Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Luận văn thạc sĩ về đầu tư phát triển đội tàu chở xăng dầu của tổng công ty xăng dầu VN
5
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận về vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế kết hợp với phân tích
thực trạng của đội tàu chở xăng dầu hiện nay của Tổng công ty xăng dầu Việt
nam, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đội tàu chở xăng dầu
vững mạnh góp phần chủ động vận tải xăng dầu từ nước ngoài về Việt nam, tiết
kiệm một lượng ngoại tệ tiền cước không phải trả nước ngoài, đổi mới đội tàu chở
xăng dầu trong nước, tăng khả năng cạnh tranh với các tàu nước ngoài, đáp ứng
nhu cầu tăng trưởng và bình ổn thò trường xăng dầu trong nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài phân tích thực trạng tình hình vận tải xăng dầu trong nước nhưng tập trung
đi sâu vào tình hình thò trường vận tải, nhu cầu và khả năng đội tàu chở xăng dầu
của Tổng công ty xăng dầu Việt nam để thực hiện chương trình đầu tư phát triển
đội tàu.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghóa duy vật biện chứng
các thành tựu của kinh tế học hiện đại để làm cơ sở lý luận
Bên cạnh đó những phương pháp kinh tế phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh,
phân tích kinh tế tài chính, thẩm đònh dự án đầu tư …cũng được sử dụng để làm rõ
bản chất của từng nội dung nghiên cứu.
5. Nội dung nghiên cứu:
Nội dung của đề tài bao gồm 3 chương
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ
Chương II: ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỘI TÀU CHỞ XĂNG DẦU CỦA TỔNG
CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM
Chương III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ
1.1 ĐẦU TƯ:
1.1.1 Khái niệm:
Đầu tư là một khái niệm rất rộng bao gồm từ việc mua sắm tài sản, xây dựng
công trình đến các chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển được tiến hành bởi
nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp hoặc cá nhân.
• Theo quan điểm kinh tế thì đầu tư là bỏ một vốn cố đònh tham gia vào hoạt
động của doanh nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp.
• Theo quan điểm tài chính thì đầu tư là làm cho bất động một số vốn nhằm tạo
ra tiền lãi trong nhiều thời kỳ kế tiếp. Khái niệm này ngoài việc tạo ra các tài
sản có, còn bao gồm các chỉ tiêu khác không tham gia trực tiếp vào hoạt động
của doanh nghiệp ví dụ như: nghiên cứu, đào tạo nhân viên… Ngoài ra quan
điểm tài chính hiện đại còn xem đầu tư như là sự hy sinh giá trò chắc chắn ở
thời điểm hiện tại để đổi lấy khả năng không chắc chắn giá trò trong tương lai.
Khái niệm đầu tư này đề cập đến 3 yếu tố là yếu tố thời gian, yếu tố rủi ro, và
yếu tố lợi nhuận. Đầu tư ở đây được đề cập trên một bình diện rất rộng bao
gồm cả đầu tư tài chính và đầu tư thực. Giá trò trong khái niệm này có thể hiểu
là những giá trò có thể đònh lượng được( vốn, tài sản…) và cả những giá trò
không thể đònh lượng được (con người, hiệu quả xã hội…).
• Theo quan điểm kế toán thì đầu tư gắn liền với việc phân bổ một khoản chi
vào trong các khoản mục của bản cân đối kế toán.
Tuy có nhiều quan điểm về đầu tư nhưng có thể hiểu đơn giản “ đầu tư là
một hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lợi trong tương lai”. Hoạt
7
động bỏ vốn có thể thực hiện trong một thời gian ngắn ( đầu tư ngắn hạn) và cũng
có thể thực hiện trong một thời gian dài ( đầu tư dài hạn). Các đầu tư ngắn hạn
thường không tác động nhiều đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngược lại
những hoạt động đầu tư dài hạn làm ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và thay đổi cơ cấu kinh tế
nói chung.
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư:
Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn và tài nguyên để sản xuất kinh doanh
trong một thời gian để thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Do đó, hoạt động
đầu tư có những đặc điểm chính như sau:
- Có vốn: vốn có thể là tiền; có thể là các tài sản khác như máy móc thiết bò nhà
xưởng, giá trò quyền sở hữu công nghiệp, dòch vụ kỹ thuật…;vốn có thể là vốn
nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn vay, vốn cổ phần…
- Thời gian: thường từ 2 năm trở lên có thể đến 50 năm nhưng tối đa không quá
70 năm. Các hoạt động ngắn hạn thường trong một năm tài chính không gọi là
đầu tư. Do đặc điểm thời gian dài, nên đòi hỏi người lập dự án phải có tầm nhìn
xa và phải nhận thức rằng đầu tư là một hoạt động dài hơi, có nhiều rủi ro. Vì
vậy không thể bỏ qua quy luật thay đổi giá trò của đồng tiền theo thời gian dưới
tác động của lãi suất nguồn vốn. Nói một cách khác các tính toán đầu tư đều
dựa trên dòng tiền, bằng cách tính hiện giá của dòng tiền đầu tư và thu hồi.
- Lợi ích: biểu hiện trên hai mặt lợi ích tài chính và lợi ích kinh tế. Lợi ích tài
chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh
hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng. Dựa vào lợi ích tài chính, nhà
đầu tư, kể cả trường hợp nhà đầu tư là Nhà nước, có thể ra quyết đònh có đầu tư
hay không. Dựa vào lợi ích kinh tế xã hội , Nhà nước sẽ ra được quyết đònh có
cấp giấy phép đầu tư cho nhà đầu tư không phải là Nhà nước hay không.
8
1.1.3 Các loại đầu tư:
• Đầu tư trực tiếp: là đầu tư mà người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn là
một chủ thể. Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trong nước hoặc đầu tư của nước
ngoàitại Việt nam, theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
• Đầu tư gián tiếp: là đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn không phải
là một chủ thể. Trường hợp cần quan tâm nhất là đầu tư gián tiếp bằng vốn của
nước ngoài. Đó là loại vốn hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA), vốn của nhà
nước vay của nước ngoài với lãi suất ưu đãi.
• Đầu tư trong nước: là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt nam của
các tổ chức, công dân Việt nam, Việt nam đònh cư tại nước ngoài, người nước
ngoài cư trú lâu dài ở Việt nam. Đầu tư trong nước chòu sự điều chỉnh của luật
khuyến khích đầu tư trong nước.
• Đầu tư nước ngoài tại Việt nam: là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động
đầu tư theo quy đònh của luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
• Đầu tư ra nước ngoài: là loại đầu tư của các tổ chức hoặc cá nhân của nước này
hoặc nước khác.
• Đầu tư mới: là đầu tư để xây dựng các công trình, nhà máy, thành lập mới các
công ty, dòch vụ mới. Đặc điểm của loại đầu tư mới là không phải trên cơ sở
những cái hiện có phát triển thêm.
• Đầu tư theo chiều sâu: là loại đầu tư nhằm khôi phục, cải tạo, nâng cấp, trang
bò lại, hiện đại hóa… các đối tượng hiện có.
• Đầu tư phát triển: là đầu tư trực tiếp nhằm tăng thêm giá trò tài sản, tạo ra năng
lực mới, hoặc cải tạo mở rộng, nâng cấp năng lực hiện có vì mục tiêu phát
triển, có tác dụng quan trọng trong việc tái sản xuất mở rộng.
• Đầu tư dòch chuyển: là đầu tư trực tiếp nhằm dòch chuyển quyền sở hữu giá trò
tài sản. Lúc này không có sự gia tăng giá trò tài sản. Loại này có ý nghóa quan
9
trọng trong việc hình thành, phát triển thò trường vốn, thò trường chứng khoán,
thò trường hối đoái… hỗ trợ cho đầu tư phát triển.
1.1.4 Vai trò của đầu tư:
+ Đầu tư là phương tiện để chuyển dòch và phát triển cơ cấu kinh tế: các dự án đầu
tư mới đóng vai trò to lớn trong chuyển dòch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
+ Đầu tư giải quyết quan hệ cung cầu về vốn trong phát triển: Việt nam là một
nước đang phát triển, với thu nhập bình quân hàng năm đầu người còn thấp, trong
khi trình độ trung bình của các nước đang phát triển cao hơn nhiều lần. Giống như
mọi quốc gia đang phát triển khác, Việt nam có ba cái thiếu là: thiếu vốn, thiếu
công nghệ và thiếu quản lý. Do đó, đẩy mạnh hoạt động đầu tư, chính là tăng
cường việc phát huy mọi tiềm năng về vốn của các thành phần kinh tế ở trong
nước, thu hút nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát
triển.
+ Đầu tư góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực mới cho phát
triển: các dự án đầu tư thúc đẩy quá trình hình thành các công ty, nhà máy, xí
nghiệp, dây chuyền sản xuất, diện tích canh tác nông nghiệp, các trung tâm thương
mại, khách sạn du lòch mới hay được nâng cấp cải tạo, đặc biệt tạo ra những năng
lực sản xuất mới, tạo ra nhiều giá trò gia tăng cho xã hội, thúc đẩy sự nghiệp phát
triển.
+ Đầu tư giải quyết quan hệ cung cầu về sản phẩm, dòch vụ trên thò trường, cân đối
quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng trong xã hội: theo quy luật của kinh tế thò
trường, vận động có sự quản lý vó mô, các dự án đầu tư sẽ điền đầy các khoản
trống về sản phẩm hàng hóa, dòch vụ mà nhu cầu đòi hỏi. Dự án đầu tư cung cấp
thêm nhiều sản phẩm, dòch vụ với nhãn hiệu mới, kiểu dáng mới, chất lượng và
giá thành đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
+ Đầu tư góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân
dân, cải biến bộ mặt kinh tế xã hội của đất nước: đây là hiệu quả tất yếu của việc
10
phát huy tiềm năng về vốn, tăng năng lực sản xuất và dòch vụ, tạo ra ngày càng
nhiều sản phẩm, dòch vụ cho xã hội; đầu tư góp phần nâng cao đời sống vật chất
tinh thần cho nhân dân, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của đất nước; thông qua
các chỉ tiêu: giá trò gia tăng cho nền kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, đầu tư
tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, phát triển thêm nhiều ngành nghề,
phát triển đồng đều các vùng lãnh thổ.
1.2 DỰ ÁN ĐẦU TƯ:
1.2.1 Khái niệm:
Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở
rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất đònh nhằm đạt được sự tăng trưởng về khối
lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dòch vụ nào đó trong
một khoảng thời gian xác đònh.
Khái niệm trên cho thấy rằng dự án đầu tư chủ yếu là những đề xuất cho
tương lai chưa phải đã thực hiện được trong thực tế. Nhiệm vụ chủ yếu của dự án
là đưa ra các đề xuất phù hợp với luật pháp, nâng cao hiệu qua của đối tượng đầu
tư. Những đề xuất này nhằm giải quyết những vấn đề sau:
- Lựa chọn sản phẩm dòch vụ .
- Lựa chọn công suất của dự án.
- Lựa chọn công nghệ thiết bò.
- Lựa chọn khu vực đòa điểm.
- Lựa chọn hình thức đầu tư, tổ chức quản trò thực hiện dự án.
- Phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư , an toàn đầu tư.
Để có những đề xuất đúng đắn ta cần xem xét các yếu tố sau đây:
• Đầu vào: bao gồm tiền vốn, đất đai, nguyên vật liêu, công nghệ thiết bò… có thể
gọi chung là tài nguyên và các nguồn nhân lực.
• Đầu ra: bao gồm các sản phẩm cụ thể (các vật phẩm), các sản phẩm trừu tượng
( các thông tin), các dòch vụ…
11
• Hoạch đònh: là việc đề ra các phương án khả năng, phân tích, tính toán, so sánh
các phương án để cuối cùng lựa chọn được phương án tối ưu. Cơ sở của việc
hoạch đònh là các phương pháp phân tích đònh tính kết hợp hài hòa với các
phương pháp phân tích đònh lượng.
• Luật pháp: đảm bảo dự án thực hiện theo đúng pháp luật hiện hành.
• Thời hạn đầu tư: là thời gian hoàn thành dự án. Mọi tính toán trong dự án đều
phải phù hợp với thời hạn đầu tư.
1.2.2 Các tiêu chuẩn đánh giá dự án đầu tư:
Đầu tư liên quan đến rủi ro và thời gian. Sự hy sinh tại thời điểm hiện tại là
điều chắc chắn, còn lại thời gian và rủi ro là không chắc chắn. Ở một số trường
hợp yếu tố thời gian là quan trọng nhất chẳng hạn như đầu tư vào trái phiếu kho
bạc. Trong một số trường hợp khác yếu tố rủi ro lại quan trọng như tham gia mua
xổ số. Cũng có các trường hợp cả hai yếu tố này quan trọng như nhau như đầu tư
vào cổ phần. Chính vì thế mà chúng ta có rất nhiều tiêu chuẩn đểâ đánh giá và lựa
chọn dự án đầu tư, bốn tiêu chuẩn thường được sử dụng nhất đó là: tiêu chuẩn hiện
giá thuần (NPV), tiêu chuẩn tỷ suất sinh lợi nội bộ (IRR), tiêu chuẩn tỉ suất sinh lợi
(PI) và tiêu chuẩn thời gian thu hồi vốn (PP) để lựa chọn và đánh giá dự án đầu tư.
Ngoài ra để lựa chọn chính xác phương án thẩm đònh ta cũng cần chú ý phân biệt
các loại dự án: các dự án độc lập lẫn nhau, các dự án phụ thuộc lẫn nhau và các dự
án loại trừ lẫn nhau
* Các dự án độc lập lẫn nhau: hai dự án được gọi là độc lập về mặt kinh tế
nếu việc chấp nhận hoặc loại bỏ một dự án không làm ảnh hưởng đến quyết đònh
chấp nhận hoặc loại bỏ dự án khác. Nghóa là việc chấp nhận hoặc loại bỏ một dự
án nào đó không làm ảnh hưởng đến các dòng tiền của dự án khác.
* Các dự án phụ thuộc lẫn nhau: nếu dòng tiền của một dự án bò tác động
bởi quyết đònh chấp nhận hay từ bỏ một dự án khác thì dự án thứ nhất được gọi là
phụ thuộc về mặt kinh tế của dự án thứ hai
12
* Các dự án loại trừ lẫn nhau: hai dự án được gọi là loại trừ lẫn nhau nếu
các khoản thu nhập từ một dự án đầu tư nào đó sẽ biến mất hoàn toàn nếu dự án
khác được chấp nhận. Việc chấp nhận một dự án này cũng có nghóa là loại bỏ
hoàn toàn các dự án khác.
- Tiêu chuẩn hiện giá thuần (NPV): hiện giá thuần của một dự án là giá trò của
dòng tiền dự kiến trong tương lai được quy về hiện giá trừ đi vốn đầu tư dự kiến
ban đầu của dự án. Lãi suất chiết khấu được sử dụng để đánh giá giá trò hiện tại
của dòng tiền dự kiến trong tương lai phải tương xứng với mức độ rủi ro của dự
án.
n
CF
t
NPV
=
=
-
-
I
I
+
+
∑
∑
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
t
=
=
1
1
(
(
1
1
+
+
r
r
)
)
t
t
Trong đó:
I: đầu tư ban đầu
CF
t
: là dòng tiền ở thời kỳ t
n: là đời sống kinh tế của dự án.
Tiêu chuẩn hiện giá thuần được áp dụng trong thẩm đònh dự án trong hai trường
hợp:
* Nếu dự án đầu tư độc lập với các dự án đầu tư khác, NPV>0 :chấp nhận
dự án , NPV<0 :loại bỏ dự án, NPV=0: tùy quan điểm của nhà đầu tư
* Nếu các dự án loại trừ lẫn nhau: trong nhiều trường hợp việc quyết đònh
phải thực hiện lựa chọn giữa những dự án loại trừ lẫn nhau. Lựa chọn dự án nào có
NPV cao nhất và dương.
Tiêu chuẩn hiện giá thuần có nội dung quan trọng hơn các tiêu chuẩn thẩm đònh
khác vì NPV ghi nhận tiền tệ theo giá trò thời gian, NPV chỉ dựa trên hai dữ kiện
đó là dòng tiền được dự đoán từ dự án và chi phí cơ hội của đồng vốn, và NPV có
tính chất cộng dồn các dự án lại để đưa ra dự án đầu tư kết hợp, tuy nhiên NPV có
nhược điểm là không thể đưa ra kết quả lựa chọn khi các dự án không đồng nhất
13
về mặt thời gian cũng như xếp hạng ưu tiên trong việc lựa chọn các dự án đầu tư
khi nguồn vốn của doanh nghiệp bò giới hạn.
- Tiêu chuẩn tỉ suất sinh lợi nội bộ (IRR): Tỷ suất sinh lợi nội bộ đo lường tỷ
suất sinh lợi mà bản thân dự án tạo ra. IRR của một dự án là lãi suất chiết khấu
mà tại đó NPV của dự án bằng 0.
Trong đó:
IRR: tỷ suất sinh lợi nội bộ của dự án
R1: tỷ suất chiết khầu ban đầu để tính NPV1
R2: tỷ suất chiết khấu giả đònh để tính NPV2, với yêu cầu tạo ra giá trò âm cho
NPV2
Để thẩm đònh dự án trong trường hợp các dự án độc lập lẫn nhau dự án nào có
IRR lớn hơn tỷ suất sinh lợi nội bộ cho phép được quy đònh bởi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền . Còn trong trường hợp các dự án loại trừ lẫn nhau nhà đầu tư chọn
dự án nào có IRR lớn nhất miễn là IRR lớn hơn tỷ suất sinh lợi nội bộ cho phép.
- Tiêu chuẩn chỉ số sinh lợi (PI): Là giá trò hiện tại của dòng tiền dự án đầu tư
so với đầu tư ban đầu.
Trong đó: PV là giá trò hiện tại của dòng tiền, I là đầu tư ban đầu.
Thẩm đònh dự án trong trường hợp các dự án độc lập lẫn nhau dự án nào co PI>1:
chấp nhận dự án và ngược lại. Tiêu chuẩn này có ưu điểm là trong trường hợp
14
nguồn vốn bò giới hạn thì doanh nghiệp không thể xếp hạng ưu tiên các dự án theo
NPV, thay vào đó doanh nghiệp có thể xếp hạng ưu tiên theo PI.
- Tiêu chuẩn thời gian thu hồi vốn (PP): thời gian thu hồi vốn của dự án là
khoảng thời gian thu hồi lại vốn đầu tư ban đầu. Một dự án có thời gian thu hồi vốn
nhanh sẽ hạn chế được nhiều rủi ro, tiêu chuẩn này được kết hợp với các phương
pháp khác để thẩm đònh dự án.
1.3 VỐN ĐẦU TƯ:
1.3.1 Vốn trong nước:
Được hình thành từ nguồn tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Nguồn
vốn đầu tư trong nước có ý nghóa quyết đònh trong công cuộc phát triển quốc gia.
Đòi hỏi tỷ trọng tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân dành cho đầu tư ngày
càng cao. Từ tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân, vốn ngân sách có ý nghóa
quyết đònh cho đầu tư công ích, vốn của các thành phần kinh tế khác và trong
nhân dân rất quan trọng trong đầu tư kinh doanh.
Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nguồn
vốn này có ưu điểm là ổn đònh, bền vững, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và
hậu quả xấu đối với nền kinh tế do những tác động từ bên ngoài. Nguồn vốn trong
nước chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế. Mặc dù,
thời đại ngày nay các dòng vốn nước ngoài ngày càng trở nên đặc biệt,giữ vai trò
quan trọng đối với các nước đang phát triển, nhưng nguồn vốn từ tiết kiệm trong
nước vẫn giữ vò trí quyết đònh Tuy rằng, hiện tại chưa có kết luận chính thức nào
về mối quan hệ nhân quả giữa tiết kiệm và tăng trưởng, song phải thừa nhận rằng
tiết kiệm luôn ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng, đặc biệt là ở những nước
đang phát triển, vì nó làm tăng vốn đầu tư.
Vốn trong nước bao gồm:
* Vốn Ngân Sách Nhà Nước: hình thành từ tiết kiệm của NSNN, là số chênh lệch
dương giữa tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét