3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
việc làm nông thôn nói riêng;
- Đánh giá thực trạng việc làm của lao động nông thôn trên địa bàn huyện
Phú Lƣơng;
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao
động nông thôn huyện Phú Lƣơng trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là các vấn đề liên quan đến việc làm và nhu cầu
việc làm của ngƣời lao động nông thôn trên địa bàn huyện Phú Lƣơng tỉnh
Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài chủ yếu nghiên cứu về thực trạng của lao
động nông thôn huyện Phú Lƣơng, tìm ra những tồn tại khó khăn và nhƣng
thuận lợi, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp kinh tế chủ yếu, kết hợp với
các giải pháp về khoa học kỹ thuật và giải pháp xã hội.
- Phạm vi không gian: Đề tài đƣợc tiến hành nghiên cứu tại địa bàn
huyện Phú Lƣơng.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung thu thập và nghiên cứu số liệu thứ cấp
thời kỳ 2005 – 2007, số liệu sơ cấp đƣợc thu thập ở các hộ nông dân năm 2007.
4. Ý nghĩa khoa học và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, là tài liệu
giúp huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên xây dựng quy hoạch phát triển
nguồn nhân lực, thực hiện hiệu quả chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội,
xoá đói giảm nghèo và đẩy lùi các tệ nạn xã hội trên địa bàn.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
gồm 3 chƣơng:
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về vấn đề việc làm cho lao động nông thôn
và phƣơng pháp nghiên cứu
Chƣơng 2: Thực trạng việc làm của lao động nông thôn huyện Phú
Lƣơng tỉnh Thái Nguyên
Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm
của lao động nông thôn huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ VIỆC LÀM
1.1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về nông thôn và việc làm của lao động
nông thôn
a, Khái niệm, đặc điểm của nông thôn
* Khái niệm: Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng
đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc, có mật độ dân cƣ thấp, có cơ
cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trƣờng và sản xuất hàng
hóa thấp hơn [1].
* Đặc điểm nông thôn: Nông thôn nƣớc ta chiếm khoảng 76% dân số cả
nƣớc. Đây thực sự là một lực lƣợng lao động bị chi phối lớn trong ngành sản xuất
vật chất.
Nói đến nông thôn là nói đến nông dân, những ngƣời hoạt động sản xuất
nông lâm nghiệp. Nhƣ vậy nông dân là tầng lớp đông đảo nhất sinh sống và làm
việc ở nông thôn. Nông dân Việt Nam cũng nhƣ nông dân trên thế giới là lực
lƣợng sản xuất trực tiếp ra lƣơng thực, thực phẩm cho nhân loại, nhƣng lại là
những ngƣời rơi vào tình trạng thiếu đói.
Xuất phát từ đặc điểm nông thôn nƣớc ta trải dài khắp lãnh thổ, địa lý và
điều kiện tự nhiên khác nhau mà sự phân bố dân cƣ và mật độ dân cƣ khác nhau.
Việc dân cƣ phân tán, phân bố không đồng đều là những trở ngại trong phát triển
kinh tế xã hội và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân.
Nhƣ vây những đặc điểm khác nhau về địa lý, địa hình, về điều kiện tự
nhiên, văn hóa xã hội mà nông thôn, nông dân nƣớc ta có những nét đặc trƣng
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
riêng trong phát triển kinh tế xã hội.
b, Khái niệm về lao động và lao động nông thôn
* Khái niệm về lao động
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm lao động, nhƣng suy
cho cùng lao động là hoạt động đặc thù của con ngƣời, phân biệt con ngƣời
với con vật và xã hội loài ngƣời và xã hội loài vật. Bởi vì, khác với con vật,
lao động của con ngƣời là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế
giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho
nhu cầu đời sống của con ngƣời. Theo C.Mác “Lao động trƣớc hết là một quá
trình diễn ra giữa con ngƣời và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt
động của chính mình, con ngƣời làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao
đổi chất giữa họ và tự nhiên” [5].
Ph.Ăng ghen viết: “Khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi
của cải. Lao động đúng là nhƣ vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cung cấp
những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhƣng lao động còn là
một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên
của toàn bộ đời sống loài ngƣời, và nhƣ thế đến một mức mà trên một ý nghĩa
nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân loài ngƣời” [5].
Nhƣ vậy, có thể nói lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của
con ngƣời, trong quá trình lao động con ngƣời vận dụng sức lực tiềm tàng
trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tƣợng
lao động nhằm biến đổi nó phù hợp với nhu cầu của mình. Nói cách khác,
trong bất kỳ nền sản xuất xã hội nào, lao động bao giờ cũng là điều kiện để
tồn tại và phát triển của xã hội.
* Khái niệm lao động nông thôn: Lao động nông thôn là những ngƣời
thuộc lực lƣợng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn [5].
* Đặc điểm của lao động nông thôn
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lao động nông thôn có những đặc điểm cơ bản sau:
- Trình độ thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp.
Điều này ảnh hƣởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế.
- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng nhƣ trình độ tiếp cận thị
trƣờng thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hƣởng đến khả năng tự tạo việc làm của
lao động.
- Lao động nông thôn nƣớc ta còn mang nặng tƣ tƣởng và tâm lý tiểu
nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thƣờng bảo thủ và thiếu năng động.
Tất cả những hạn chế trên cần đƣợc xem xét kỹ khi đƣa ra giải pháp tạo
việc làm cho lao động nông thôn.
c, Khái niệm về lực lượng lao động và sức lao động
* Khái niệm lực lƣợng lao động
- Lực lƣợng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động và có nhu cầu lao động [3].
- Lực lƣợng lao động nông thôn là bộ phận dân số trong và ngoài độ
tuổi lao động, thuộc trong khu vực nông thôn, có khả năng lao động và có nhu
cầu lao động [3].
* Khái niệm về sức lao động: Sức lao động là toàn bộ thể lực, trí lực và
tâm lực tồn tại trong con ngƣời và có khả năng bỏ ra để hoàn thành công việc
trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định [3].
d, Khái niệm về việc làm và thất nghiệp
* Khái niệm về việc làm
- Việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam là những hoạt
động lao động tạo ra nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm.
Theo quy định của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội điều 13 quy
định: Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị
pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm. Giải quyết việc làm đảo bảo
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
cho mọi ngƣời có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm
của Nhà nƣớc và toàn xã hội.
- Trong cơ chế thị trƣờng hiện nay
Ở Việt Nam trƣớc đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao
cấp, ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm và đƣợc xã hội thừa nhận, trân
trọng là ngƣời làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (Quốc
doanh, tập thể). Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành
phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp
Ngày nay các quan niệm về việc làm đã đƣợc hiểu rộng hơn, đúng đắn
và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con ngƣời nhằm tạo ra thu nhập, mà
không bị pháp luật cấm. Điều 13, chƣơng II Bộ luật Lao động quy định: “Mọi
hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều đƣợc
thừa nhận là việc làm” [13].
Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động đƣợc hiểu nhƣ sau:
+ Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng hoặc hiện vật cho công
việc đó.
+ Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo
thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không đƣợc trả
công bằng hiện vật.
Theo khái niệm trên, một hoạt động đƣợc coi là việc làm cần thoả mãn
hai điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động
và các thành viên trong gia đình.
Hai là, ngƣời lao động đƣợc tự do hành nghề, hoạt động đó không bị
pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Hai điều kiện này có quan hệ chặt với nhau, là điều kiện cần và đủ của
một hoạt động đƣợc thừa nhận là việc làm quan niệm đó đã góp phần mở rộng
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
quan niệm về việc làm, khi đa số lao động đƣơng thời chỉ muốn chen chân
vào trong các doanh nghiệp, cơ quan nhà nƣớc. Về mặt khoa học, quan điểm
của Bộ luật lao động đã nêu đầy đủ yếu tố cơ bản nhất của việc làm .
* Khái niệm về thất nghiệp
- Ở Việt Nam
+ Theo "Thực trạng lao động việc làm" của Bộ Lao động - Thƣơng
binh - Xã hội: Người thất nghiệp là những người thuộc lực lượng lao động có
khả năng lao động trong trong tuần lễ điều tra không có việc làm, có nhu cầu
về việc làm nhưng không tìm được việc làm [23].
+ Quan điểm của các nhà kinh tế học
Thất nghiệp là hiện tƣợng gồm những phần mất thu nhập, do không có
khả năng tìm đƣợc việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan mô giới về lao động
nhƣng chƣa đƣợc giải quyết.
Nhƣ vậy, những ngƣời thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lƣợng lao
động hay dân số hoạt động kinh tế. Một ngƣời thất nghiệp phải có 3 tiêu chuẩn:
+ Đang mong muốn và tìm việc làm
+ Có khả năng làm việc
+ Hiện đang chƣa có việc làm
Với cách hiểu nhƣ thế, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhƣng
chƣa làm việc đều đƣợc coi là thất nghiệp. Do đó một tiêu thức quan trọng để
xem xét một ngƣời đƣợc coi là thất nghiệp thì phải biết đƣợc ngƣời đó có
muốn đi làm hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều ngƣời có sức khoẻ, có nghề
nghiệp song không có nhu cầu làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự
trữ” nhƣ kế thừa của bố mẹ, nguồn tài trợ.
+ Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO).
Theo khái niệm của tổ chức lao động Quốc Tế (ILO), thất nghiệp (Theo
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số ngƣời trong độ tuổi lao động
muốn có việc làm nhƣng không thể tìm đƣợc việc làm ở mức tiền công nhất
định.Ngƣời thất nghiệp là ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động,
không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm [27].
* Phân loại thất nghiệp
Thất nghiệp đƣợc phân thành các loại sau:
+ Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp khi có một tỷ lệ nhất định
số lao động ở trong tình trạng không có việc làm.
+ Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển
không ngừng của ngành lao động giữa các vùng, giữa các loại công việc hoặc
giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống.
+ Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối
giữa cầu - cung lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó.
+ Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị
tổng sản lƣợng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh
doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần hầu hết các nhà sản xuất giảm sản lƣợng
cầu đối với các đầu vào, trong đó có lao động. Đối với loại thất nghiệp này,
những chính sách nhằm khuyến khích tăng cầu thƣờng mang lại kết quả tích cực.
Xét về tính chủ động của ngƣời lao động, thất nghiệp có thể chia thành:
+ Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công nào
đó ngƣời lao động không muốn làm việc vì lý do cá nhân nào đó (di chuyển,
sinh con) thất nghiệp loại này thƣờng gắn với thất nghiệp tạm thời.
+ Thất nghiệp không tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền
công nào đó ngƣời lao động chấp nhận nhƣng vẫn không đƣợc làm việc do
kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động.
Ngoài thất nghiệp hữu hình bao gồm thất nghiệp tự nguyện và không tự
nguyện còn tồn tại thất nghiệp trá hình:
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Thất nghiệp trá hình: Là hiện tƣợng xuất hiện khi ngƣời lao động
đƣợc sử dụng ở dƣới mức khả năng mà bình thƣờng ngƣời lao động sẵn sàng
làm việc. Hiện tƣợng này xẩy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó
thấp. Thất nghiệp loại này thƣờng gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao
động [27].
Xét theo hình thức thất nghiệp có thể chia thành:
+ Thất nghiệp theo giới tính: Là loại thất nghiệp của lao động nam (hoặc nữ)
+ Thất nghiệp chia theo lứa tuổi: Là loại thất nghiệp của một lứa tuổi
nào đó trong tổng số lực lƣợng lao động
+ Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tƣợng thất nghiệp xẩy
ra thuộc vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi).
+ Thất nghiệp chia theo ngành nghề: Là loại thất nghiệp xẩy ra ở một
ngành nghề nào đó [27].
Ngoài các loại thất nghiệp nêu trên ngƣời ta có thể chia thất nghiệp
theo dân tộc, chủng tộc, tôn giáo
e, Khái niệm về thiếu việc làm và tạo việc làm mới
* Khái niệm về thiếu việc làm
Ngƣời thiếu việc làm gồm những ngƣời trong tuần lễ có tổng số giờ
làm việc dƣới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc ít hơn giờ quy định đối với các
công việc theo quy định hiện hành của Nhà nƣớc. Họ có nhu cầu làm thêm
giờ và sẵn sàng làm việc nhƣng không có việc để làm, hoặc họ có nhu cầu
làm việc và sẵn sàng làm việc nhƣng không tìm đƣợc việc làm.
+ Tổng số giờ làm việc/tuần < 40 giờ
+ Có nhu cầu làm việc thêm giờ
+ Nhƣng không có việc để làm
+ Nhƣng không tìm đƣợc việc làm.
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Phân loại:
Thiếu việc làm hữu hình: Là khái niệm để chỉ hiện tƣợng ngƣời lao
động làm việc có thời gian ít hơn thƣờng lệ, họ không đủ việc làm đang tìm
kiếm thêm việc làm và sẵn sàng để làm việc.
Tình trạng việc làm hữu hình đƣợc biểu thị bởi hàm số sử dụng thời
gian lao động nhƣ sau:
K =
Số giờ làm việc thực tế
x 100% (Tính theo ngày, tháng, năm)
Số giờ quy định
Thiếu việc làm vô hình: Là những ngƣời có đủ việc làm, làm đủ thời
gian thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thƣờng nhƣng thu nhập thấp,
nguyên nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của ngƣời lao
động thấp không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tồi,
tổ chức lao động kém. Thƣớc đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu
nhập thấp hơn mức lƣơng tối thiểu [5].
* Khái niệm tạo việc làm mới
Tạo việc làm cho ngƣời lao động là đƣa ngƣời lao động vào làm việc
để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tƣ liệu sản xuất, tạo ra hàng
hóa và dịch vụ theo yêu cầu thị trƣờng [7].
Vấn đề tạo việc làm cho ngƣời lao động là một vấn đề rất phức tạp
nhƣng rất cần thiết cho mỗi quốc gia, mỗi địa phƣơng phải luôn quan tâm.
Việc tạo việc làm cho ngƣời lao động chịu ảnh hƣởng của rất nhiều yếu tố
khác nhau. Vì vậy khi xem xét để đƣa chính sách tạo việc làm cho ngƣời lao
động cần phải quan tâm đến nhiều nhân tố.
Thị trƣờng lao động chỉ có thể đƣợc hình thành khi ngƣời lao động và
ngƣời sử dụng lao động gặp gỡ trao đổi đi đến nhất trí vấn đề sử dụng sức lao
động. Do vậy vấn đề tạo việc làm phải đƣợc nhìn nhận ở cả ngƣời lao động và
ngƣời sử dụng lao động đồng thời không thể không kể đến vai trò của Nhà
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét