Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Rủi ro tín dụng tại ngân hàng Thương mại Cổ phần Miền Tây - Thực trạng và giải pháp

- Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nớc đến các mục tiêu kinh tế vĩ
mô.
Bất kỳ nhà nớc nào cũng có mục tiêu kinh tế dài lâu và sử dụng công cụ tín dụng
nh là một công cụ hiệu quả của chính sách tiền tệ. Nớc ta không là ngoại lệ với mục
tiêu kinh tế lâu dài là: ổn định giá cả, tăng trởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Để đạt
đợc những mục tiêu quan trọng trên thì nhất thiết phải có sự đóng góp của tín dụng với
thời hạn, cơ cấu và quy mô tín dụng. Vấn đè này lại phụi thuộc vào các điều kiện tín
dụng nh: Lãi xuất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và các chủ trơng khác
trong chính sách tín dụng trong từng thời kỳ. Nh vậy thông qua việc thay đổi và điều
chỉnh các điều kiện tín dụng, nhà nớc có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển h-
ớng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hởng đến tổng cầu nền kinh tế cả
về quy mô và kết cấu. Sự thay đổi tổng cầu dới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác
động ngợc trở lai đối với tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối
cùng giữa tổng cung và tổng cầu dới tác động của chính sách tín dụng sẽ đạt đợc các
mục tiêu vĩ mô cần thiết. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng trong từng thơi kỳ thì nhà nớc
sẽ u tiên một hoặc hai mục tiêu nhất định chứ không thể cùng một lúc đạt đợc cả baq
mục tiêu vĩ mô trên vì điều này là rất khó nếu không muốn nói là không thể.
- Tín dụng là công cụ để thực hiện các chính sách xã hội.
Về mặt bản chất, các chính sách xã hội đợc đáp ứng bởi các nguồn tài trợ không
hoàn lại từ ngân sách nhà nớc. Song phơng thức tài trợ không hoàn lại thờng bị hạn chế
về quy mô và thiếu hiệu quả. Để khắc phục đợc hạn chế này phơng thức tài trợ không
hoàn lại có xu hớng bị thay thế bởi phơng thức tai trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm
duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng. Chẳng hạn
nh việc tài trợ vốn cho ngời nghèo với lãi suất thấp và các u đãi khác về thời hạn trả nợ,
gia hạn nợ Thông qua phơng thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách đợc đáp ứng
một cách chủ động và có hiệu quả hơn. Lúc này các đối tợng chính sách đợc hởng u đãi
tín dụng hiểu đợc việc phải hoàn trả nợ đối với ngân hàng sẽ chú trọng hơn đến việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, do đó sẽ có biện pháp cải tiến kỹ năng lao động tay

5
nghề . Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định tài chính của các đối tợng chính
sách và từng bớc làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ.
1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.2.1 Bản chất rủi ro tín dụng
Trong cơ chế thị trờng, sự ra đời và phát triển các loại hình ngân hàng, các tổ
chức tín dụng cùng với tính đa dạng của các hoạt động và hình thức tín dụng đã tạo nên
một thị trờng tín dụng sôi động. Nhng điều này cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có
thể xảy ra với các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng mà khả năng ngăn ngừa và chống
đỡ rủi ro kém.
Rủi ro tín dụng là đặc trng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong mọi hoạt động
ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng ngời đi vay không có khả năng
hoàn trả đợc, không ttả đúng hạn hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của
ngân hàng thơng mại - hoạt động tín dụng. Chúng ta biết rằng, tín dụng là quan hệ vay
mợn dới dạng tiền tệ có hoàn trả gốc và lãi giữa ngời có vốn và ngời thiếu vốn. Cũng có
ngời cho rằng, quyền cho vay là của ngân hàng và quyền trả nợ "thực tế" là của ngời
vay. Chính vì vây, đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát đợc khả năng trả
nợ "thực tế" đó của khách hàng, ít nhất cũng là dự tính, phán đoán khả năng, mức độ.
Quan hệ tín dụng là quan hệ kinh tế bình đẳng giữa ngời cho vay và ngời đi vay, là sự
cam kết thoả thuận bằng các điều khoản thi hành, đợc thể hiện trong các hợp đồng tín
dụng. Sự cam kết này chính là cơ sở pháp lý cơ bản để thực hiện các nghĩa vụ của hai
bên tham gia hoạt động tín dụng. Nó là cơ sở pháp lý để thực hiện các bảo đảm tín
dụng. Bên cạnh đó, các bên tham gia hoạt động tín dụng còn những cam kết khác, bằng
các hành vi hay năng lực kinh tế, thể hiện dới các hình thức đảm bảo nợ vay, có thể
bằng vật chất hay uy tín nh các tài sản thế chấp, cầm cố, ký quỹ và bảo lãnh. Thế nhng,
trên thực tế, mặc dầu các khoản tín dụng giữa ngân hàng và ngời vay đều đợc xác lập
theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng nhng tình trạng vi phạm cam kết đó xảy ra
khá phổ biến, kể cả trong trờng hợp ngời vay có năng lực tài chính để thực hiện các

6
điều khoản cam kết đó. Thậm chí, ngay cả trờng hợp có đảm bảo nợ vay nh thế chấp,
cầm cố tình trạng rủi ro tín dụng vẫn xảy ra, do tài sản dùng làm đảm bảo nợ vay gặp
rủi ro về giá trị vì những biến động về thời gian và thị trờng. Điều đó có nghĩa là, một
khi còn có hoạt động ngân hàng thì còn có rủi ro trong hoạt động tín dụng và buộc ngời
ta phải nghĩ đến việc dành một khoản tiền gọi là quỹ dự phòng để bù đắp khi có rủi ro
xảy ra.
1.2.2 Các hình thức RRTD.
Để xem xét RRTD ngời ta thờng sắp xếp và phân loại chúng. Căn cứ vào khả
năng khách hàng không trả nợ cho ngân hàng trên cả hai khía cạnh: thời gian và số lợng
thì ta có thể phân chia tín dụng thành hai loại RRTD sau:
+ Rủi ro mất vốn:
Khi khách hàng không trả một phần hoặc toàn bộ khoản tín dụng (xét trên khía
cạnh số lợng), từ đó làm giảm vốn tự có của NHTM và làm giảm sức mạnh tài chính
của ngân hàng.
+ Rủi ro ứ đọng vốn:
Khi khách hàng không có khả năng hoàn trả đúng hạn làm cho các khoản cho
vay của ngân hàng bị bất động hoá (xét trên khía cạnh thời gian). Từ đó gây ra những
chi phí cơ hội cho ngân hàng. Phần nguồn vốn đã huy động để cho ngân hàng vay vẫn
phải trả lãi (trả lãi tiền gửi, trả lãi cho các giấy tờ có giá, trả lãi các khoản vay, trả cổ
tức cho cổ tức cho cổ đông ) nhng lãi lại không tạo đợc từ nguồn thu cung ứng.
1.2.3 Nguyên nhân gây ra RRTD:
Trong hoạt động tín dụng, có rất nhiều nguyên nhân có thể gây ra rủi ro tín dụng
song có thể tạm phân thành 3 nhóm sau:
1.2.3.1. Rủi ro xảy ra do nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới ngời vay, làm họ bị tổn thất
không trả đợc nợ và ngân hàng phải gánh chịu rủi ro. Rủi ro tín dụng có thể do các
nguyên nhân: thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, sự suy thoái kinh tế của từng ngành hoặc

7
cả nớc, sự thay đổi chính sách của nhà nớc với ngân hàng và với ngời vay, sự thay đổi
của các văn bản pháp lý, sự mất ổn định về chính trị xã hội (đình công, bãi công ) vợt
quá tầm kiểm soát của ngời vay lẫn ngời cho vay.
Những thay đổi này thờng xuyên xảy ra, tác động liên tục tới ngời vay, tạo thuận
lợi hoặc khó khăn cho ngời vay. Nhiều ngời vay, với bản lính của mình có khả năng dự
báo, thích ứng hoặc khắc phục những khó khăn. Trong những trờng hợp khác, ngời vay
có thể bị tổn thất song vẫn có khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi.
Tuy nhiên, khi tác động của những nguyên nhân bất khả kháng đối với ngời vay là nặng
nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm.
1.2.3.2. Rủi ro do nguyên nhân thuộc về chủ quan ngời vay
Về phía ngời vay, rủi ro tín dụng có thể chia làm 2 nhóm: không gian lận và
gian lận.
Với nhóm không gian lận, các nguyên nhân có thể xảy ra:
- Trình độ quản lý kinh doanh của ngời vay cha tốt, có thể nói là yếu kém. Đây
là nguyên nhân chủ yếu nhất.
- Bị bạn hàng lừa đảo thông qua hoạt động kinh tế.
- Bị bạn hàng gặp khó khăn tạo nên phản ứng dây chuyền
Với nhóm gian lận, có các nguyên nhân sau:
- Ngời vay sử dụng tiền sai mục đích, không sinh lời hoặc ứ đọng vào tài sản
không có nguồn tài trả nợ.
- Ngời vay cố tình gian lận số liệu trong hồ sơ vay nh báo cáo tài chính, hợp
đồng kinh tế, phơng án sử dụng tiền vay, giấy tờ pháp lý về tài sản bảo đảm.
- Ngời vay có tính chây ỳ, chậm trả để chiếm dụng, quay vòng vốn.
Ngời vay có tính lừa đảo, chiếm đoạt vốn, bỏ trốn hi vọng rằng sẽ quỵt đợc nợ.
1.2.3.3 Rủi ro do nguyên nhân thuộc về ngân hàng
Những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong trờng hợp này có thể do:
- Trình độ cán bộ xét duyệt cho vay yếu kém, thiếu các thông tin cần thiết để
thẩm định cho vay, không phát hiện đợc gian lận lừa đảo hoặc vô tình làm không đúng
quy trình, quy định xử lý nghiệp vụ dẫn đến tổn thất.

8
- Do cán bộ ngân hàng thiếu trách nhiệm và vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cố
tình làm không đúng, làm sai quy định để trục lợi cá nhân hoặc vì một lợi ích nào đó.
Và có trờng hợp cán bộ ngân hàng tiếp tay, tham gia cùng khách hàng hoặc tự cán bộ
ngân hàng lừa đảo lấy tiền ngân hàng.
- Do mạo hiểm trong kinh doanh, biết đợc rủi ro nhng coi thờng hậu quả có thể
xảy ra, vẫn cho vay khi thu đợc lãi suất tơng đối hấp dẫn.
* Trong các nhóm nguyên nhân trên thì rủi ro do nhóm nguyên nhân thứ nhất
(do nguyên nhân bất khả kháng) là khó phòng tránh nhất. Tuy nhiên, cũng có thể giảm
bớt tổn thất khi dự đoán đúng xu hớng để thực thi chính sách phân tán rủi ro hợp lý.
Tổn thất do nguyên nhân thuộc nhóm này gây ra thờng chiếm tỷ trọng không lớn và các
ngân hàng thơng mại thờng đợc chia sẻ rủi ro bởi các công ty bảo hiểm hoặc đợc Nhà
nớc giúp đỡ.
Rủi ro do nhóm nguyên nhân thứ hai (do khách hàng vay vốn) luôn chiếm tỷ
trọng lớn nhất và là chủ yếu trong hoạt động tín dụng. Việc phòng tránh nhóm rủi ro
này là vô cùng khó khăn, phức tạp vì ngân hàng có rất nhiều khách hàng với tính cách,
bản chất, trình độ khác nhau, sản xuất - kinh doanh ở các ngành nghề, lĩnh vực khác
nhau.
Rủi ro do nhóm nguyên nhân thứ ba (do chủ quan ngân hàng) thờng chiếm tỷ
trọng nhỏ hoặc phải kết hợp với nhóm nguyên nhân thứ hai. Tuy nhiên, hậu quả của nó
thờng khó khắc phục, đặc biệt là khi có sự cấu kết, thông đồng giữa cán bộ ngân hàng
và khách hàng để vụ lợi, lừa đảo.
1.2.4 Những dấu hiệu của rủi ro tín dụng
1.2.4.1. Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là dấu hiệu đầu tiên và dễ gây ra rủi ro cho nhà ngân hàng . Vì vậy
nói đến ngân hàng , nói đến rủi ro tín dụng thì phải nói tới nợ quá hạn.
Có thể hiểu nợ quá hạn là một khoản tín dụng đợc nhng không thể thu hồi đúng
thời hạn do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau.
Nh chúng ta đã biết, Ngân hàng thơng mại là một trung gian tài chính, là chiếc
cầu giao lu kinh tế nối bên thừ vốn với bến thiếu vốn tạo điều kiện cho sản xuất và tái

9
sản xuất diến ra trôi chảy, chính vì vậy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
trực tiếp ảnh hởng đến thu nhập của ngân hàng và khách hàng. Song xét tầm vĩ mô, nó
còn ảnh hởng đến cả nền kinh tế. Do đó nếu nợ quá hạn xảy ra sẽ gây ra khó khăn cho
hoạt động của ngân hàng, khách hàng và rộng hơn nền kinh tế sẽ thiếu vốn trong một
phạm vi thời gian nhất định, nếu nợ quá hạn xảy ra ở quy mô lớn và việc thu hồi gặp
khó khăn có thể sẽ gây áp lực đến lạm phats, làm giá cả tăng, nền kinh tế bất ổn.
* Các loại nợ quá hạn.
Dựa vào khả năng có thể thu hồi chúng ta chia nợ quá hạn thành:
a) Nợ quá hạn có khả năng thu hồi.
Trớc khi thực hiện một mục đích kinh doanh nào đó, các cá nhân, doanh nghiệp
thờng xây dựng một kế hoạch sản xuất kinh doanh trong đó các vấn đề liên quan đợc
xem xét cẩn thận đó là chi phí, thu nhập khi ngân hàng xem xét thấy kế hoạch là khả
thi, Ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho khách hàng. Song trong quá trình thực hiện kế
hoạch kinh doanh của mình khách hàng có gặp những khó khăn nhất thời thì cũng là
điều dễ hiểu trong trờng hợp này khách hàng thờng xin ra hạn nợ vì cha có khả năng chi
trả. Món tín dụng này đợc con là một món nợ quá hạn có khả năng thanh toán vì trong
thực tế khách hàng gặp phải sự bất thuận lợi trong kinh doanh do thời điểm tung hàng
ra bán không phù hợp với tính thời vụ khiến hàng bị tồn kho; hàng đã bán đợc song bên
mua còn chậm thanh toán trong khi tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
là tốt, không có biến động lớn. Sau khi khách hàng (doanh nghiệp) thu hồi đợc nợ hoặc
bán đợc hàng sẽ thanh toán cho ngân hàng. Nh vậy, Món nợ quá hạn này còn có khả
năng thu hồi.
b) Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi.
Loại này thờng có ở các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, quản lý yếu
kém, vi phạm nguyên tắc chế độ tài chính, sử dụng vốn tín dụng sai mục đích, tham ô
cố ý làm trái một số khác do sự thay đổi của cơ chế chính sách, thiên tai bão lụt các
doanh nghiệp đến kỳ hạn trả nợ nhng không có khả năng thanh toán với ngân hàng,
phải xin ra hạn hoặc tìm cách "đảo nợ". Khả năng thu hồi vốn của ngân hàng trong
những trờng hợp này là rất hiếm.

10
* Nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn.
- Các nguyên nhân bất khả kháng nh thiên tai, hoả hoạn đây chính là rủi ro mà
cả bên ngân hàng cũng nh khách hàng không thể lờng trớc đợc đối với khoản tín dụng
của mình, khi rủi ro xảy ra, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp cú sốc, đối với
khách hàng "mạnh" thì cũng phải có thời gian để ổn định sản xuất kinh doanh mới có
khả năng trả nợ ngân hàng còn với khách hàng "yếu" thì khoản tín dụng trên lâm vào
tình trạng xấu, khách hàng rất có thể chậm trả và thậm chí không có khả năng trả nợ
gây ra gánh nặng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.
- Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích: Việc khách hàng sử dụng vốn sai
mục đích cũng thờng xảy ra. Một số trờng hợp gặp thuận lợi, kinh doanh có lãi song
một số do sử dụng sai mục đích đã tự gây ra những khó khăn tài chính cho mình đó là
những khách hàng ham lợi lớn, sau khi vay đợcvốn ngân hàng thì chuyển hớng kinh
doanh sản xuất, hay khi vốn vay hết vòng nhng cha đến thời hạn trả nợ đem sử dụng
vào mục đích kinh doanh khác nhng kinh doanh thua lỗ hoặc đến kỳ hạn trả nợ cha thu
hồi đợc vốn khiến các khoản tín dụng Ngân hàng không đợc trả nợ đúng hạn.
- Về phía ngân hàng, khi cho vay cán bộ tín dụng đã vi phạm các nguyên tắc tín
dụng:
+ Vốn vay phải đợc sử dụng đúng mục đích hiệu quả
+ Vốn vay phải có vật t, hàng hoá tơng đơng bảo đảm.
+ Vốn vay phải đợc hoàn trả cả gốc, lãi đúng thời hạn.
Đây là 3 nguyên tắc quan trọng cần linh hoạt áp dụng song vì quá lạm dụng sự
linh hoạt này mà gây ra "trục trặc" đối với vốn tín dụng của ngân hàng.
- Đánh giá phơng án kinh doanh của khách hàng không tốt: Đây là cơ sở để khách
hàng có thể lợi dụng mà vay quá khối lợng tín dụng cần thiết cho phơng án kinh doanh
của mình để sử dụng sai mục đích hay vì hạn chế trong lĩnh vực thẩm định dự án của
khách hàng mà ngân hàng không phát hiện đợc những lỗi trong dự án để kịp thời góp ý
với khách hàng có hớng điều chỉnh cho dự án
- Định kỳ hạn nợ không phù hợp: Do ít hiểu biết về hoạt động sản xuất kinh doanh
của khách hàng, về ciệc chu chuyển vật t hàng hoá, tiền vốn của đơn vị mà ngời cán

11
bộ tín dụng định kỳ hạn nợ không hợp lý. Nếu kỳ hạn nợ nhỏ hơn thời gian 1 vòng quay
của vốn khiến khách hàng không có khả năng trả nợ đungs hạn gây ra nợ quá hạn hoặc
định kỳ hạn lớn hơn thời gian quay vòng của vốn, khi kết thúc vòng quay vốn, khách
hàng thu đợc vốn và lãi song do cha đến kỳ hạn trả, họ lại đầu t vào vòng quay khách
hay mục đích khách khiến đến hạn nợ khách hàng cũng cha có khả năng thanh toán.
* Đối với ngân hàng nợ quá hạn xảy ra sẽ ảnh hởng đến sự an toàn hiệu quả đồng
vốn tín dụng. Trong trờng hợp nghiêm trọng nh khách hàng khôgn thể trả nợ, khách
hàng bị phá sản thì ngân hàng có thể bị mất trắng khoản tín dụng đó.
Nợ quá hạn sẽ làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng, ảnh hởng đến việc điều
hoà vốn trong kinh doanh tín dụng của ngân hàng. nếu tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng
d nợ cao để dẫn tới mất khả năng thanh toán của ngân hàng và nghiêm trọng hơn có thể
dẫn tới xụp đổ, phá sản của ngân hàng đó. Do ngân hàng là một trung gian tài chính,
hoạt động của nó mang tính rộng khắp với mạng lới chằng chịt các mối quan hệ với các
doanh nghiệp khác, Ngân hàng khác nên sự đổ vỡ của một ngân hàng tất yếu sẽ tác
động tiêu cực đến cả hệ thống ngân hàng cũng nh toàn bộ nền kinh tế xã hội.
* Đối với xã hội nợ quá hạn ở mức độ thấp sẽ không gây những tác động lớn song
nếu nợ quá hạn cao sẽ dẫn tới sự khan hiếm vốn một cách giả tạo gây áp lực đối với lạm
phát. Sự lu thông của vốn tín dụng bị tắc nghẽn khiến vốn tín dụng không tiếp tục đến
đợc nơi cần vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh gây sự đình đốn, rối loạn trong sản
xuất ảnh hởng tới kinh tế xã hội nói chung và các cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh nói
riêng.
1.2.4.2 Một số dấu hiệu khác.
Rủi ro tín dụng thờng ẩn chứa trong những món vay có vấn đề đợc thể hiện
bằng nhiều dấu hiệu ,nhng không có một mô hình nhất định nào có thể mô tả chính
xác, đầy đủ những dấu hiệu cho thấy rủi ro tín dụng sẽ xảy ra trong tơng lai. Tuy nhiên,
trải qua quá trình thực tiễn hoạt động tín dụng, ngời ta đa thống kê dợc một số dấu hiệu
để chỉ ra những khó khăn về tài chính của ngời vay và nó có vai trò cảnh báo đối với
cán bộ tín dụng, đó là:
-Việc trì hoãn nộp các báo cáo tài chính của ngời vay

12
Việc trì hoan nộp các báo cáo tài chính có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau
nhng chúng ta phải xem xét đến nguyên nhân chính đó là do tình hình hoạt động kinh
doanh của ngời vay đa có dấu hiệu không bình thờng nên họ không muốn để cho ngân
hàng biết sớm tình hình tài chính đang sút kém của họ.
- Mối quan hệ giữa ngân hàng và ngời vay thay đổi
Đó là sự chậm chễ trong việc dàn xếp các cuộc viếng thăm của ngân hàng đối với
doanh nghiệp, nhằm giúp cho ngân hàng kiểm tra, giám sát những nghia vụ của ngời
vay đối với khoản vay.
- Hàng tồn kho của ngời vay tăng lên quá mức bình thờng, các khoản công nợ
cũng gia tăng
- Chất lợng sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp giảm sút ,khách hàng của
họ không còn tín nhiệm nh trớc nữa dẫn đến phải bán hàng với thời hạn trả tiền lâu hơn,
hoặc bán cho cả khách hàng yếu kém về tài chính,có khả năng thanh toán thấp
- Hoản trả nợ vay không đúng hạn hoặc lai vay không thanh toán đúng kỳ hạn
- Thay đổi về cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh
Vấn đề này đợc biểu hiện qua một số hình thức nh:Thu hẹp qui mô sản xuất và
chủng loại sản phẩm ,công nhân nghỉ việc,bán bớt tài sản hoặc một số vụ việc nh sa
thải những can bộ chủ chốt trong doanh nghiệp
- Các thảm hoạ về thiên nhiên nh bao lụt, hoả hoạn ,cháy rừng v.v.
1.2.5 ảnh hởng của rủi ro tín dụng
Tín dụng là hoạt động chủ yếu, hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thơng
mại. Đi liên với nó là rủi ro trong hoạt động tín dụng. Rủi ro tín dụng là khách quan, là
không thể tránh khỏi. Rủi ro tín dụng là bạn đờng trong kinh doanh, có thể đề phòng,
hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn đợc xác định trớc trong
chiến lợc kinh doanh. Có rất nhiều lý do khiến ngời ta phải quan tâm đến vấn đề rủi ro
trong hoạt động tín dụng. Sở dĩ nh vậy là do rủi ro tín dụng nếu không đợc dự kiến trớc
sẽ gây ra nhiều ảnh hởng bất lợi cho cả ngân hàng lẫn ngời gửi tiền vào ngân hàng.

13
Nếu một khoản cho vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi đợc thì ngân hàng phải
sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho ngời gửi tiền. Trờng hợp không đủ nguồn
vốn để trả lại cho ngời gửi tiền, ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh
toán, thậm chí phá sản. Vì hoạt động ngân hàng có tính xã hội hoá cao nên dù chỉ một
ngân hàng có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng không đợc ứng cứu kịp thời của
ngân hàng trung ơng thì có thể gây ra "phản ứng dây chuyền", đe doạ đến cả hệ thống
ngân hàng.
Rủi ro tín dụng tăng lên làm chi phí của ngân hàng tăng cao ngoài dự kiến, thu
nhập giảm sút, phần nộp vào ngân sách nhà nớc giảm. Việc tích luỹ để đầu t hiện đại
hoá công nghệ và đầu t đào tạo lại cán bộ, nâng cao trình độ gặp nhiều khó khăn về
kinh phí. Ngân hàng bị mất vốn, phải khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí là xoá nợ; ngoài
một phần ngân sách Nhà nớc cấp bù thì phần chủ yếu do ngân hàng phải trích lập
phòng ngừa rủi ro nên thu nhập bị giảm.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng cao khiến cho uy tín trong nớc và uy tín quốc tế của ngân
hàng bị giảm sút. Điều này cũng gây tâm lý hoang mang, dao động cho cán bộ ngân
hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng.
Có thể nói, rủi ro tín dụng là rất nguy hiểm nếu vợt ra ngoài dự kiến. Nó có ảnh h-
ởng đến toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là làm thế
nào để có thể quản lý cẩn thận loại rủi ro này.
1.2.6 Các dấu hiệu nhận biết RRTD.
Trong các dấu hiệu báo động RRTD thì có dấu hiệu biểu hiện mờ nhạt, có dấu
hiệu biểu hiện rất rõ ràng. Điều quan trọng là ngân hàng phải có cách để nhận ra những
dấu hiệu ban đầu của những khoản vay có vấn đề đó, Đồng thời có những hành động
cần thiết để ngăn ngừa hoặc sử lý chúng. Nhng những dấu hiệu này không phải nhận ra
ngay trong một thời điểm mà phải qua một quá trình. Do đó, cán bộ tín dụng cần biết
cách nhận biết chúng một cách có hệ thống.
Các đấu hiệu tín dụng đợc sắp xếp theo các nhóm sau:
+ Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng.

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét