Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Vấn đề cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa

Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CẠNH TRANH, CẠNH
TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN TỒN CẦU HĨA 4
1. Cạnh tranh thị trường 4
2. Khái niệm và đặc điểm của thị trường cạnh tranh hồn hảo 5
2.1. Khái niệm 5
2.2. Đặc điểm 5
3. Cạnh tranh trong điều kiện tồn cầu hóa 6
3.1. Khái niệm về tồn cầu hóa 6
3.1.1. Tồn cầu hóa kinh tế 6
3.1.2. Những đặc trưng của tồn cầu hóa kinh tế 6
3.1.2. Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam 7
3.2. Cạnh tranh trong điều kiện tồn cầu hóa 8
3.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 8
3.2.2 Xu hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam 8
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 9
1. Năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp cơng nghiệp 9
2. Năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp nơng nghiệp 10
3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành dịch vụ 11
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG CẢI TIẾN NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG ĐIỀU KIỆN TỒN CẦU HĨA 13
1. Các phương hướng cải tiến nâng cao năng lực cạnh tranh xét từ khía
cạnh nỗ lực của doanh nghiệp 13
2. Các phương hướng cải tiến nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh
nghiệp từ phía nhà nước 15
Trang 1
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
KẾT LUẬN 17
TAI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
LỜI MỞ ĐẦU
Cạnh tranh là sự phấn đấu, vươn lên khơng ngừng để giành lấy vị trí hàng
đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ
khoa học-kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất
và hiệu quả cao nhất. Trong bất kỳ lĩnh vực nào đều có cạnh tranh. Khơng có
cạnh tranh sẽ khơng có sinh tồn và phát triển.
Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản
phẩm bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính
trị, qn sự, tâm lý xã hội. Biện pháp kỹ thuật là áp dụng cơng nghệ hiện đại,
máy móc thiết bị tiên tiến, cơng nhân có trình độ lành nghề cao; Biện pháp kinh
tế như trợ cấp tài chính, bảo hộ cho vay ưu đãi, bán phá giá,v.v Năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh,
có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm
lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Để đánh giá năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp người ta dựa vào nhiều tiên chí: thị phần,
doanh thu, lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận, thu nhập bình qn, phương pháp quản
lý, bảo vệ mơi trường, uy tín doanh nghiệp đối với xã hội, tài sản của doanh
nghiệp nhất là tài sản vơ hình, tỉ lệ cơng nhân lành nghề, tỉ lệ đội ngũ quản lý
giỏi, nghiên cứu và sáng tạo
Ngày nay với xu hướng tồn cầu hố, các nước trên thế giới đang xích lại
gần nhau, đặc biệc Việt Nam ta đã xúc tiến rất tốt cơng tác hội nhập; Nước ta đã
gia nhập ASEAN (1995), AFTA (1996), APEC(1998), năm 1992 đã nối lại quan
hệ với IMF, WB, ADB và đặc biệt năm 2006 chúng ta đã gia nhập WTO. Việt
Nam đã từng bước tham gia vào thể chế kinh tế khu vực và thế giới, đã tạo cho
các doanh nghiệp nhiều thuận lợi để phát triển thị trường, huy động vốn từ nước
ngồi để phát triển cơng nghệ, phát triển sản phẩm. Bên cạnh thuận lợi chúng ta
gặp khơng ít khó khăn, mà khó khăn lớn nhất là cạnh tranh trong điều kiện
Trang 3
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
khơng cân sức. Tuy có nhiều thách thức và mất mát, ta khơng còn con đường nào
khác là phải hội nhập vào kinh tế tồn cầu. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải
khẩn trương tạo thế và lực mới cho mình để tận dụng những thuận lợi, hạn chế
những khó khăn để đứng vững và vươn lên trong cuộc cạnh tranh gay gắt hiện
nay. Xu hướng tồn cầu hóa cùng với cơ chế kinh tế thị trường bắt buộc các
doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, để giúp các doanh nghiệp trong việc
xây dựng một tư duy, một chiến lược hành động để nâng cao vị thế cạnh tranh
của mình là vấn đề cần thiết hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu thực tế tại các doanh
nghiệp tơi quyết định chọn đề tài dựa trên những kiến thức kinh tế đặc biệt là
mơn kinh tế vi mơ để xem xét vấn đề: “Vấn đề cạnh tranh và nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện tồn cầu hóa”.
Trong tiểu luận này chúng ta tập trung nghiên cứu mục tiêu chung của đề
tài là vấn đề cạnh tranh và dựa trên một số cơ sở lý luận đã học và tham khảo các
tài liệu liên hệ với thực trạng năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp Việt
Nam, từ đó đưa ra kết luận và một số phương hướng cải tiến để năng cao năng
lực của các doanh nghiệp việt nam trong điều kiện tồn cầu hóa và chúng ta chỉ
xét các doanh nghiệp cạnh tranh trong thị trường cạnh tranh hồn hảo. Dựa vào
mục tiêu nghiên cứu chúng ta giả thuyết rằng việc nâng cao lợi thế cạnh tranh
của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hiện nay là chưa đạt được hiệu quả
cao, bằng các biện pháp phân tích chúng ta đi kiểm định giả thuyết trên bằng các
phương pháp phân tích định lượng và định tính, dùng các câu hỏi nghiên cứu đi
sâu vào chi tiết những vấn đề quan trọng của mục tiêu cần nghiên cứu ở trên để
tìm ra bản chất của vấn đề.
Các phương pháp được dùng để nghiên cứu đề tài này bao gồm sử dụng
tổng hợp các phương pháp luận để tiếp cận vấn đề nghiên cứu, phân tích-tổng
hợp, lý luận và thực tiển, phương pháp quan sát, phương pháp phân tích thống
kê, dự báo, lược khảo tài liệu
Trang 4
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
Đây là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm, nó đòi hỏi thời gian dài, sự sưu
tầm các tài liệu có liên quan và một trình độ kiến thức nhất định. Do đó những gì
tơi trình bày trong tiểu luận này có phần cơ động và theo sự hiểu biết của cá nhân
nên khơng tránh những thiếu sót và tầm nhìn hạn chế. Rất mong sự đóng góp của
thầy TS. Lê Khương Ninh và những người đọc tiểu luận này.
Trang 5
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CẠNH TRANH,
CẠNH TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN TỒN CẦU HĨA
1. CẠNH TRANH THỊ TRƯỜNG
Cạnh tranh là đặc trưng cơ bản của thị trường. Cạnh tranh thị trường có thể
chia làm ba loại: cạnh tranh giữa người bán và người mua, cạnh tranh giữa người
mua với nhau, cạnh tranh giữa những người bán, thực chất là cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp. Trong tiểu luận này chúng ta tập trung nghiên cứu vào loại cạnh
tranh thứ ba là cuộc cạnh chính trên thương trường, đồng thời cũng là cuộc cạnh
tranh khốc liệt nhất, có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp.
Thực chất của cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp là sự giành giật các
lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận cao
nhất. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, bởi thế, đã
bước vào kinh doanh thì bắt buộc phải chấp nhận. Thực tế cho thấy, khi sản xuất
hàng hóa càng phát triển , số người bán càng tăng thị cạnh tranh càng quyết liệt.
Trong q trình ấy, một mặt, sản xuất hàng hóa với quy luật cạnh tranh sẽ lần
lược gạt ra khỏi thị trường những doanh nghiệp yếu và chỉ có những doanh
nghiệp có những quyết sách đúng đắn mới có thể đứng vững trên thương trường
theo sự phát triển của nền kinh tế.
Cạnh tranh trên thị trường giữa các chủ doanh nghiệp được phân loại theo
nhiều cách khác nhau. Nhưng xét theo phạm vi kinh tế cạnh tranh được chia làm
hai loại. Đầu tiên là cạnh tranh giữa các ngành, nó là sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp, hay đồng minh các chủ doanh nghiệp trong các ngành kinh tế
khác nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận cao nhất. Trong q trình cạnh tranh này,
các chủ doanh nghiệp ln say mê với những ngành đầu tư có lời nhất nên đã
chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận, dẫn đến kết quả là
các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ
thu được lợi nhuận như nhau. Loại cạnh tranh thứ hai là cạnh tranh trong nội bộ
Trang 6
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
ngành, nó được hiểu là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và
tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các
chủ doanh nghiệp thơn tính nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng
phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ
phải thu hẹp quy mơ kinh doanh, thậm chí có thể bị phá sản.
2. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG CẠNH
TRANH HỒN HẢO:
2.1. Khái niệm:
Thị trường cạnh tranh hồn hảo là thị trường mà trong đó các quyết định
mua bán của từng người mua hay từng người bán riêng lẻ khơng ảnh hưởng gì
đến giá cả thị trường. Đây là thị trường có vơ số người bán (doanh nghiệp). Do
vậy, các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh hồn hảo được gọi
là người chấp nhận giá.
2.2. Đặc điểm:
-Số lượng các doanh nghiệp trong ngành là đủ lớn sao cho sản lượng của
mỗi doanh nghiệp là khơng đáng kể so với cả ngành nói chung.
-Sản phẩm của ngành phải tương đối đồng nhất và tính giá như nhau để
cho sản phẩm của các doanh nghiệp có thể thay thế hồn hảo cho nhau.
-Thơng tin về chất lượng sản phẩm là hồn hảo sao cho người mua nhận
thấy những sản phẩm giống nhau của các doanh nghiệp khác nhau thực sự là như
nhau.
-Có sự tự do nhập và xuất ngành sao cho khơng có sự cấu kết của các
doanh nghiệp hiện hành.
3. CẠNH TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN TỒN CẦU HĨA:
3.1 Khái niệm về tồn cầu hóa:
3.1.1. Tồn cầu hóa kinh tế:
Theo trình độ phát triển kinh tế cùng những đặc trưng của nềnê1 có thể
chia các nước trên thế giới thành hai khối: các nước tư bản phát triển (G8) và các
Trang 7
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
nước kém phát triển. Những năm gần đây các nước kém phát triển và đang phát
triển, gọi chung là các nước đang phát triển đã chuyển sang mơ hình kinh tế thị
trường. Sự hợp tác giữa các quốc gia ngày càng phát triển đa dạng. Tồn cầu hóa
thực chất là tồn cầu hóa về sản xuất, thị trường và các mặt khác như văn hóa, xã
hội, khoa học, kỹ thuật nhưng trong đó tồn cầu hóa kinh tế là chủ yếu. Tồn cầu
hóa kinh tế lấy thị trường làm cơ sở phát triển.
Tồn cầu hóa kinh tế là tiến trình biến các nền kinh tế quốc gia thành một
bộ phận của thị trường thế giới, trong đó mọi hoạt động đều diễn ra trong mối
liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Các hoạt dộng này chủ yếu bao gồm hoạt động
sản xuất, xuất nhập khẩu, tài chính tiền tệ, đầu tư quốc tế và cả văn hóa, khoa
học, kỹ thuật trên cơ sở thể chế thống nhất.
3.1.2. Những đặc trưng của tồn cầu hóa kinh tế:
-Thị trường mới: thị trường tư bản và ngoại hối đã tồn cầu hóa.
-Cơng cụ mạng máy tính, các thiết bị thơng ti liên lạc tồn cầu đã năng cao
năng suất lao động và văn minh thị trường.
-Các chủ thể mới hình thành và hoạt động của họ đang có ảnh hưởng ngày
càng rộng tới sự phát triển của các nước trên thế giới.
-Nhiều quy tắc mới hình thành kèm theo cơ chế hành pháp có hiệu lực và
sức ràng buộc đối với các chính phủ các nước.
-Sự nương tựa vào nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia ngày càng
tăng.
-Tồn cầu hóa đi đơi với khu vực hóa.
-Tồn cầu hố là chất xúc tác thúc đẩy tiến bộ của khoa học cơng nghệ,
bùng nổ cơng nghệ thơng tin, tạo tiền đề cho sự hình thành nền kinh tế mới-kinh
tế tri thức.
-Thương mại trong ngành và thương mại trong cơng ty.
-Đầu tư quốc tế trực tiếp tăng với mức dộ nhanh.
-Tồn cầu hóa mang đến nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia.
Trang 8
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
3.1.3. Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam:
Đối với nước ta tồn cầu hố giúp ta nâng cao năng lực kinh tế của mình
trên cơ sở đổi mới mọi mặt như đổi mới phương pháp quản lý, đổi mới cơng
nghệ (cơng nghệ quản lý và cơng nghệ sản xuất), từ đó tạo ra năng suất sản phẩm
và chất lượng cao, giá thành hạ, tạo tiền đề cơ bản cho việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp, các ngành kinh tế và của quốc gia. Mặt khác
tồn cầu hố cũng tồn tại những mặt tiêu cực của nó. Những hạn chế này xuất
phát từ những lợi ích khác nhau giũa các nước, đặc biệt là giữa các nước đang
phát triển và các nước phát triển đặc biệt là mơi trường cạnh tranh là cuộc cạnh
tranh khơng cân sức giữa các doanh nghiệp của các nước đang phát triển (phần
lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn non yếu) với doanh nghiệp của các
nước phát triển (là các tập đồn xun quốc gia đã phát triển lâu đời, dày dạn
kinh nghiệm thương trường).
3.2. Cạnh tranh trong điều kiện tồn cầu hóa:
3.2.1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra
được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối
thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền
vững.
3.2.2. Xu hướng phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Doanh nghiệp Việt Nam phần lớn có quy mơ vừa và nhỏ. Để nâng cao khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp, chính phủ đã tổ chức lại các tổng cơng ty,
thành lập các tập đồn quốc tế kinh doanh trong mơi trường cạnh tranh khốc
liệt hiện nay. Nhà nước đã ban hành nhiều luật và hàng loạt chính sách tạo điều
kiện và mơi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngồi
hoạt động, đã có những chính sách ưu tiên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để
Trang 9
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
các doanh nghiệp này lớn mạnh và đủ sức vươn lên cạnh tranh được ở thị trường
trong và ngồi nước.
Trang 10
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước thời kỳ 2001-2010
: “Nhà nước khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất,
kinh doanh, xuất-nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Nâng cao năng lực cạnh tranh,
phát triển mạnh những hàng hóa, dịch vụ có khả năng cạnh tranh trên thị trường
quốc tế, giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm thơ và sơ chế, tăng nhanh tỷ trọng các
sản phẩm chế biến và tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm; nâng dần tỷ trọng sản
phẩm có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng cơng nghệ cao”. Để thực hiện được u
cầu trên các doanh nghiệp cần phải nỗ lực hơn nữa để nâng cao khả năng tiêu
thụ sản phẩm của mình và đặt ra một thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt
Nam.
1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP
CƠNG NGHIỆP:
Các doanh nghiệp cơng nghiệp Việt Nam đang trong q trình thu hút vốn
đầu tư từ bên ngồi để góp phần tích cực vào việc đổi mới cơng nghệ và chất
lượng sản phẩm. Một số mặt hàng may mặc, giày dép, dầu thơ, điện tử, máy tính
và linh kện, sản phẩm phần mềm. Giá trị sản xuất ngành cơng nghiệp tăng liên
tục. Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm còn kém, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp còn thấp, chúng ta phải nỗ lực phấn đấu nhiều nữa mới có thể đứng vững
trong cạnh tranh. Nhìn chung, tồn ngành cơng nghiệp Việt Nam còn yếu.
Những ngành kinh tế được xem là mũi nhọn chỉ mới hình thành như điện tử-tin
học-viễn thơng-hóa chất, cơ khí, chưa phải là chỗ dựa phát triển cho các ngành
khác như nơng nghiệp, cơng nghiệp nhẹ, thủy sản, v.v những ngành hàng cơng
nghiệp nhẹ tuy có phát triển xuất khẩu như giày-da, dệt-may, thì trang bị cơng
nghệ chưa phải là tiên tiến, trình độ tay nghề chưa cao, năng suất lao động thấp,
giá cả chưa hấp dẫn. Phần lớn các sản phẩm cơng nghiệp xuất khẩu hiện nay
Trang 11
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
hoặc là xuất khẩu dưới dạng thơ (dầu mỏ), hoặc hàm lượng chất xám thấp (giày
da, dệt may), chưa có tính sáng tạo cao. Sản phẩm xuất khẩu từ khâu sản xuất
chứ khơng phải từ khâu đầu tiên là marketting, thiết kế, chưa có thương hiệu
riêng, còn mượn danh người khác, nhiều người tiêu dùng trên thế giới chưa biết
đến sản phẩm của Việt Nam, uy tín của doanh nghiệp chưa có rất khó cạnh tranh
trên thị trường.
2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP
NƠNG NGHIỆP (bao gồm nơng, lâm, ngư nghiệp):
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận tiện cho
việc phát triển các loại cây nơng sản: lương thực, rau quả, rừng và biển thì đa
dạng và phong phú tài ngun cung cấp nhiều loại ngun liệu q giá để tạo ra
nhiều mặt hàng có giá trị phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Trong ngành nơng-
lâm-ngư nghiệp, trừ một số mặt hàng như thủy sản, cà phê, điều, tiêu, gạo, trái
cây đặc sản có năng lực cạnh tranh ở thị trường nước ngồi, đa số các doanh
nghiệp còn lại năng lực cạnh tranh yếu như một số doanh nghiệp kinh doanh chè,
rau, quả, thịt, các thực phẩm chế biến khác. Những doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh nhưng chưa bền vững, chưa chắc chắn vì chất lượng chưa được ổn
định, thị trường chưa được cũng cố vững chắc, thương hiệu chưa có, mơi trường
tại những nơi ni trồng và chế biến chưa đảm bảo tốt.
Các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này cần nhận rõ tính cấp bách
của hội nhập khu vực và quốc tế. Phải nhanh chóng đổi mới tổ chức, đổi mới
cơng nghệ quản lý (sản xuất, quản lý, mơi trường, nhân lực ). đẩy mạnh hoạt
động xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hố. Nhanh chóng đưa chất lượng
các sản phẩm của mình ngang bằng hoặc tốt hơn chất lượng sản phẩm cùng loại
của các nước trong khu vực. Có như vậy doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị
trường trong và ngồi nước. Để làm được điều nay các doanh nghiệp Việt Nam
phải phấn đấu làm cho hàng hố của mình tốt hơn, giá rẻ hơn so với hàng của
các doanh nghiệp khác, của nước khác. Một điều quan trọng cần đặc biệt lưu ý
Trang 12
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
đối với hàng nơng-lâm-ngư nghiệp của ta phải tuyệt đối đảm bảo vệ sinh an
tồn, đặc biệt là đối với các sản phẩm xuất khẩu.
3. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG
NGÀNH DỊCH VỤ:
Doanh nghiệp dịch vụ nếu phân theo chức năng gồm có dịch vụ ngân
hàng, tài chính, du lịch, khách sạn, nhà hàng, vận tải, tư vấn, đào tạo, y tế, sửa
chữa, vệ sinh, v.v “Các dịch vụ tài chính trong nước hiện nay vẫn còn nằm
trong tình trạng kém phát triển, chưa có khả năng cung cấp tín dụng để hỗ trợ
cho các khu vực kinh tế và cho các doanh nghiệp ngồi ngành phát triển. Tình
hình tài chính tiền tệ chưa vững chắc, chứa đựng nền móng mất ổn định kinh tế.
Tỷ lệ nợ khó đòi cao, nợ chưa thanh tốn trong xây dựng cơ bản còn khá lớn,
việc sử dụng tiền gởi ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài hạn vượt q giới
hạn an tồn, lãi suất tín dụng q cao so với khả năng sinh lời của các doanh
nghiệp. (Nguồn: Báo cáo của Chính phủ trên báo Nhân dân ngày 22/10/2003).
Các dịch vụ hành chính rất trì trệ, rất chậm đổi mới, gây cản trở rất nhiều
tới sự phát triển của đất nước như phát triển đầu tư, phát triển kinh doanh của các
doanh nghiệp thương mại và các doanh nghiệp dịch vụ khác. Các dịch vụ hành
chính Việt Nam được Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp vào nhóm thấp.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện, nước, bưu chính viễn thơng, vận
tải đều có giá cao. Giá điện Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực, chất
lượng điện khơng đảm bảo tốt, cắt điện thường xun làm ảnh hưởng tới sản
xuất khác. Dịch vụ viễn thơng Việt Nam, chất lượng đường truyền thấp, thường
xun gián đoạn làm ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả hoạt động của nhiều
ngành kinh doanh khác. Giá cước vận chuyển của nhiều loại hình vận chuyển
khá đắt so với các nước. Các dịch vụ du lịch tổ chức còn luộm thuộm, thiếu văn
minh, làm giảm đi mối thiện cảm của khách du lịch. Các dịch vụ bổ trợ như q
tặng, hàng lưu niệm q nghèo nàn, tính hấp dẫn kém.
Trang 13
Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
Tóm lại, các doanh nghiệp dịch vụ thương mại, năng lực cạnh tranh của
các loại hình doanh nghiệp dịch vụ khác của Việt Nam còn yếu về tất cả các tiêu
chí như trình độ nhân lực, tổ chức quản lý và kinh doanh, tiềm lực tài chính,
cơng nghệ, mơi trường kinh doanh
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét