Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình
đẳng với các thành phần kinh tế khác. Qua hơn 15 năm kể từ khi có Luật đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt nam năm 1987, các doanh nghiệp có vốn FDI đã
hình thành và không ngừng phát triển mạnh mẽ, có mặt trên khắp các tỉnh thành
trong cả nước, hoạt động trong hầu hết các ngành kinh tế quốc dân. Doanh
nghiệp có vốn FDI được coi là nhân tố quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế,
nâng cao tính cạnh tranh cho thị trường trong nước, làm nên sức mạnh tổng hợp
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phát triển đất nước, tạo điều
kiện cho Việt nam hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
Cùng với quá trình phát triển đó, cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp
có vốn FDI đã hình thành và từng bước được cải thiện, có tác động tích cực đến
quá trình phát triển của các doanh nghiệp có vốn FDI. Tuy nhiên, thực tế còn
phát sinh nhiều bất cập trong công tác quản lý nói chung, quản lý tài chính nói
riêng làm hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp có vốn FDI. Hiện tại môi
trường đầu tư ở nước ta còn chưa thực sự hấp dẫn, môi trường kinh tế và pháp lý
đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ. Cơ cấu về đầu tư trực tiếp nước
ngoài còn có mặt bất hợp lý và hiệu quả tổng thể về kinh tế - xã hội mà các
doanh nghiệp có vốn FDI mang lại chưa cao, Việt nam đang cam kết mở cửa hội
nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng. Sự phát triển mạnh mẽ của
các doanh nghiệp có vốn FDI sẽ tạo động lực tốt thúc đẩy phát triển doanh
nghiệp ở các thành phần kinh tế khác, nhằm đổi mới công nghệ mới, tăng năng
suất lao động, tăng năng lực quản lý điều hành, tạo thế cạnh tranh, tạo điều kiện
5
cho các doanh nghiệp Việt nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đây là một
vấn đề thực tế đặt ra hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có một cơ chế quản lý nhà
nước về tài chính cho các doanh nghiệp có vốn FDI, nhờ cơ chế tài chính để từ
đó tổ chức quản lý, định hướng, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp
này.
Với ý nghĩa đó, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện cơ chế
tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong điều
kiện cạnh tranh và hội nhập", góp phần giải quyết những vấn đề về lý luận và
thực tiễn nêu trên.
2. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần làm rõ lý luận về vị trí vai trò của các doanh nghiệp có vốn
FDI trong nền kinh tế thị trường tính cạnh tranh cao và trong điều kiện hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới;
- Phân tích, làm rõ lý luận về cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp
nói chung và doanh nghiệp có vốn FDI riêng;
- Đánh giá thực trạng tình hình các doanh nghiệp có vốn FDI, cơ chế tài
chính các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt nam trong thời gian qua và khái quát
những bài học kinh nghiệm về quản lý tài chính các doanh nghiệp có vốn FDI
của một số nước, từ đó góp phần cho việc đề xuất các định hướng, các quan
điểm đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính để phát triển các doanh
nghiệp có vốn FDI trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng chính của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn của cơ chế tài chính và các giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các
doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt nam trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.
6
Cơ chế tài chính là một vấn đề rộng lớn, bao quát nhiều lĩnh vực, nhiều
khâu trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, phạm vi nghiên cứu của luận
văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu cơ chế tài chính doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Việt nam, đó là: cơ chế huy động và tạo lập vốn, cơ chế
quản lý sử dụng vốn, cơ chế phân phối kết quả kinh doanh, cơ chế giám sát tài
chính, cơ chế cho việc sáp nhập, giải thể, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp. Tập
trung nghiên cứu tình hình của Việt Nam, có nghiên cứu kinh nghiệm một số
nước ở châu Á và các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính các doanh
nghiệp có vốn FDI ở Việt nam trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.
Phương pháp cơ bản và chủ yếu được vận dụng để nghiên cứu đề tài này
là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Đồng thời kết hợp với các phương pháp cụ thể khác như: thống kê so sánh, tổng
hợp phân tích các dữ liệu thực tế. Ngoài ra còn vận dụng các quan điểm lý luận
của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền kinh tế trong sự nghiệp đổi
mới.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Hệ thống hoá một số vấn đề về các doanh nghiệp có vốn FDI và cơ chế
tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn FDI.
- Khẳng định vai trò quan trọng của các doanh nghiệp có vốn FDI trong
mục tiêu phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta và khẳng định vai trò
quan trọng của cơ chế tài chính nhằm phát triển các doanh nghiệp có vốn FDI.
- Phân tích đánh giá thực trạng về cơ chế tài chính các doanh nghiệp có
vốn FDI trong thời gian qua, tạo tiền đề cho các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ
chế tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt nam.
- Đề xuất một số quan điểm định hướng phát triển các doanh nghiệp có
vốn FDI ở Việt nam khi hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
7
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài
chính các doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt nam trong điều kiện cạnh tranh và hội
nhập.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Doanh nghiệp có vốn FDI và cơ chế tài chính đối với các
doanh nghiệp có vốn FDI trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.
Chương 2: Thực trạng cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp có vốn
FDI ở Việt nam và kinh nghiệm một số nước trên thế giới.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp
có vốn FDI trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.
8
Chương 1
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN FDI VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN FDI TRONG ĐIỀU KIỆN CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP
1.1. VAI TRÒ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ra đời và phát triển là một tất yếu của quá
trình quốc tế hoá kinh tế - xã hội và phân công lao động quốc tế. FDI là loại đầu tư
mà các nhà tư bản nước ngoài bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý điều hành,
tổ chức sản xuất kinh doanh để thu lợi nhuận và hoàn toàn tự chịu trách nhiệm về vốn
và kết quả kinh doanh. Loại hình đầu tư này đã xuất hiện vào thời kỳ đầu của chủ
nghĩa tư bản– thời kỳ mà các nước tư bản có thuộc địa ngoài phạm vi lãnh thổ của
mình.
Từ những năm cuối thập niên 80 thế kỷ 20 đến nay, sự vận động và các điều
kiện của thế giới có những chuyển biến cơ bản, sâu sắc (sự cách biệt giữa hai hệ
thống xã hội đã giảm, kinh tế của hầu hết các nước đều theo thể chế thị trường, xu
hướng khu vực hoá, toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế đang trở thành phổ biến và
diễn ra với tốc độ nhanh, khoa học, kỹ thuật, công nghệ đạt tới trình độ phát triển
cao, …), FDI không những được sử dụng như một trong những hình thức hợp tác
kinh tế, như phương tiện thực hiện phân công lao động Quốc tế, mà còn được xem là
điều kiện quyết định sự phát triển của kinh tế thế giới.
Theo Hiệp hội luật Quốc tế (1996): FDI là sự di chuyển vốn từ nước của
người đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh
9
doanh hoặc dịch vụ. Theo Luật ĐTNN tại Việt nam: ĐTNN là việc các tổ chức và cá
nhân trực tiếp nước ngoài đưa vào Việt nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài
sản nào được chính phủ Việt nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hay xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Từ các góc độ nhìn nhận khác nhau về FDI, ta có thể rút ra các đặc trưng
chung về FDI như sau: Đó là sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác; vốn
được huy động vào các mục đích thực hiện các hoạt động kinh tế và kinh doanh.
Quan hệ kinh tế quốc tế đã hình thành nên các dòng lưu chuyển vốn: dòng từ
các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển, dòng vốn lưu chuyển trong nội
bộ các nước phát triển… Sự lưu chuyển của các dòng vốn diễn ra dưới nhiều hình
thức như: tài trợ phát triển chính thức (gồm viện trợ phát triển chính thức – ODA và
các hình thức khác), nguồn vay tư nhân (tín dụng từ các ngân hàng thương mại) và
FDI. Mỗi nguồn vốn có đặc điểm riêng của nó:
- Nguồn tài trợ phát triển chính thức là nguồn vốn do các tổ chức quốc tế,
chính phủ (hoặc đại diện chính phủ) cung cấp. Loại vốn này có đặc điểm là có sự ưu
đãi nhất định về lãi suất, khối lượng cho vay lớn, thời hạn vay tương đối dài.
- Nguồn vay tư nhân: Đây là nguồn vốn thường không có những điều kiện
ràng buộc như ODA, tuy nhiên thủ tục vay loại vốn này rất khắt khe, lãi suất cao, thời
hạn trả nợ nghiêm ngặt.
Nhìn chung sử dụng hai loại nguồn vốn này đều để lại cho nền kinh tế của
nước đi vay gánh nặng nợ nần – một trong những yếu tố chứa đựng tiềm ẩn nguy cơ
dẫn đến khủng hoảng, nhất là khủng hoảng tài chính tiền tệ.
- Nguồn vốn FDI: Trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, FDI là loại vốn
có nhiều ưu điểm hơn so với các loại vốn kể trên, nhất là đối với các nước đang phát
triển, khi khả năng tổ chức sản xuất đạt hiệu quả thấp thì ưu điểm đó càng rõ rệt.
Về bản chất, FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và một
bên khác là nước nhận đầu tư.
10
Đối với nhà đầu tư, thông qua FDI để duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất
của chủ đầu tư (vốn, kỹ thuật, sản phẩm,…), khai thác các nguồn nhân lực và xâm
nhập thị trường của nước nhận đầu tư, tranh thủ tận dụng chính sách khuyến khích
của nước nhận đầu tư, thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thực hiện các ý đồ
kinh tế (hoặc phi kinh tế) mà các hoạt động khác không thực hiện được.
Đối với nước nhận đầu tư, trước hết đó là những nước đang có một số lợi thế
mà họ chưa có điều kiện khai thác hoặc các nhà đầu tư không có, đó là các nước có
nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ,
thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, thiếu công nghệ tiên tiến và ít có khả năng tổ chức … số
này phần lớn là các nước đang phát triển.
FDI được đánh giá như là lối thoát cho các nước nghèo, với lý thuyết “cái
vòng luẩn quẩn” và “cú hích” từ bên ngoài, P.A.Samuelson nhấn mạnh rằng: đa số
các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp, chỉ đủ sống ở mức tối
thiểu, do khả năng tích luỹ rất hạn chế. Để tự thân vận động thì các nước nghèo rất
khó khăn để thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ.
1.1.2. Vai trò của FDI
Mặc dù còn nhiều tranh luận, còn nhiều ý kiến khác nhau về vai trò, về mặt tích
cực, tiêu cực… của FDI đối với nước nhận đầu tư, nhưng chỉ điểm qua nhu cầu, qua
trào lưu cạnh tranh thu hút cũng đủ cho ta khẳng định rằng FDI hiện nay đối với các
nước nhận đầu tư, có tác dụng tích cực là chủ yếu, đa phần các dự án FDI khi thực
hiện đều đưa lại lợi ích cho nước nhận đầu tư. Đối với nhiều nước, FDI thực sự đóng
vai trò là điều kiện, là cơ hội, là cửa ngõ giúp thoát khỏi tình trạng của một nước
nghèo, bước vào quĩ đạo của sự phát triển chung trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Vai trò của FDI được thể hiện qua các điểm sau:
- FDI có khả năng giải quyết có hiệu quả những khó khăn về vốn cho nền kinh
tế. Đối với nước nghèo, vốn được xem là yếu tố cơ bản, là điều kiện khởi đầu quan
trọng để phát triển kinh tế, trong khi đó các nguồn vốn khác từ bên ngoài (ODA, vay
thương mại ) bị ràng bởi nhiều điều kiện khó khăn (như đã phân tích ở trên).
11
- Thông qua các dự án FDI, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận những kỹ
thuật mới, những công nghệ tiên tiến, góp phần cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, phát
triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung, từ đó củng cố năng suất
chung của toàn nền kinh tế, đồng thời tạo ra các điều kiện kinh tế – kỹ thuật cho việc
thực hiện việc cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ…
- Các dự án FDI có thể thu hút một lượng lớn lao động trực tiếp và tạo ra nhiều
việc làm cho các dịch vụ tương ứng. Thông qua thực hiện các dự án FDI có thể làm
cho đội ngũ cán bộ của nước nhận đầu trưởng thành hơn về năng lực quản lý phù hợp
với nền sản xuất hiện đại, hình thành một lực lượng công nhân lành nghề…
- FDI có các điều kiện cần thiết cho việc tạo lập một hệ thống thị trường phù
hợp với một nền sản xuất hiện đại, tiếp cận thị trường mới, tăng cường quan hệ hợp
tác kinh tế quốc tế…Hình thành được những khu công nghiệp, khu chế xuất…
FDI có vai trò rất lớn trong quá trình công nghiệp hoá của các nước đang phát
triển. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thành công khi thực hiện công
nghiệp hoá của các nước đang phát triển hiện nay, trong đó có 4 yếu tố cơ bản nhất
được xem là điều kiện quyết định khả năng thực hiện công nghiệp hoá là công nghệ,
kỹ thuật, nguồn nhân lực, cải cách thể chế (thị trường, hội nhập,…). FDI là loại hình
hoạt động kinh tế hội tụ tương đối đầy đủ tiềm năng của 4 yếu tố trên.
1.1.3. Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn FDI
1.1.3.1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn FDI
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm thực hiện các
hoạt động kinh doanh với mục đích sinh lời (hoặc công ích).
Doanh nghiệp có đặc điểm là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân, mục
đích hoạt động kinh doanh là thu lợi nhuận (hoặc công ích). Các doanh nghiệp ở Việt
nam được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh
nghiệp, Luật ĐTNN tại Việt nam, Luật hợp tác xã.
12
Trong nền KTTT các loại hình doanh nghiệp rất đa dạng và bao gồm rất nhiều
loại, trong đó có doanh nghiệp có vốn FDI.
Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm doanh nghiệp có vốn FDI:
- Doanh nghiệp có vốn FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên
nước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài. Doanh nghiệp này hoạt
động theo luật pháp của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu
được lợi ích cho tất cả các bên.
- Doanh nghiệp có vốn FDI là những tổ chức quốc tế có tư cách pháp nhân, có
vốn của bên nước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài để tiến hành
các hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích.
- Doanh nghiệp có vốn FDI là những pháp nhân mới được thành lập tại nước
nhận đầu tư. Trong đó, các đối tác có quốc tịch khác nhau và bên nước ngoài có tỷ lệ
góp vốn tối thiểu để trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp.
Tóm lại: Doanh nghiệp có vốn FDI là một thuật ngữ chỉ tất cả các loại hình
doanh nghiệp có tư cách pháp nhân tại nước tiếp nhận đầu tư, bên nước ngoài có tỷ lệ
góp vốn tối thiểu đủ để tham gia quản lý trực tiếp hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm thu được lợi ích cho tất cả các bên đầu tư.
1.1.3.2. Các đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp có vốn FDI
Doanh nghiệp có vốn FDI là một phạm trù chỉ tất cả các loại hình doanh
nghiệp có vốn bên nước ngoài ở nước tiếp nhận đầu tư. Tuy doanh nghiệp có vốn
FDI bao gồm nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau nhưng chúng đều có các đặc
điểm cơ bản sau đây:
- Doanh nghiệp có vốn FDI là những tổ chức kinh doanh quốc tế và là những
pháp nhân của nước nhận đầu tư, hoạt động theo luật pháp nước nhận đầu tư, các
hiệp định và các điều ước quốc tế.
- Các doanh nghiệp có vốn FDI không chỉ gắn liền với việc di chuyển vốn mà
còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản
lý, tạo thị trường mới cho cả hai bên đầu tư và nhận đầu tư.
13
- Quá trình thành lập và điều hành doanh nghiệp là trách nhiệm của các bên.
Hoạt động của doanh nghiệp có vốn FDI thường gắn liền với hoạt động kinh doanh
quốc tế của các công ty đa quốc gia. Trong các doanh nghiệp có vốn FDI có sự quản
lý trực tiếp của nước ngoài. Quyền quản lý của các bên phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn.
Các nhà đầu tư phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu theo qui định của từng quốc
gia. Luật ĐTNN tại Việt nam qui định nhà ĐTNN phải góp vốn tối thiểu bằng 30%
vốn pháp định của dự án.
- Lợi nhuận của các nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh
và được phân chia cho các nhà đầu tư theo tỷ lệ góp vốn sau khi nộp thuế và trả cổ
tức cổ phần.
Trên đây là những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp có vốn FDI mà các
doanh nghiệp trong nước không có. Nhờ các đặc điểm này mà chúng ta có thể nhận
diện được doanh nghiệp có vốn FDI dù chúng hoạt động ở bất cứ quốc gia nào trên
thế giới.
1.1.3.3. Phân loại doanh nghiệp có vốn FDI.
Doanh nghiệp có vốn FDI bao gồm rất nhiều loại doanh nghiệp, hoạt động
trong các lĩnh vực khác nhau, có các đối tác khác nhau, quy mô khác nhau, hình thức
khác nhau Để tiện cho việc nghiên cứu và quản lý các doanh nghiệp này, cần phải
tiến hành phân loại chúng.
Thứ nhất, căn cứ vào loại hình pháp lý của doanh nghiệp có vốn FDI: có thể
chia các doanh nghiệp có vốn FDI làm 3 loại:
Công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn FDI: là một loại hình công ty đối
vốn, gồm các thành viên liên kết với nhau để kinh doanh trên cơ sở bản điều lệ công
ty, trong đó các thành viên thoả thuận hình thức góp vốn, phân chia kết quả kinh
doanh và quyền quản lý giữa các thành viên.
Công ty đối vốn là công ty trong đó các thành viên cùng góp vốn để tiến hành
hoạt động kinh doanh và mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn của
mình đối các khoản nợ của công ty, tức là chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét