Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Tổng quan về các hoạt động của WTO liên quan tới thương mại điện tử


5
tại các kỳ họp của mình. Đại Hội đồng sẽ chịu trách nhiệm xem xét các vấn đề chung
liên quan tới thương mại điện tử, cân nhắc mọi vấn đề liên quan tới thương mại và liên
quan tới nhiều cơ quan chuyên môn. Đặc biệt, mọi khía cạnh của Chương trình làm
việc liên quan tới việc áp thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm được cung cấp trên
mạng sẽ do chính Đại Hội đồng xem xét.

Với mục đích triển khai Chương trình làm việc, thuật ngữ “thương mại điện tử”
được hiểu là việc sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hay cung cấp hàng hoá và dịch vụ
thông qua các phương tiện điện tử. Tuy nhiên, toàn bộ các cuộc thảo luận tại Đại Hội
đồng cũng như các cơ quan chuyên môn cho thấy các thành viên WTO hiểu thương
mại điện tử theo nghĩa hẹp hơn và giới hạn ở việc cung cấp sản phẩm thông qua các
mạng điện tử, chủ yếu là Internet. Các thành viên cũng còn mơ hồ với khái niệm then
chốt trong quyết định về việc tạm thời chưa áp dụng thuế nhập khẩu. Trong văn bản
chính thức khái niệm này được thể hiện bằng cụm từ “electronic transmissons”. Nhưng
không có cách hiểu thống nhất giữa các thành viên về cụm từ này. Dựa theo toàn bộ
các tài liệu và thảo luận của các thành viên ở Đại Hội đồng cũng như ở các cơ quan
liên quan, cụm từ này có thể hiểu là các sản phẩm được cung cấp trên các mạng điện
tử, đặc biệt là Internet.

Từ tháng 5 năm 2001 tới tháng 11 năm 2005 Đại Hội đồng đã tổ chức sáu cuộc
họp chuyên đề. Hai vấn đề chủ đạo xuyên suốt các cuộc họp này là vấn đề phân loại và
các nguyên tắc định hướng cho sự phát triển của thương mại điện tử.

Việc phân loại một sản phẩm hay giao dịch nhất định là hàng hóa hay dịch vụ
có ý nghĩa lớn trong việc thực thi các hiệp định của WTO vì nó sẽ thuộc phạm vi điều
chỉnh của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) hoặc Hiệp định
chung về Thương mại Dịch vụ (GATS). Cho tới nay, toàn bộ hệ thống các hiệp định
của WTO dựa trên nguyên tắc cơ bản sau: một sản phẩm bất kỳ sẽ phải là hàng hoá
hữu hình hoặc là dịch vụ vô hình. Không một sản phẩm nào vừa là hàng hoá lại vừa là
dịch vụ, hoặc không phải là hàng hoá mà cũng không phải là dịch vụ. Nếu một sản
phẩm là hàng hoá thì nó sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của GATT, trong trường hợp
ngược lại nó sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS.

Do sự phức tạp, mới mẻ và thay đổi mau lẹ của thương mại điện tử nên cho tới
nay Đại Hội đồng vẫn chưa thống nhất được sản phẩm hay giao dịch trong thương mại
điện tử, đặc biệt là các sản phẩm số hoá được cung cấp trên Internet, là hàng hoá hay
dịch vụ, hay là một dạng nào khác. Từ đó, các thành viên không thống nhất được sẽ áp
dụng hiệp định nào của WTO đối với các sản phẩm hay giao dịch này. Hơn thế nữa,
sau nhiều tranh luận bất phân thắng bại, đã xuất hiện khuynh hướng cho rằng việc
phân loại là không cần thiết: thương mại điện tử vẫn phát triển nhanh chóng cho dù
WTO không biết phân loại thế nào. EU là thành viên tích cực nhất ủng hộ quan điểm
cho rằng các sản phẩm số hoá được cung cấp trên mạng điện tử là dịch vụ.

Từ sự bế tắc trong vấn đề phân loại, Đại Hội đồng đã bị động khi thảo luận vấn
đề mang tính thực tiễn hơn do Hoa Kỳ khởi xướng, đó là WTO cần thống nhất được
các nguyên tắc định hướng cho sự phát triển thương mại điện tử. Nếu các thành viên
đều nhận thức được tầm quan trọng to lớn của thương mại điện tử đối với tăng trưởng
kinh tế và phát triển thì họ cần tạo ra môi trường tự do, không phân biệt đối xử, rõ ràng

6
minh bạch và cạnh tranh lành mạnh cho sự phát triển của nó. Một trong những nguyên
nhân quan trọng giúp cho thương mại điện tử toàn cầu phát triển nhanh chóng là có rất
ít quy định điều chỉnh lĩnh vực này. Cần phải tiếp tục duy trì hiện trạng đó và tạo ra
môi trường tự do hơn nữa thông qua cắt giảm thuế quan và tự do hoá thương mại dịch
vụ. Khi các biện pháp hạn chế thương mại hàng hoá và dịch vụ quốc tế liên quan tới
thương mại điện tử hầu như biến mất thì ý nghĩa của việc phân loại cũng không còn.
Đáng lưu ý là hướng đi thứ hai này cũng rơi vào bế tắc và Đại Hội đồng không đạt
được bất kỳ thoả thuận nào đối với cả vấn đề phân loại cũng như nguyên tắc định
hướng cho sự phát triển của thương mại điện tử.

Do sự bế tắc của Đại Hội đồng về vấn đề phân loại, các cuộc thảo luận tại Hội
đồng Thương mại Hàng hoá (CTG) và Hội đồng Thương mại Dịch vụ (CTS) diễn ra
khá sôi nổi trong giai đoạn 1998 - 2000, nhưng sau đó cũng rơi vào ngõ cụt. Đề xuất
chung của cả hai hội đồng này là WTO cần phải tiếp tục tự do hoá thương mại đối với
các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ liên quan tới thương mại điện tử nhằm tạo ra hạ
tầng tốt nhất cho sự phát triển của nó, bao gồm các sản phẩm công nghệ thông tin theo
Hiệp định ITA cũng như các dịch vụ viễn thông, dịch vụ máy tính, dịch vụ phân phối
và nhiều dịch vụ liên quan khác. Cả hai hội đồng này đều đề xuất phải nghiên cứu kỹ
hơn tác động của quy định tạm thời chưa áp dụng thuế nhập khẩu đối với các sản
phẩm được cung cấp qua biên giới trên các mạng điện tử. Một số thành viên phát triển
mong muốn biến quy định tạm thời thành vĩnh viễn với cam kết ràng buộc về pháp lý.
Mối quan tâm lớn của hai hội đồng là làm thế nào để không tạo ra sự phân biệt đối xử
giữa các sản phẩm số hóa được cung cấp trên mạng với chính các sản phẩm này được
chứa trong các vật thể hữu hình và nhập khẩu qua biên giới.

Theo Chương trình làm việc về Thương mại điện tử, Hội đồng TRIPs có nhiệm
vụ “xem xét và báo cáo các vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại điện tử”.
Những vấn đề này bao gồm bảo vệ và thực thi quyền tác giả và các quyền liên quan;
bảo vệ và thực thi thương hiệu; các công nghệ mới và sự tiếp cận tới công nghệ. Hội
đồng TRIPs đã mời đại diện của WIPO tham dự một số cuộc họp để cung cấp thông
tin về các hoạt động của WIPO gắn với thương mại điện tử.

Hội đồng TRIPS đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của tài sản trí tuệ đối với sự
phát triển của thương mại điện tử. Hoạt động thương mại diễn ra trên mạng nói chung
có nội dung tài sản trí tuệ khá cao. Việc tạo ra một môi trường pháp lý đảm bảo và dễ
dự đoán đối với các quyền sở hữu trí tuệ sẽ nuôi dưỡng sự phát triển của thương mại
điện tử. Quan điểm chung của Hội đồng là các nguyên tắc cơ bản của tài sản trí tuệ vẫn
còn tồn tại mặc dù công nghệ đang thay đổi nhanh chóng, còn ngôn ngữ được sử dụng
trong Hiệp định TRIPs nói chung trung lập với công nghệ. Một điểm đáng lưu ý là
Hiệp định TRIPs được đàm phán trước khi các tác động của các mạng số hóa toàn cầu
đối với việc bảo vệ và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ trở thành một vấn đề đối với
cộng đồng quốc tế. Quan điểm chung cũng nhất trí về tầm quan trọng của cách tiếp cận
đa phương đối với các vấn đề tài sản trí tuệ nổi lên gắn với thương mại điện tử trong
thời đại Internet.

Hội đồng TRIPs cũng thảo luận về công việc đã và đang được triển khai ở
WIPO, đặc biệt là việc tổ chức này thông qua hai hiệp ước mới về quyền tác giả và các
vấn đề liên quan vào tháng 12 năm 1996, đó là Hiệp ước Quyền tác giả và Hiệp ước về

7
Biểu diễn và Ghi âm. Hai hiệp ước này nhằm đáp lại tác động sâu sắc của sự phát triển
và hội tụ của công nghệ thông tin và viễn thông đối với việc tạo ra, sản xuất và sử
dụng các tác phẩm văn học và nghệ thuật, các chương trình biểu diễn và thu thanh.

Hội đồng TRIPs cho rằng khi thương mại điện tử phát triển sẽ nảy sinh các vấn
đề mới và phức tạp về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Cộng đồng quốc tế cần tiến hành
nghiên cứu các vấn đề này để hiểu rõ hơn về chúng.

Song song với các hoạt động của Đại Hội đồng, Hội đồng Thương mại Hàng
hóa, Hội đồng Thương mại Dịch vụ và Hội đồng TRIPS, Ủy ban Thương mại và Phát
triển (CTD) cũng triển khai nhiều cuộc họp và tiến hành một số hội thảo. Quan điểm
chung tại CTD là không phải mọi vấn đề thương mại của các nước đang phát triển có
thể được giải quyết nhờ thương mại điện tử, nhưng thương mại điện tử có thể có
những tác động tích cực tới tăng trưởng và phát triển vì làm tăng hiệu quả của các hoạt
động kinh tế và thúc đẩy sự phát triển cân bằng của nền kinh tế thế giới. Thương mại
điện tử có thể là công cụ giúp mở rộng sự tham gia của các nước đang phát triển trong
hệ thống thương mại đa biên, nhưng nếu không triển khai các hoạt động cần thiết thì
thương mại điện tử có thể vẫn nằm ngoài tầm với của các nước đang phát triển. Việc
thu hẹp khoảng cách này vừa quan trọng, vừa khẩn cấp và sẽ có lợi chung cho cả các
nước phát triển và đang phát triển.

Những khó khăn mà các nước đang phát triển phải đương đầu khi triển khai
thương mại điện tử là sự yếu kém về nguồn nhân lực và hạ tầng cơ sở, bao gồm dịch
vụ viễn thông, công nghệ thông tin và tài chính. Một trong những thử thách trong
thương mại điện tử mà các nước đang phát triển phải đương đầu là làm thế nào để tạo
ra môi trường chính sách nhằm tối đa hóa lợi ích có được từ thương mại điện tử trong
khi không làm tổn hại tới các mục tiêu chính sách công. Các nước đang phát triển cũng
cần được hỗ trợ để ban hành các chính sách và biện pháp nhằm phát triển xã hội thông
tin, nâng cao nhận thức của cả khu vực chính phủ lẫn tư nhân về lợi ích của thương
mại điện tử.

Nhìn chung, trong giai đoạn 1998 – 2000 các cơ quan liên quan của WTO đã
tích cực triển khai nhiều hoạt động theo Chương trình làm việc về Thương mại điện tử.
Tất cả các cơ quan này đều nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu những vấn
đề thuộc thẩm quyền của mình nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử.
Tuy nhiên, những vấn đề chung nhất như thuế quan, phân loại và nguyên tắc định
hướng lại thuộc thẩm quyền của Đại Hội đồng. Từ năm 2001 đến năm 2005, Đại Hội
đồng đã tổ chức nhiều cuộc họp chuyên đề nhằm tìm ra câu trả lời cho các vấn đề này
nhưng cuối cùng đã rơi vào bế tắc. Hậu quả đầu tiên là các cơ quan liên quan cũng mất
phương hướng và mọi hoạt động bị ngưng trệ từ năm 2001.

Ngay đối với Đại Hội đồng, hoạt động cuối cùng liên quan tới thương mại điện
tử diễn ra vào tháng 11 năm 2005 để chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ
sáu diễn ra tại HongKong. Từ năm 2006 tới nay Đại Hội đồng chưa tổ chức thêm hoạt
động mới nào về thương mại điện tử.

Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin đánh giá những nguyên nhân
cơ bản của tình hình này như sau:

8

1. Thương mại điện tử mới hình thành nhưng lại phát triển cực kỳ mau lẹ và liên
quan tới nhiều hiệp định của WTO, các thành viên chưa nhận thức rõ bản chất
của nó, thậm chí còn chưa thống nhất được định nghĩa thương mại điện tử là gì
và không biết phân loại các sản phẩm số hóa được cung cấp trên mạng ra sao.

2. Vòng đàm phán Doha vì Sự phát triển được phát động vào cuối năm 2001 và dự
kiến ban đầu sẽ kết thúc vào cuối năm 2004. Tuy nhiên, sự bất đồng sâu sắc về
nhiều vấn đề thương mại toàn cầu giữa các nước thành viên phát triển và đang
phát triển đã làm cho tiến trình đàm phán chậm hơn dự kiến ban đầu rất nhiều,
thậm chí rơi vào bế tắc. Do đó, mối ưu tiên hàng đầu của các thành viên là khai
thông Vòng đàm phán này, tập trung vào những vấn đề nóng bỏng như tiếp cận
thị trường nông sản cho các thành viên đang phát triển, xóa bỏ trợ cấp xuất
khẩu nông sản và hỗ trợ trong nước với lĩnh vực nông nghiệp, xem xét lại vấn
đề cạnh tranh và chống bán phá giá, tự do hóa thương mại dịch vụ.

3. Quá trình tự do hoá thương mại diễn ra khá nhanh cả trong khuôn khổ toàn cầu
cũng như khu vực, việc tiếp cận tới các sản phẩm công nghệ thông tin và các
dịch vụ hỗ trợ thương mại điện tử như dịch vụ viễn thông, dịch vụ máy tính,
dịch vụ phân phối khá dễ dàng và chi phí ngày càng thấp, từ đó tạo ra hạ tầng
tốt cho sự phát triển của thương mại điện tử.

4. Chưa có các tranh chấp lớn về thương mại điện tử trong WTO, trừ vụ nổi tiếng
về đánh bạc trên Internet. Từ đó chưa xuất hiện nhu cầu phải có các quy định
pháp lý về thương mại điện tử trong WTO.

Tóm lại, sự bế tắc và trì trệ trong hoạt động của WTO liên quan tới việc triển
khai Chương trình làm việc về Thương mại điện tử có thể dẫn tới một kết quả tích cực
ngoài mong đợi: do có rất ít quy định đa biên riêng cho thương mại điện tử nên cho tới
nay thương mại điện tử đã phát triển rất nhanh trong một môi trường mở, tự do, rất ít
các quy định điều chỉnh.

Nhưng trong tương lai điều này còn đúng không? Chưa ai có thể trả lời cho câu
hỏi này. Trong khi các vấn đề về phân loại, tiếp cận thị trường, không phân biệt đối xử
hay các nguyên tắc định hướng có thể trở nên không quá quan trọng như WTO đã dự
đoán thì một loạt vấn đề khác đang cần có sự hợp tác quốc tế chặt chẽ để tìm ra câu trả
lời. Có những vấn đề thuộc phạm vi của WTO như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ liên
quan tới thương mại và có những vấn đề không thuộc phạm vi của nó như bảo vệ
quyền riêng tư, an toàn an ninh thông tin, chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử, v.v Nếu
không giải quyết được các vấn đề này một cách thỏa đáng thì sự phát triển của thương
mại điện tử trong tương lai có thể bị hạn chế đáng kể.

Trong khi các vấn đề chưa rõ ràng, Việt Nam cần theo dõi chặt chẽ các hoạt động liên
quan tới thương mại điện tử trong WTO. Một mặt, Việt Nam phải thực hiện nghiêm
túc cam kết tạm thời chưa áp dụng thuế quan với sản phẩm nhập khẩu qua mạng. Mặt
khác, với tư cách là thành viên chính thức của WTO, Việt Nam cần trực tiếp tham gia
các hoạt động của Đại Hội đồng cũng như của các cơ quan liên quan của tổ chức
thương mại toàn cầu có trụ sở tại Geneva này.

9



Hình 1

Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Trương Đình Tuyển
và Tổng Giám đốc WTO Pascal Larmy
ký Nghị định thư về việc Việt Nam gia nhập WTO tháng 11 năm 2006






10

11

MỤC LỤC


CHƯƠNG 1: Các hiệp định của WTO và thương mại điện tử 13
CHƯƠNG 2: Các tuyên bố của Hội nghị bộ trưởng về thương mại điện tử 25
CHƯƠNG 3: Các hoạt động của Đại hội đồng liên quan tới thương mại điện tử 28
1. Cuộc họp chuyên đề lần thứ nhất về thương mại điện tử của Đại hội đồng 31
2. Cuộc họp chuyên đề lần thứ hai về thương mại điện tử của Đại hội đồng 33
3. Cuộc họp chuyên đề lần thứ ba về thương mại điện tử của Đại hội đồng 36
4. Cuộc họp chuyên đề lần thứ tư về thương mại điện tử của Đại hội đồng 42
5. Cuộc họp chuyên đề lần thứ năm về thương mại điện tử của Đại hội đồng 47
6. Cuộc họp chuyên đề lần thứ sáu về thương mại điện tử của Đại hội đồng 59
CHƯƠNG 4: Các hoạt động của Hội đồng Thương mại hàng hóa liên quan tới
thương mại điện tử 63

CHƯƠNG 5: Các hoạt động của Hội đồng Thương mại dịch vụ liên quan tới
thương mại điện tử 75
CHƯƠNG 6: Các hoạt động của Hội đồng về Sở hữu trí tuệ liên quan tới
thương mại điện tử 86

CHƯƠNG 7: Các hoạt động của Ủy ban Thương mại và phát triển liên quan tới
thương mại điện tử 96
CHƯƠNG 8: Các hoạt động của Ban Thư ký WTO liên quan tới thương mại điện tử 106
PHỤ LỤC 1: Tuyên bố của Hội nghị bộ trưởng WTO lần thứ tư 111
PHỤ LỤC 2: Đề xuất của EU về vấn đề phân loại 124
PHỤ LỤC 3: Các đề xuất của Hoa Kỳ về thương mại điện tử chuẩn bị cho
Hội nghị bộ trưởng WTO lần thứ năm 129


12


CÁC TỪ VIẾT TẮT



APEC Asia Pacific Economic Cooporation
ASEM Asean Europe Meeting
CPC Central Product classification (Provisonal) of the United
Nations, 1991 version
CTD Committee on Trade and Development
CVA Customs Valuation Agreement
EU Europe Union
GATS General Agreement on Trade in Services
GATT General Agreement on Tarriff and Trade
GPA Goverment Procurement Agreement
ICANN Tổ chức tên miền Internet
The Internet Coporation for Assigned Names and Numbers
ITA Information Technology Agreement
ITU International Telecomunication Union
OECD Organization for Economic and Development
TRIPS Trade-Related Intelectual Property Rights
UNCITRAL United Nations Committee on Interntional Trade Law
UNCTAD United Nations Conference for Trade and Development
UNECE United Nations Economic Commission for Europe Committee
on Trade
WCO World Customs Organization
WIPO World Intelectual Property Organization
WTO World Trade Organization


13


Chương một

CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA WTO VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Ban Thư ký WTO đã xây dựng một tài liệu tổng hợp mối quan hệ giữa các hiệp
định của WTO với thương mại điện tử.
6
Tài liệu này giúp các Thành viên trong những
cuộc thảo luận chuyên sâu về các vấn đề liên quan tới thương mại gắn với thương mại
điện tử toàn cầu theo Tuyên bố của các Bộ trưởng về Thương mại Điện tử Toàn cầu.
Tài liệu nêu một cách tóm tắt các hiệp định của WTO và các chương trình làm việc đã
được thống nhất liên quan tới thương mại điện tử như thế nào.

Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS)

Giới thiệu

Thương mại dịch vụ quốc tế được tiến hành với một quy mô rất lớn và ngày
càng tăng lên thông qua các phương tiện điện tử. Cuộc cách mạng về công nghệ máy
tính đã làm cho nhiều loại dịch vụ trước kia bị coi là không thể trao đổi mua bán được
thì ngày nay đã được xem là có tiềm năng trao đổi cao và đóng góp quan trọng tới
thương mại quốc tế và phát triển. Hơn bất kỳ yếu tố nào khác, thương mại điện tử đã
biến khái niệm sai lầm cũ của “thương mại dịch vụ” thành một thuật ngữ tương phản.
Đặc biệt, thương mại qua biên giới đã được hỗ trợ rất lớn bởi sự phong phú của các
phương tiện điện tử và sự dễ dàng trong việc biến đổi các sản phẩm dịch vụ thành các
dòng thông tin số hoá. Cuộc đàm phán của GATS đã thiết lập khung khổ luật quốc tế
đầu tiên với các cam kết thương mại đa biên, nhờ đó việc mua bán các sản phẩm, dịch
vụ số hóa có thể diễn ra một cách an toàn.

Trong lãnh địa thương mại dịch vụ, thương mại điện tử có thể được coi là bao
hàm ba kiểu giao dịch và cả ba kiểu này đều cần được cân nhắc:

a) cung cấp dịch vụ Internet, nghĩa là cung cấp khả năng tiếp cận tới mạng lưới
các doanh nghiệp và người tiêu dùng;

b) cung cấp điện tử các dịch vụ, nghĩa là các giao dịch trong đó các sản phẩm
dịch vụ được cung cấp tới người tiêu dùng ở dạng dòng thông tin được số hoá;

c) sử dụng Internet như một kênh cho dịch vụ phân phối, nhờ đó hàng hoá và
dịch vụ được mua trên mạng nhưng sau đó được cung cấp tới người tiêu dùng ở
dạng không điện tử.

Khung khổ pháp lý

GATS bao trùm tất cả các dịch vụ trừ những dịch vụ được cung cấp nhằm thực
hiện thẩm quyền của chính phủ, đồng thời bao trùm tất cả các biện pháp tác động tới

6
Tài liệu WT/GC/W/90

14
việc cung cấp dịch vụ. GATS xác định thương mại dịch vụ là việc cung cấp một dịch
vụ theo bất kỳ phương thức nào trong số bốn phương thức như được chỉ ra tại Điều 1.
7

Các phương thức phân biệt giữa các loại giao dịch dịch vụ trên cơ sở hiện diện theo
lãnh thổ của nhà cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ đó. Hiệp định GATS không
phân biệt giữa các phương tiện công nghệ khác nhau để cung cấp dịch vụ - dù là bằng
người, thư, điện thoại hay qua Internet. Việc cung cấp các dịch vụ qua các phương tiện
điện tử do vậy thuộc phạm vi của Hiệp định tương tự như tất cả các phương tiện cung
cấp khác. Như mọi trường hợp khác trong hệ thống WTO, chế độ pháp lý điều chỉnh
một giao dịch nhất định được xác định bởi bản chất của sản phẩm được mua bán mà
không phải là kỹ thuật sản xuất hay phân phối sản phẩm đó. Tương tự như vậy, nếu
các thành viên thống nhất một số nhóm sản phẩm được cung cấp điện tử phải được
phân loại và đối xử như hàng hoá - dù cho tới nay các nhóm này vẫn chưa được phân
loại - thì việc nhập khẩu chúng sẽ phải chịu sự điều chỉnh của mọi cam kết thuế quan
hay bất kỳ nghĩa vụ GATT nào có liên quan.

Các nghĩa vụ pháp lý trong GATS áp dụng tới tất cả các biện pháp tác động tới
việc cung cấp dịch vụ: thuật ngữ “tác động” đã được giải nghĩa để bao hàm không chỉ
các biện pháp giám sát một cách trực tiếp việc cung cấp dịch vụ mà cả các biện pháp
tác động gián tiếp tới việc cung cấp. Các biện pháp tác động tới cung cấp điện tử các
dịch vụ là “các biện pháp tác động tới thương mại dịch vụ” theo nghĩa trong Điều I của
GATS, đúng như chúng có thể sẽ tác động tới việc cung cấp các dịch vụ đó bằng các
phương tiện khác. Chẳng hạn, một loại phí nào đó áp dụng đối với việc nhập khẩu một
dịch vụ bằng phương tiện điện tử - “nhập khẩu” ở đây nghĩa là các giao dịch theo mọi
phương thức cung cấp - có thể là một biện pháp tác động tới thương mại dịch vụ. Điều
này nghĩa là khi một thành viên đã tiến hành cam kết với một dịch vụ nhất định, nó có
thể không thu phí đối với việc nhập khẩu dịch vụ đó, dù là ở dạng điện tử hay các dạng
khác, nếu điều đó có thể làm tổn hại mức độ tiếp cận thị trường mà thành viên đó đã
cam kết trong Biểu cam kết về dịch vụ của mình.

Có hai kiểu quy định trong khung khổ pháp lý của GATS: các nghĩa vụ chung
và các cam kết cụ thể. Một số nghĩa vụ chung áp dụng với tất cả các dịch vụ dù cho có
các cam kết tiếp cận thị trường với chúng hay không. Nổi bật nhất trong số các nghĩa
vụ này là các nghĩa vụ liên quan tới đối xử MFN, tính rõ ràng minh bạch, quy định
trong nước, sự tham gia của các nước đang phát triển, độc quyền và các nhà cung cấp
dịch vụ ngoại lệ. Các nghĩa vụ chung khác chỉ được áp dụng với các ngành dịch vụ mà
các thành viên có cam kết cụ thể. Những nghĩa vụ này bao gồm các nguyên tắc về quy
định trong nước và ứng xử với các nhà độc quyền, thanh toán và chuyển ngoại tệ. Đặc
biệt, liên quan tới thương mại điện tử và các nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet –
những người làm cho thương mại điện tử có thể hoạt động được – là những quy định
trong Phụ lục về Viễn thông nhằm đảm bảo cho các nhà cung cấp các dịch vụ này có
thể tiếp cận và sử dụng mạng và dịch vụ viễn thông công cộng. Phần hai của khung
khổ pháp lý của GATS bao gồm các cam kết cụ thể về tiếp cận thị trường và đối xử
quốc gia. Các cam kết này đưa ra các giới hạn đối với nhà cung cấp dịch vụ nước

7
Bốn phương thức này là: 1) qua biên giới, khi dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên vào lãnh
thổ của thành viên khác; 2) tiêu thụ ở nước ngoài, khi người tiêu dùng mua một dịch vụ được cung cấp trong
lãnh thổ của một thành viên khác; 3) hiện diện thương mại, khi nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên thiết lập
chi nhánh hay công ty con trong lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ; 4) hiện diện của thể
nhân, khi dịch vụ được cung cấp bởi một người làm việc trong lãnh thổ của thành viên khác.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét