Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Tài liệu Quyết định Số: 40/2009/QĐ-UBND ppt

c) Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất (gọi
chung là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất).
d) Khuyến khích các chủ đầu tư không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất
thỏa thuận với người sử dụng đất theo các chính sách trong Quy định này.
Điều 2. Những trường hợp không áp dụng quy định này
1. Dự án sản xuất kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét
duyệt (quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật Đất đai 2003, khoản 6 Điều 36 Nghị
định số 181/2004/NĐ-CP), nhà đầu tư được phép nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất.
2. Cộng đồng dân cư xây dựng, chỉnh trang công trình phục vụ lợi ích chung của
cộng đồng bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ.
3. Các trường hợp thu hồi đất theo quy định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11, 12 Điều
38 Luật Đất đai 2003 và thu hồi đất theo quy định tại Điều 3 Quy định về việc xử
lý đối với các trường hợp thu hồi đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất để sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hải Dương
ban hành kèm theo quyết định số 03/2008/QĐ-UBND ngày 11 tháng 01 năm 2008
của Ủy ban nhân dân Tỉnh.
Điều 3. Kinh phí chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1. Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá
nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Hải
Dương, có nghĩa vụ ứng trước tiền để chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và
kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng theo Quy định này.
2. Tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường,
giải phóng mặt bằng theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt được
ngân sách Nhà nước hoàn trả bằng hình thức trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
phải nộp. Trường hợp chủ đầu tư tự thỏa thuận phương án bồi thường, hỗ trợ với
người sử dụng đất thì mức khấu trừ được xác định theo đơn giá đất, mức hỗ trợ
quy định của Ủy ban nhân dân Tỉnh nhưng mức tiền được trừ không vượt quá tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất chủ đầu tư phải nộp;
Mức trừ cụ thể áp dụng theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về thu tiền sử
dụng đất và Nghị định của Chính phủ về thu tiền thuê đất.
3. Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá
nhân nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp
luật về đất đai mà được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thì tiền bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư theo phương án được phê duyệt được tính vào vốn đầu tư của dự
án.
4. Không chi trả bồi thường và tái định cư cho:
a) Người thuê, mượn đất của người có đất bị thu hồi; người sử dụng đất công ích
của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân
cấp xã);
b) Người nhận góp vốn liên doanh, liên kết nhưng chưa chuyển giao quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu tài sản sang tổ chức liên doanh, liên kết theo quy định của
pháp luật;
c) Các đối tượng khác không được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận
quyền sử dụng đất;
Việc xử lý tiền bồi thường, hỗ trợ (nếu có) giữa người có quyền sử dụng đất hợp
pháp và chủ sở hữu tài sản trên đất bị thu hồi là người thuê, mượn lại đất, người sử
dụng đất công ích, người nhận góp vốn liên doanh, liên kết được giải quyết theo
quy định của Bộ Luật dân sự và hợp đồng kinh tế đã ký kết.
Chương 2.
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VỀ ĐẤT
Điều 4. Nguyên tắc bồi thường về đất
1. Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện quy định tại Điều 5 của Quy
định này thì được bồi thường theo quy định này.
2. Người bị Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng hợp pháp vào mục đích nào theo
quy định của pháp luật tại thời điểm có quyết định thu hồi đất thì được bồi thường
bằng đất có cùng mục đích sử dụng hoặc bằng tiền theo giá đất có cùng mục đích
sử dụng tại thời điểm thu hồi đất trên nguyên tắc sau:
a) Người sử dụng đất nông nghiệp có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định
tại Điều 5 Quy định này, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền
theo giá đất nông nghiệp quy định của Ủy ban nhân dân Tỉnh. Trường hợp địa
phương có đất thu hồi có quỹ đất nông nghiệp (người bị thu hồi đất có nhu cầu bồi
thường bằng đất) thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng căn
cứ vào quỹ đất hiện có, lập phương án bồi thường bằng việc giao đất nông nghiệp
cho người bị thu hồi đất nông nghiệp trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng
mức giao đất mới không vượt quá diện tích đất thu hồi và không vượt quá hạn
mức giao đất nông nghiệp tại địa phương, nếu có chênh lệch về diện tích, vị trí,
loại đất thì giá trị phần chênh lệch đó được chi trả bằng tiền.
b) Người sử dụng đất ở có đủ điều kiện được bồi thường về đất quy định tại Điều
5 của Quy định này khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở do bị thu
hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở
theo quy định của Ủy ban nhân dân Tỉnh mà không còn chỗ ở nào khác trong địa
bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi, nếu có nhu cầu nhà ở, đất ở thì được
xem xét bồi thường bằng giao đất ở hoặc nhà ở tại khu tái định cư; trường hợp bồi
thường bằng việc giao đất ở hoặc bằng nhà ở, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần
chênh lệch đó được chi trả bằng tiền.
c) Các trường hợp khác không thuộc quy định tại điểm a, điểm b Khoản này khi
Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường, hỗ trợ bằng tiền.
3. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà
chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai với Nhà nước theo quy định của pháp
luật (bao gồm: tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê,
thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng các thửa đất khác của người có đất bị thu
hồi, tiền thu từ xử lý phạt vi phạm pháp luật về đất đai, tiền bồi thường cho Nhà
nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai, phí và lệ phí trong quản lý,
sử dụng đất đai), thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số
tiền được bồi thường, hỗ trợ về đất để hoàn trả ngân sách nhà nước.
4. Diện tích đất làm cơ sở tính bồi thường hoặc hỗ trợ:
a) Diện tích đất làm cơ sở tính bồi thường hoặc hỗ trợ là diện tích đất được xác
định trên thực địa – thực tế đo đạc tại thời điểm thu hồi của từng người sử dụng
đất;
b) Việc bồi thường, hỗ trợ phải căn cứ vào mục đích sử dụng hợp pháp của từng
thửa đất ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
về đất đai hoặc thể hiện trong phương án giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp khi
thực hiện các Nghị định, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Thông tư số
14/2009/TT-BTNMT. Trường hợp không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
hoặc trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ghi rõ vị trí, diện tích và
mục đích sử dụng của từng loại đất thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác định
và được Ủy ban nhân dân huyện, thành phố (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân
dân cấp huyện) xác nhận theo quy định của Luật Đất đai 2003, hướng dẫn của Sở
Tài nguyên và Môi trường.
c) Trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền
sử dụng đất thì diện tích xác định bồi thường theo quy định tại Điều 47 Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP;
d) Trường hợp đối với đất nông nghiệp không có giấy tờ, phương án giao đất quy
định tại điểm b khoản 4 Điều này thì xác định theo hiện trạng thực tế sử dụng
nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.
Điều 5. Điều kiện để được bồi thường đất
Người bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện sau đây thì được bồi
thường:
1. Có giấy tờ về quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện quy định tại Điều 3
Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại
khoản 1 Điều này, nhưng đất đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10
năm 1993, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh
chấp và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị
định số 84/2007/NĐ-CP.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trước đây Nhà nước đã có quyết định
quản lý trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước, nhưng trong
thực tế Nhà nước chưa quản lý, mà hộ gia đình, cá nhân đó vẫn sử dụng.
Điều 6. Những trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường
1. Người sử dụng đất không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 5 của Quy định
này.
2. Người bị Nhà nước thu hồi đất có một trong các điều kiện quy định tại Điều 5
của Quy định này nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2, 3,
4 và 5 Điều 7 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP.
3. Đất bị thu hồi trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất người sử dụng
đất đã có một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP.
Điều 7. Căn cứ xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất, sử dụng đất ổn định
đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có giấy tờ quy định tại khoản
4 Điều 50 Luật Đất đai 2003
1. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất là thời điểm người sử dụng đất sử dụng liên tục
cho một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục
đích đó (trước 15 tháng 10 năm 1993) đến thời điểm có quyết định thu hồi đất của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
2. Trường hợp đất đã sử dụng liên tục quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có sự
thay đổi về người sử dụng đất thì sự thay đổi đó phải không phát sinh tranh chấp
về quyền sử dụng đất;
3. Việc xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được căn cứ vào ngày,
tháng, năm sử dụng vào mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các loại giấy tờ
quy định tại khoản 2, 3 Điều 3 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP.
4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này
hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng
đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng
đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư
trú trong khu dân cư (Thôn, làng, Tổ dân phố …) nơi có đất thu hồi, người có cùng
thời điểm bắt đầu sử dụng đất với người có đơn xin xác nhận.
Điều 8. Căn cứ xác định loại đất, mục đích sử dụng đất cho mỗi thửa đất
1. Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người đang sử dụng đất; trường
hợp người sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì khi xác định loại đất thu
hồi được xác định lại theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 87 Luật Đất đai
2003.
3. Đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đối với trường hợp không phải xin phép chuyển mục đích sử dụng đất.
4. Đất đang sử dụng ổn định, không phải do tự chuyển mục đích trái phép, phù
hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét
duyệt.
5. Đối với trường hợp chưa có căn cứ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này
thì căn cứ vào hiện trạng sử dụng ổn định, Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã có trách
nhiệm xác định loại đất, mục đích sử dụng đất.
Điều 9. Giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ
1. Giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ là giá đất theo vị trí và mục đích đang sử
dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định và
công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm; không bồi thường, hỗ trợ theo giá đất sẽ
được chuyển mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi, không bồi thường theo giá đất
do thực tế sử dụng đất không phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy định của
pháp luật về đất đai.
2. Trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất đã ban hành chưa
sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều
kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp huyện khảo sát, báo cáo Sở Tài chính
chủ trì thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định điều chỉnh giá đất cho phù
hợp với từng dự án cụ thể.
Điều 10. Chi phí đầu tư vào đất còn lại
1. Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế hợp lý mà người sử dụng đất
đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích và thời gian được phép sử dụng mà
đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được hết. Chi phí đầu tư vào
đất còn lại được xác định như sau:
Tổng chi phí hợp lý tính thành
tiền
Chi phí đầu tư
vào đất còn lại
=
Thời gian được phép sử dụng
đất
x
Thời gian sử
dụng đất còn
lại
2. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại chỉ áp dụng cho các trường hợp sử
dụng đất quy định tại điểm b Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 16
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và người sử dụng đất đã chi phí đầu tư vào đất để sử
dụng theo mục đích được phép sử dụng và nằm trong quyết định giao đất, hợp
đồng thuê đất hoặc hợp đồng giao thầu hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền.
3. Trường hợp thu hồi đất mà đã được bồi thường về đất thì không được bồi
thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
4. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại có đầy đủ hồ sơ, chứng từ, thực tế
chứng minh thì được bồi thường theo hồ sơ.
5. Các khoản chi phí không đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh thì không được bồi
thường, nhưng được hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại. Chi phí đầu tư vào đất
tính trên 1m
2
đất bị thu hồi, cơ sở để tính hỗ trợ chi phí đầu tư vào đất còn lại
trong trường hợp này được xác định như sau:
a) Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp mà người sử dụng đất đã chi phí đầu tư vào
đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng và nằm trong quyết định giao
đất, hợp đồng thuê đất hoặc hợp đồng giao thầu hợp pháp của cơ quan có thẩm
quyền:
+ San lấp, cải tạo ao để lập vườn trồng cây lâu năm hoặc cây hàng năm thì chi phí
đầu tư vào đất được tính không vượt quá 1,0 lần mức bồi thường đối với đất nông
nghiệp cùng vị trí, loại đất quy định tại thửa đất đó;
+ San lấp, cải tạo ruộng 1 vụ lúa để lập vườn trồng cây lâu năm hoặc trồng cây
hàng năm (2 vụ lúa và vụ màu) thì chi phí đầu tư vào đất được tính không vượt
quá 0,5 lần mức bồi thường đối với đất nông nghiệp cùng vị trí, loại đất quy định
tại thửa đất đó;
+ San lấp, cải tạo ruộng 2 vụ lúa để lập vườn trồng cây lâu năm thì chi phí đầu tư
vào đất được tính không vượt quá 0,3 lần mức bồi thường đối với đất nông nghiệp
cùng vị trí, loại đất quy định tại thửa đất đó;
+ San gạt, hạ cốt đất đồi núi để trồng cây lâu năm thì chi phí đầu tư vào đất được
tính không vượt quá 0,5 lần mức bồi thường đối với đất nông nghiệp cùng vị trí,
loại đất quy định tại thửa đất đó (trường hợp đặc biệt tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường giải phóng mặt bằng tính toán cụ thể, lập phương án trình cấp có thẩm
quyền xem xét phê duyệt);
+ Đào ao, cải tạo ao để nuôi trồng thủy sản từ đất thùng vũng thì chi phí đầu tư
vào đất (tính trên 1m
2
đất thu hồi) không vượt quá đơn giá của 1,0m
3
đắp bờ, đào
ao theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh;
+ Đào ao, cải tạo ao để nuôi trồng thủy sản từ đất 1 vụ lúa thì chi phí đầu tư vào
đất (tính trên 1m
2
đất thu hồi) không vượt quá đơn giá của 1,5m
3
đắp bờ, đào ao
theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh;
+ Đào ao, cải tạo ao để nuôi trồng thủy sản từ đất 2 vụ lúa thì chi phí đầu tư vào
đất (tính trên 1m
2
đất thu hồi) không vượt quá đơn giá của 2,0m
3
đắp bờ, đào ao
theo quy định của Ủy ban nhân dân Tỉnh;
b) Trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp mà người sử dụng đất đã chi phí đầu tư
vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng thì chi phí san lấp, cải tạo
đất (tính trên 1m
2
đất bị thu hồi) căn cứ vào hiện trạng đất khi được giao, được
thuê và khối lượng san lấp, cải tạo đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất
bị thu hồi xác nhận, nhưng không vượt quá đơn giá của 3,0m
3
cát san lấp theo
Công bố giá vật liệu xây dựng hàng tháng của liên Sở Tài chính, Sở Xây dựng;

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét