hiện các biện
pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn
và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu trên “.
Theo quy định trong nghị định 90/CP thì các DNVVN bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp: Cơng ty
cổ phần, cơng ty trách nhiệm hữu hạn, cơng ty cổ phần, cơng ty hợp danh và doanh
nghiệp tư nhân.
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước:
các doanh nghiệp nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng kí theo nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày
03/2/2000 của chính phủ về đăng kí kinh doanh
1.1.2 Đặc điểm của DNVVN
1.1.2.1 Những điểm mạnh.
- Năng động, linh hoạt, tự do, sáng tạo trong kinh doanh:
Nhờ quy mơ vừa nhỏ, mơ hình tổ chức quản lí sản xuất giản đơn nên những
doanh nghiệp này rất năng động, linh hoạt, dễ chuyển hướng sản xuất kinh doanh,
đi vào những ngành nghề khác khi cảm thấy lĩnh vực đó có lợi hơn.
Các DNVVN cũng dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị cơng nghệ, thích
ứng với cuộc cách mạng khoa học cơng nghệ hiện đại. Một lợi thế đáng kể nữa là
DNVVN khi chuyển địa điểm sản xuất khơng gặp nhiều khó khăn như doanh
nghiệp lớn. Trong khi đó các DNVVN lại có thể nắm bắt được cả những u cầu
nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương. Điều này càng làm cho DNVVN khai
thác hết năng lực của mình, đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất.
- Có thể nhanh chóng đổi mới thiết bị cơng nghệ, thích ứng với cuộc cách
mạng khoa học cơng nghệ hiện đại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Khác với các doanh nghiệp lớn, DNVVN với u cầu vốn bổ sung khơng
nhiều và giảm được thiệt hại trong thay đổi vốn cố định khi có sự cạnh tranh phải
chuyển sang kinh doanh ngành khác nên DNVVN dễ dàng và nhanh chóng trong
việc đổi mới thiết bị cơng nghệ khi cần thiét.
Trước khi bước vào hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNVVN chỉ cần
một lượng vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao mà lại thu hồi vốn nhanh. Chính vì
vậy mà nó hấp dẫn nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu
vực này
Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lí ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt ,
cơng tác điều hành mang tính trực tiếp. Bộ máy tổ chức của các DNVVN thường
đơn giản gọn nhẹ. Các quyết định được thực hiện nhanh, cơng tác kiểm tra giám sát
được thực hiện khá chặt chẽ, khơng phải qua nhiều khâu trung gian, vì thế mà tiết
kiệm được chi phí quản lí doanh nghiệp .
1.1.2.2 Những bất lợi.
- Nguồn tài chính hạn chế
Đây là nhược điểm lớn nhất, dễ thấy nhất và đáng quan tâm nhất của các
DNVVN. Trong khi các doanh nghiệp lớn có thể nhận được nhiều các nguồn tài
chính khác nhau từ ngân sách nhà nước cấp, từ viện trợ, vốn tín dụng thương mại,
tín dụng ngân hàng thì các DNVVN lại gặp nhiều khó khăn trong vấn đề này. Bởi
lẽ, hơn 90% các DNVVN ở nước ta là thuộc các thành phần kinh tế ngồi quốc
doanh nên vốn tự có khơng thể do ngân sách nhà nước cấp được. Hầu hết nguồn
vốn ban đầu của DNVVN đều là vốn tự có của chủ doanh nghiệp hay của người
thân, bạn bè của họ. Vốn huy động từ bên ngồi như từ các tổ chức tín dụng là rất
hạn chế. Phần lớn các ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tài chính khác
thường e ngại khơng muốn cho DNVVN vay vốn bởi họ chưa có q trình kinh
doanh uy tín và chưa tạo lập được khả năng trả nợ. Bởi vậy, quy mơ vốn đầu tư của
các doanh nghiệp này nhỏ bé, hạn chế cũng là điều dễ hiểu.
- Trình độ quản lí yếu kém, tay nghề lao động chưa cao.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Tại các DNVVN, các DNVVN, cán bộ quản lí hay chủ doanh nghiệp đều
trưởng thành từ thực tế và kinh nghiệm từ bạn bè, chỉ có một tỷ lệ nhỏ được đào tạo
qua các trường lớp chính quy về quản trị doanh nghiệp quản lí kinh tế . Họ thành
lập doanh nghiệp chủ yếu do kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động hay do có sẵn
mối quan hệ với các kênh cung ứng với thị trường… Có thể thấy các chủ doanh
nghiệp này thường yếu về trình độ quản lí điều hành doanh nghiệp theo thói quen,
chủ nghĩa gia đình…, kỹ năng chun mơn và quản lí theo định hướng thị trường
hiện đại còn thiếu.
Người lao động trong DNVVN có tay nghề kém, ít qua trường lớp đào tạo,
chủ yếu do được truyền nghề, cha truyền con nối… Bình qn số lao động phổ
thơng, trình độ tay nghề giản đơn, chưa được đào tạo chiếm khoảng 60-70%. Hầu
hết người lao động trong các DNVVN là người lao động ở vùng q nơng thơn ít
có cơ hội học tập, còn những nguời lao động có trình độ, có tay nghề, được đào tạo
từ những trường lớp cao đẳng, đại học, trưòng dạy nghề ra thưòng chỉ làm việc
trong một thời gian ngắn để lấy kinh nghiệm rồi sau đó bỏ việc để tìm một vị trí tốt
hơn ở doanh nghiệp lớn khác.
- Cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ thiết bị cơng nghệ thường yếu kém lạc hậu.
Do nguồn vốn nhỏ bé, thơng thường các DNVVN chỉ sử dụng những cơng
nghệ trung bình, đơn giản nên năng suất lao động thấp làm giảm khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp . Rất ít DNVVN được trang bị cơng nghệ hiện đại trừ khi
liên doanh với nước ngồi. Hơn nữa, các DNVVN rất khó có thể vay được một
khoản tín dụng trung dài hạn cần thiết để nâng cấp cơng nghệ. Trong những năm
qua, do sức ép của thị trường và những tác động của cơ chế quản lí kinh tế, các
DNVVN đã có sự đổi mới cơng nghệ ở mức độ nhất định . Song nhìn chung, thiết
bị cơng nghệ của các DNVVN hiện vẫn còn lạc hậu và ở trình độ thấp, hiệu quả
chưa cao, đang gặp nhiều khó khăn đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Khả năng tiếp cận thơng tin và tiếp thị của các DNVVN bị hạn chế rất
nhiều.
- Thị trường của DNVVN thường nhỏ bé và khơng ổn định, lại phải chia sẻ
với nhiều doanh nghiệp khác.
Trong những khó khăn trên, nguồn tài chính hạn hẹp là đặc điểm lớn nhất và
là ngun nhân chính dẫn đến các bất lợi khác của DNVVN. Và thực lực kinh tế
yếu nên khả năng vay vốn lại càng khó khăn . Bên cạnh đó mơi trường thể chế,
chính sách kinh tế còn nhiều bất cập , khơng tạo điều kiện bảo vệ và bảo đảm cho
sự phát triển của khu vực này, trong đó cơ chế chính sách về tín dụng ngân hàng ,
kể cả những vấn đề cụ thể về nghiệp vụ ngân hàng còn đang cản trở việc vay vốn
của các DNVVN. Do vậy, các DNVVN còn đang gặp nhiều khó khăn và chưa được
hỗ trợ nhiều từ phía nhà nước như những doanh nghiệp khác.
1.1.3. Vai trò.
DNVVN đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân với nhiều hình thức
đa dạng phong phú hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế . Cùng với những
lợi thế là khơng đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, quản lí dơn giản , dễ thay đổi linh hoạt
theo thị trường, các DNVVN đã và đang phát huy những mặt tích cực và khẳng
định được vị thế của mình trong nền kinh tế. Vai trò to lớn của DNVVN thể hiện ở
các mặt sau:
- DNVVN góp phần tạo ra việc làm cho người lao động.
Đây là một ưu điểm của DNVVN và là một trong những ngun nhân chính
khiến Đảng và Nhà nước phải đặc biệt quan tâm đến việc phát triển DNVVN ở
nước ta hiện nay. Các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển có số
lượng lớn các DNVVN, loại hình doanh nghiệp này giải quyết việc làm cho khoảng
70% lực lượng lao động.
Ở nước ta, việc làm vẫn đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết . Mặc dù
chính phủ và địa phương đã có những cố gắng trong việc giảm dân số cũng như tạo
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
việc làm nhưng nhu cầu về việc làm vẫn tăng lên khoảng 3 triệu người mỗi năm.
Họ có thể là những người mới gia nhập vào lực lượng lao động cũng có thể là
những người lao động dư ra từ q trình sắp xếp cổ phần hố các doanh nghiệp nhà
nước hay người lao động từ nước ngồi trở về. Số lượng này vẫn ngày một tăng lên
trong khi đó khả năng thu hút lao động mới vào các doanh nghiệp mới rất hạn chế.
Vì vậy, một việc làm tại các DNVVN sẽ là một giải pháp tốt cho người lao động.
- DNVVN có thể tận dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả. Đó là các
nguồn lực: nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn ngun vật liệu
Vốn là một nhân tố cơ bản trong q trình sản xuất và có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như nền kinh tế . Dường như khi nền
kinh tế đang thiếu vốn thì nguồn vốn nhàn rỗi trong dân còn rất nhiều. Sự ra đời và
phát triển của DNVVN với nhiều loại hình như DNNN, cơng ty tư nhân , cơng ty
cổ phần, cơng ty TNHH, …đã khơi dậy được rất nhiều khoản vốn đang nằm phân
tán trong dân cư. Do quy mơ vừa và nhỏ, dễ đi sâu vào các vùng, miền, hơn nữa
u cầu về số lượng vốn ban đầu khơng nhiều nên các DNVVN tỏ ra rất hiệu quả
trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ , nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư. Tuy
lượng vốn thu hút vào mỗi doanh nghiệp ít nhưng do số lượng DNVVN khá lớn
nên tổng lượng vốn thu hút vào kinh doanh ngày càng tăng , góp phần tăng cường
đầu tư phát triển kinh tế , xã hội.
Về nguồn nhân lực và ngun vật liệu cũng là những yếu tố cơ bản của một
doanh nghiệp. Các DNVVN có thể huy động các nguồn nhân lực ngun nhiên vật
liệu ngay tại từng địa phương đưa vào sản xuất, phát triển kinh tế vùng, khai thác
hợp lí có hiệu quả những nguồn lực sẵn có tại chỗ.
-Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta, đặc biệt là khu vực nơng
thơn.
Sự phát triển của các DNVVN đã thúc đẩy nhanh q trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở nước ta, đặc biệt với khu vực nơng thơn. Sự phát triển của các
DNVVN ở nơng thơn đã thúc đẩy nhanh q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại, dịch vụ phát triển , xố dần tình trạng
thuần nơng và độc canh ở nơng thơn. Sự phát triển của các DNVVN cũng góp phần
làm tăng tỉ trọng khu vực cơng nghiệp dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực
nơng nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Phát triển các DNVVN còn có tác
dụng làm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, thành phần kinh tế . Các doanh nghiệp
này chủ yếu là kinh tế ngồi quốc doanh được tăng lên nhanh chóng làm cân đối
các thành phần kinh tế . Ngồi ra, các doanh nghiệp còn được phân bố đều khắp
mọi nơi, từ thành thị đến nơng thơn, từ đồng bằng đến miền núi. Như vậy, sự linh
hoạt, năng động của các DNVVN đã hình thành một cơ cấu kinh tế có tính đổi mới
và thích ứng với nền kinh tế , tạo nên một cơ cấu ngành , thành phần , vùng hợp lí
-Đáp ứng nhu cầu về hàng hố dịch vụ đa dạng của nền kinh tế
Các DNVVN hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, từ sản
xuất cơng nghiệp , đến xây dựng , thương mại , dịch vụ, thủ cơng mĩ nghệ. Do quy
mơ vừa nhỏ, các DNVVN có thể tồn tại ở khắp nơi, kể cả vùng nơng thơn , vùng
sâu vùng xa hay nó có thể hoạt động trong những lĩnh vực , những nơi mà mà các
doanh nghiệp lớn còn bỏ ngỏ. Do vậy, nó sản xuất ra nhiều mặt hàng , ở rất nhiều
nơi , đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng , sản xuất của mọi người dân, mọi ngành nghề.
-Đóng góp một phần đáng kể vàp tăng trưởng kinh tế của cả nước
DNVVN là bộ phận có đóng góp khơng nhỏ vào GDP cả nước. Theo số liệu
thống kê mỗi năm DNVNN đóng góp khoảng 26-27% GDP cả nước. Đây là một
con số rất có ý nghĩa, chứng tỏ các DNVVN đóng góp một phần quan trọng vào sự
gia tăng thu nhập quốc dân và nếu khu vực này được quan tâm hỗ trợ đúng mức
của Nhà nước , của các tổ chức kinh tế xã hội thì khả năng đóng góp vào tăng
trưởng kinh tế xã hội còn lớn hơn nữa.
-Góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường.
Do lợi thế của quy mơ vừa và nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong
hoạt động kinh doanh, các DNVVN có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển
hướng kinh doanh , đổi mới cơng nghệ, trang thiết bị… Đồng thời lượng DNVVN
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
khá lớn , ngày càng tăng làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng chất lượng, số lượng,
chủng loại hàng hố dịch vụ. Do đó, nó làm cho nền kinh tế năng động hơn, chuyển
biến nhanh nhạy, đáp ứng kịp thời những thay đổi của nền kinh tế trong nước, đồng
thời hồ nhịp được với sự biến động, phát triển của nền kinh tế thế giới.
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .
1.2.1 Sự hình thành và phát triển
Lịch sử hình thành và phát triển của của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát
triển của nền sản xuất hàng hố. Q trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi
sự phát triển của ngân hàng , đến lượt mình , sự phát triển của hệ thống ngân hàng
trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp
vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng . Hình thức ngân hàng đầu tiên – ngân
hàng của những thợ vàng , hoặc của những kẻ cho vay nặng lãi – thực hiện cho vay
với các cá nhân , chủ yếu là những người giàu như quan lại , địa chủ … nhằm mục
đích phục vụ tiêu dùng . Do lợi nhuận từ cho vay rất cao , nhiều chủ ngân hàng đã
lợi dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi ( lưu thơng thay vàng hoặc bạc), phát hành
chứng chỉ tiền gửi khống để vay . Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ
mất khả năng thanh tốn và phá sản.
Sự sụp đổ của các ngân hàng gây khó khăn cho hoạt động thanh tốn, ảnh
hưởng xấu tới hoạt động bn bán . Hơn nữa , lãi suất cao nên khơng thể sử dụng
nguồn vay này. Trước tình hình đó , nhiều nhà bn tự thành lập ngân hàng , gọi là
ngân hàng thương mại . Như vậy ngân hàng thương mại được hình thành xuất phát
từ tư bản thương nghiệp , và gắn liền với q trình ln chuyển của tư bản thương
nghiệp. Ngân hàng thương mại cũng thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân
hàng như huy động tiền gửi , thanh tốn . cất giữ hộ và cho vay .
Tuy nhiên , điểm khác biệt giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng thợ
vàng trước đó là ngân hàng thương mại chủ yếu cho các nhà bn vay dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu. Đây là các khoản cho vay ngắn hạn , dựa trên q
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
trình ln chuyển của hàng hố với lãi suất phải thấp hơn lợi nhuận được tạo ra do
sử dụng tiền vay. Để đảm bảo an tồn , ngân hàng thương mại ban đầu khơng cho
vay đối với người tiêu dùng, khơng cho vay trung và dài hạn, khơng cho vay đối
với nhà nước .
Cùng với sự phát triển kinh tế và cơng nghệ , hoạt động ngân hàng đã có
những bước tiến rất nhanh. Trước hết, đó là sự đa dạng các loại hình ngân hàng và
các hoạt động ngân hàng . Từ các ngân hàng tư nhân , q trình tích tụ và tập trung
vốn trong ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần . Q trình gia tăng
vai trò quản lí Nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra các ngân hàng
thuộc sở hữu nhà nước , các ngân hàng liên doanh , các tập đồn ngân hàng phát
triển mạnh đã phát triển mạnh trong những năm cuối thế kỉ 20. Nhiều nghiệp vụ
truyền thống vẫn được giữ vững bên cạnh các nghiệp vụ mới đang ngày càng phát
triển . Ngân hàng thương mại từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn là chủ yếu đã mở rộng
cho vay dài hạn , cho vay đầu tư vào bất động sản . Nhiều ngân hàng mở rộng cho
vay tiêu dùng , kinh doanh chứng khốn , cho th Các hình thức huy động vốn
cũng ngày càng phong phú . Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa ra chằm
đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi ,
các ngân hàng đã mở rộng các hình thức vay như vay ngân hàng trung ương , vay
các ngân hàng khác . Cơng nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt
động cơ bản của ngân hàng . Thanh tốn điện tử đang dần thay thế thanh tốn thủ
cơng, đẩy nhanh tốc độ , tính thuận tiện, an tồn trong thanh tốn. Các loại thẻ đang
thay thế tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24 giờ , dịch vụ ngân hàng tại nhà đang tạo
ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng.
1.2.2. Chức năng của ngân hàng thương mại .
Ngân hàng thương mại có ba chức năng chính sau:
-Trung gian tài chính
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế : (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi
cho tiêu dùng và đầu tư vượt q thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ xung
vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu , tức là thu nhập hiện tại
của họ lớn các khoản chi tiêu cho hành hố , dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết
kiệm . Ngân hàng là trung gian có chức năng chuyển tiền từ nhóm (1) sang nhóm
(2) . Do chun mơn hóa ngân hàng có thể làm cho chi phi giao dịch giảm hơn
nhiều so với quan hệ tài chính trực tiếp
-Trung gian thanh tốn
Ngân hàng thương mại là trung gian thanh tốn lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh tốn giá trị hàng
hố và dịch vụ. Để việc thanh tốn được nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi
phí, ngân hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh tốn như thanh tốn bằng
séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh tốn điện tử ,
kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực
hiện thanh tốn bù trừ với nhau thơng qua ngân hàng Trung ương hoặc thơng qua
các trung tâm thanh tốn. Cơng nghệ thanh tốn qua ngân hàng càng đạt hiệu quả
cao khi quy mơ sử dụng cơng nghệ hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà
quản lí tìm cách áp dụng rộng rãi . Nhiều hình thức thức thanh tốn được chuẩn hóa
góp phần tạo tính thống nhất trong thanh tốn khơng chỉ giữa các ngân hàng trong
một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên tồn thế giới. Các trung tâm thanh
tốn quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh tốn qua ngân hàng ,
biến ngân hàng trở thành trung tâm thanh tốn quan trọng và có hiệu quả , phục vụ
đắc lực cho nền kinh tế tồn cầu.
-Chức năng tạo tiền.
Q trình tạo tiền của ngân hàng thương mại được thực hiện thơng qua hoạt
tín dụng và thanh tốn trong tồn bộ hệ thống ngân hàng . Đó là khả năng biến mức
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi
thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh tốn qua nhiều ngân hàng .
1.2.3 Các nghiệp vụ chủ yếu.
Ngân hàng thương mại có các nghiệp vụ chủ yếu sau:
- Mua bán ngoại tệ.
- Nhận tiền gửi
- Cho vay
- Bảo quản vật có giá
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh tốn.
- Quản lí ngân quỹ
- Tài trợ hoạt động của chính phủ
- Bảo lãnh
- Cho th các thiết bị trung và dài hạn.
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn
- Cung cấp các dịch cụ mơi giới đầu tư chứng khốn
- Cungcấp các dịch vụ bảo hiểm
- Cung cấp các dịch vụ đại
1.3 HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI
CÁC DNVVN
1.3.1 Các nguồn vốn huy động của DNVVN và sự cần thiết của nguồn vốn vay
ngân hàng.
Trong mọi doanh nghiệp , vốn đều gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và nợ ,
mỗi bộ phận này được cấu thành bởi nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất
của chúng. Tuỳ theo mỗi loại hình doanh nghiệp và đặc điểm cụ thể , mỗi doanh
nghiệp có thể có các phương thức huy động vốn khác nhau.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét