Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Tài liệu Quyết định số 581/QĐ-TTg pdf

- Nhận thức về giá trị di sản văn hóa và truyền thống văn hóa ngày càng được nâng cao,
tạo được sự đồng thuận và nguồn lực xã hội trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa,
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là nền tảng để hun đúc nên bản sắc văn hóa và hệ
giá trị của văn hóa dân tộc, là một nguồn lực cho phát triển. Đã có sự chuyển biến tích
cực về nhận thức của lãnh đạo các cấp, của nhân dân đối với công tác bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa của dân tộc. Hàng ngàn di tích được chống xuống cấp, tu bổ, tôn
tạo. Hệ thống bảo tàng nước ta, nơi lưu giữ và giới thiệu một khối lượng lớn di sản lịch
sử - văn hóa quý giá, bước đầu có những đổi mới, thu hút ngày một nhiều khách tham
quan, du lịch, góp phần giáo dục truyền thống dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội. Công
tác giữ gìn, bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa của các dân
tộc thiểu số, có bước phát triển mới về quy mô cũng như chiều sâu. Nhiều dự án lớn về
sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa được thực hiện.
- Lĩnh vực văn học, nghệ thuật có bước phát triển mới, có những biến đổi sâu sắc, đạt
được nhiều thành tựu, đóng góp tích cực vào quá trình dân chủ hóa xã hội, làm phong
phú, đa dạng đời sống văn hóa
Sáng tác văn học, nghệ thuật tiếp tục truyền thống tốt đẹp của văn học, nghệ thuật trong
thời kỳ chiến tranh cách mạng; gắn bó, nỗ lực phản ánh chân thật cuộc sống, làm phong
phú và sâu sắc thêm tính nhân văn của văn học, nghệ thuật nước nhà; mạnh dạn phê phán
cái xấu, các biểu hiện biến chất, thoái hóa về nhân cách, đạo đức, lối sống, góp phần cảnh
tỉnh, ngăn chặn xu hướng tiêu cực trong đời sống xã hội. Có nhiều tìm tòi về nội dung
phản ánh, thể nghiệm nhiều phương thức, hình thức diễn đạt mới làm phong phú các thể
loại và các sản phẩm nghệ thuật. Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống, trong cơ chế thị
trường vẫn được giữ gìn và phát huy. Văn hóa truyền thống được phục hưng và phát huy
giá trị. Nhiều tư liệu quý từ kho tàng văn hóa dân gian và văn hóa bác học Việt Nam
được sưu tầm, tư liệu hóa và công bố. Bên cạnh những nỗ lực phát huy các loại hình nghệ
thuật truyền thống, nhiều loại hình nghệ thuật hiện đại cũng có bước tiến mới; một số tác
phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm nhạc, điện ảnh đã nhận được giải thưởng cao trong nước
và quốc tế. Diện mạo kiến trúc các đô thị và nông thôn đang trong quá trình thay đổi; chất
lượng và thẩm mỹ của nhiều công trình đã được nâng cao hơn hẳn so với trước đây. Bước
đầu nâng cao được nhận thức về bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan theo quy định
của pháp luật, hình thành tổ chức bảo hộ quyền tác giả, bảo vệ quyền lợi của người sáng
tạo.
Văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số có bước tiến đáng kể, đã có những đóng góp
quan trọng vào hầu hết các lĩnh vực văn học, nghệ thuật.
Phong trào văn nghệ quần chúng ngày càng phát triển rộng rãi, phong phú, đa dạng và có
chất lượng. Nhiều câu lạc bộ văn học, nghệ thuật ra đời, góp phần cổ vũ, động viên quần
chúng sáng tạo, khai thác, truyền bá các giá trị nghệ thuật cổ truyền và thưởng thức văn
học, nghệ thuật, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.
Hoạt động lý luận, phê bình đã đạt được những kết quả tích cực, bước đầu đã có những
đổi mới về quan niệm, về phương pháp nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật;
tính chủ thể của văn nghệ sĩ được coi trọng. Nhiều tác phẩm lý luận, trường phái nghiên
cứu văn học, nghệ thuật nước ngoài được giới thiệu.
Đặc điểm nổi bật trong những năm vừa qua là sự phát triển mạnh mẽ, nhanh nhậy, cập
nhật của các phương thức sử dụng và truyền bá các sản phẩm văn học, nghệ thuật đến
công chúng thông qua truyền hình, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật với nhiều phương thức
khác nhau, xuất bản và phát hành văn hóa phẩm… hình thành một thị trường văn hóa và
dịch vụ các sản phẩm văn học, nghệ thuật ở trong nước; đưa các sản phẩm văn học, nghệ
thuật có chất lượng ra nước ngoài, góp phần khẳng định nước ta là địa chỉ giao lưu văn
hóa quốc tế trong thời kỳ mới.
Các hội văn học nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương tiếp tục giữ vững định hướng
chính trị, cố gắng tập hợp đội ngũ, đẩy mạnh hoạt động sáng tạo. Nhiều văn nghệ sĩ cao
tuổi nhưng vẫn tâm huyết tiếp tục sự nghiệp sáng tạo, cùng với lớp văn nghệ sĩ trẻ có
nhiều bứt phá để tìm tòi cái mới, năng động, tự chủ, đem đến cho đời sống văn học, nghệ
thuật một triển vọng phát triển mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế.
- Giao lưu văn hóa với nước ngoài từng bước được mở rộng cùng với quá trình đa
phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế của Nhà nước ta
Trong những năm qua, chúng ta có nhiều cơ hội tiếp xúc rộng rãi hơn với văn hóa thế
giới và chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời giới thiệu với nhân dân
các nước những giá trị tốt đẹp, độc đáo của văn hóa Việt Nam. Nhiều hoạt động hợp tác,
giao lưu văn hóa quốc tế trên quy mô lớn đã được tổ chức ở Việt Nam và nước ngoài gây
được tiếng vang và tạo được ấn tượng tốt đẹp trong lòng bè bạn về truyền thống văn hóa,
nghệ thuật Việt Nam. Bước đầu đã có sự kết hợp các hoạt động văn hóa, nghệ thuật của
nước ta ở nước ngoài để quảng bá du lịch Việt Nam và xúc tiến thương mại, hợp tác đầu
tư.
Lực lượng hoạt động văn hóa, nghệ thuật trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
đã có những công trình nghiên cứu, những tác phẩm văn học, nghệ thuật tốt hướng về Tổ
quốc. Nhiều nghệ sỹ Việt kiều về nước biểu diễn, làm phim và hoạt động trong các lĩnh
vực khác nhau của văn hóa, góp phần mình vào đời sống văn hóa, nghệ thuật của đất
nước.
- Việc xây dựng thể chế và thiết chế văn hóa đã chú ý đến những yêu cầu của thời kỳ
mới, tuy chưa hoàn chỉnh nhưng về căn bản bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng, sự quản
lý của Nhà nước, phát huy tiềm năng sáng tạo của trí thức, văn nghệ sĩ và của nhân dân
tham gia xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hóa.
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm điều chỉnh
và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động văn hóa phù hợp với tình hình mới; nhiều cơ
chế, chính sách đặc thù cho phát triển sự nghiệp văn hóa.
Các thiết chế văn hóa từ Trung ương đến địa phương, sau một thời gian lúng túng trong
hoạt động khi mới chuyển đổi cơ chế, nay cách tổ chức và hoạt động bước đầu đã có sự
đổi mới, cơ sở vật chất được tăng cường; một số công trình văn hóa quy mô lớn, hình
thức kiến trúc đẹp được xây dựng.
Công tác đào tạo đội ngũ những người hoạt động văn hóa, nghệ thuật được chú trọng, có
bước phát triển về quy mô, mạng lưới, loại hình, số lượng và trình độ, bao quát được hầu
hết các ngành nghề cần thiết cho hoạt động văn hóa, sáng tạo, biểu diễn, lý luận và phê
bình văn nghệ, hình thành hệ thống các trường văn hóa nghệ thuật từ Trung ương đến địa
phương; việc đào tạo sau đại học để tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, trong những năm
gần đây được triển khai, bước đầu có kết quả khả quan.
b) Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu
- Những yếu kém
+ Những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn hóa còn chưa tương xứng và
chưa vững chắc, chưa đủ mạnh để tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời sống
xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. Chất lượng xây dựng đời sống
văn hóa còn nhiều mặt hạn chế.
Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
chưa tạo được sự chuyển biến rõ rệt.
Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, nhận thức tư tưởng có biểu hiện
lúng túng, có phần lạc hậu so với sự phát triển của thực tiễn.
Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận xã hội ảnh hưởng tiêu cực đến đời
sống tinh thần, môi trường văn hóa lành mạnh. Hiện tượng càn quấy, coi thường luật
pháp, làm mất an toàn xã hội; bạo hành trong gia đình, trên sân cỏ; cách ứng xử thiếu văn
hóa nơi công cộng; sử dụng ngôn từ thiếu chuẩn mực trong giao tiếp làm phương hại đến
sự trong sáng của tiếng Việt; căn bệnh “vô cảm” đối với nỗi đau của con người; nạn tham
nhũng, hối lộ, sách nhiễu dân, mất đoàn kết của một bộ phận cán bộ, đảng viên… đang
làm nhức nhối dư luận xã hội.
Bên cạnh các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng khá sôi động và phức tạp; nạn mê tín dị
đoan, lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục cũ, mới tràn lan,
nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng.
Nhiều cơ sở in, quảng cáo, quán bar, nhà hàng karaoke, vũ trường mở tràn lan, chạy theo
lợi nhuận đơn thuần, hoạt động biến tướng, trá hình, có nhiều biểu hiện tiêu cực. Một số
sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật chất lượng kém được phát hành, truyền bá; không
ít sản phẩm không phù hợp với truyền thống đạo đức, văn hóa của dân tộc, thậm chí độc
hại, phản động của nước ngoài xâm nhập vào nước ta, làm xói mòn đạo đức, lối sống,
ảnh hưởng xấu đến truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục dân tộc.
Việc phục hồi và phát huy văn hóa truyền thống, nhất là việc tổ chức lễ hội, còn mang
tính tự phát, mang tính phong trào, thiếu chọn lọc; chưa khai thác, phát huy được đầy đủ
nét độc đáo, bản sắc riêng và giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống; đồng thời cũng
chưa chú ý phát huy tính chủ động của quần chúng, vai trò chủ thể văn hóa của cộng
đồng chưa thật sự được coi trọng, ảnh hưởng tới chất lượng việc bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa của các dân tộc.
Bệnh hình thức, chạy theo thành tích còn khá phổ biến trong các hoạt động và báo cáo
kết quả xây dựng đời sống văn hóa. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, bản, khu
phố văn hóa chưa được nhận thức sâu sắc và đồng đều ở các địa phương, chưa phát huy
được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội tham gia; chất lượng phong trào chưa
được chú trọng duy trì; việc tổ chức đăng ký, bình xét khen thưởng chưa thường xuyên
và kịp thời.
Ở nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số,
vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây, vùng biên giới, hải đảo, hoạt động văn
hóa còn nghèo nàn, sự chênh lệch về hưởng thụ văn hóa so với thành thị còn lớn.
+ Di sản văn hóa đang đứng trước nhiều thách thức, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa
bảo tồn và phát triển.
Việc bảo tồn di sản văn hóa chưa được triển khai theo một quy hoạch, kế hoạch dài hạn
nên thường bị động. Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa quy hoạch bảo tồn di tích với quy
hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của các ngành khác trên cùng địa bàn, nên chưa
tạo được cơ sở vật chất, môi trường văn hóa và sinh thái đồng bộ, có chất lượng ở di tích.
Việc xử lý hài hòa giữa bảo tồn và phát triển còn lúng túng. Hiện tượng lấn chiếm đất đai
di tích, thương mại hóa hoạt động và tổ chức lễ hội ở di tích, đào bới, mua bán trái phép
cổ vật… diễn ra ngày càng phổ biến, nhưng chưa có biện pháp giải quyết triệt để. Đội
ngũ những người làm công tác bảo tồn trong cả nước còn thiếu về số lượng, tính chuyên
nghiệp chưa cao, lúng túng trong việc xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra,
làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo tồn và tôn tạo di tích, thậm chí làm sai lệch, biến dạng
tính nguyên gốc của di tích.
Các bảo tàng ở nước ta, nhìn chung còn khá lạc hậu trong công tác trưng bày, trang thiết
bị kỹ thuật bảo quản tài liệu, hiện vật, trong phương pháp quản lý và vận hành của bảo
tàng hiện đại, làm cho bảo tàng chưa phải là điểm đến hấp dẫn đối với công chúng.
+ Hoạt động văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập.
Trong sáng tác, biểu diễn, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật còn không ít tác
phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính chất tiên tiến và bản sắc dân tộc. Số lượng tác
phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao,
tương xứng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi
mới. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ không rõ nét. Một số tác phẩm có
nội dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ nhận quá
khứ hào hùng của dân tộc, xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm còn thể hiện sự dễ
dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Một bộ phận văn nghệ
sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận và nhận thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy
sinh trong cuộc sống hiện đại, lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn; một số
tác phẩm và sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ
pháp mới, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ
chưa được quan tâm đúng mức; chưa chủ động hướng dẫn dư luận xã hội. Tình trạng
nghiệp dư hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp có chiều hướng tăng lên.
Sáng tác kiến trúc trong thời gian dài không rõ định hướng, lúng túng trong việc thể hiện
bản sắc truyền thống trong công trình kiến trúc hiện đại Việt Nam, tạo nên tình trạng lai
tạp, lộn xộn trong bộ mặt kiến trúc đô thị hiện nay.
Hoạt động lý luận văn học, nghệ thuật những năm gần đây có phần chững lại, chưa đáp
ứng được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác. Lý luận văn nghệ và
mỹ học mác – xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của
nó. Hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện
chưa tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh và đồng hành với sáng tác. Chất lượng khoa
học và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính,
thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm. Đội ngũ lý luận, phê
bình vừa thiếu, vừa bị hụt hẫng thế hệ kế cận, phân bố không đều ở các ngành nghệ thuật.
Thiếu định hướng và tiêu chí cụ thể cho việc chọn lọc, kế thừa và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống, cũng như chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Đội ngũ cán bộ quản lý văn học, nghệ thuật chưa theo kịp yêu cầu của hoạt động văn học,
nghệ thuật ngày càng mới mẻ, phức tạp; hiệu quả lãnh đạo, quản lý còn thấp, có sự hẫng
hụt đội ngũ này ở cả tầm vĩ mô và ở các đơn vị cơ sở.
Một số hội văn học, nghệ thuật chậm đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, lúng
túng trong việc tập hợp và phát huy tiềm năng của đội ngũ. Đáng chú ý là thiếu sự phối
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chỉ đạo, quản lý văn học, nghệ thuật của Đảng, Nhà nước
với các hội văn học, nghệ thuật trong việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển văn
học, nghệ thuật của Đảng và Nhà nước.
+ Giao lưu văn hóa còn thiếu chủ động; chưa tạo được nhiều nguồn lực để mở rộng hợp
tác, giao lưu.
Do quản lý thiếu chặt chẽ, phối hợp chưa đồng bộ và thường xuyên nên số sản phẩm độc
hại xâm nhập vào nước ta khá lớn. Chưa chủ động giới thiệu được nhiều tinh hoa văn hóa
Việt Nam ra nước ngoài. Việc tuyên truyền, giới thiệu nền văn hóa Việt Nam và những
thành tựu trong công cuộc đổi mới của đất nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội ra nước
ngoài chưa tương ứng với nhu cầu phát triển. Trong khi đó, việc nhập khẩu và đưa lên
sóng truyền hình quá nhiều, thiếu chọn lọc phim ảnh, chương trình ca nhạc nước ngoài
làm ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của lớp trẻ.
Việc quản lý, giới thiệu văn hóa nước ngoài tại Việt Nam thiếu sự nhất quán giữa các cơ
quan quản lý chuyên ngành, giữa Trung ương và địa phương; thiếu các văn bản quy định
mang tính pháp lý cao để quản lý, điều chỉnh các hoạt động giới thiệu văn hóa nước
ngoài tại Việt Nam. Việc quản lý các nghệ sĩ ra nước ngoài biểu diễn và về nước biểu
diễn, sáng tác thiếu chặt chẽ, phân cấp trách nhiệm không rõ ràng dẫn đến sơ hở trong
một số hoạt động, gây dư luận bất bình.
+ Quan tâm chưa đúng mức, chậm đổi mới công tác xây dựng thể chế văn hóa.
Các văn bản pháp luật về văn hóa còn thiếu đồng bộ; việc thể chế hóa các nghị quyết,
quan điểm của Đảng còn chậm, tổ chức thực hiện còn yếu nên nhiều quy phạm pháp luật
về văn hóa chưa thực sự đi vào cuộc sống. Một số lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật chưa có
luật để quản lý. Nhiều chính sách đối với văn nghệ sĩ đã lạc hậu nhưng chậm được sửa
đổi.
Đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa, nhất là ở các địa phương và cơ sở luôn biến động. Tình
trạng buông lỏng quản lý, thiếu cơ chế phối hợp trong quản lý hoạt động kinh doanh sản
phẩm văn hóa, nhất là băng đĩa lậu, internet, karaoke, tổ chức biểu diễn, triển lãm… còn
để kéo dài. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý văn hóa chưa đáp ứng
yêu cầu, còn hẫng hụt cán bộ văn hóa ở các vị trí quan trọng.
Mạng lưới đào tạo phát triển nhanh, nhưng chất lượng chưa đồng đều. Đội ngũ giáo viên
có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo cơ bản ở nước ngoài trước đây đã lớn tuổi và
nghỉ hưu nhiều, giáo viên có trình độ cao của các trường chiếm tỷ lệ rất thấp. Thiếu một
chính sách lâu dài, cơ bản và cơ chế đặc thù trong việc đào tạo tài năng, năng khiếu văn
nghệ.
Hệ thống các thiết chế và cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa nhìn chung vẫn ở tình
trạng xuống cấp, chắp vá, thiếu đồng bộ và hiệu quả sử dụng còn thấp. Chưa có nhiều
công trình văn hóa và khu vui chơi giải trí lớn. Đầu tư của ngân sách nhà nước cho văn
hóa còn thấp. Việc huy động các nguồn vốn khác đầu tư cho văn hóa rất hạn chế do chính
sách khuyến khích chưa cụ thể và thiết thực.
- Những nguyên nhân chủ yếu
Về khách quan:
+ Những thành tựu to lớn và sự biến đổi nhanh chóng, phức tạp trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống kinh tế - xã hội vừa là nguồn cảm hứng sáng tạo, vừa là những vấn đề rất
mới mẻ, luôn biến động và sự tác động nhiều chiều, dẫn tới sự bỡ ngỡ, lúng túng trong
lực lượng hoạt động văn hóa, văn nghệ.
+ Các thế lực thù địch ráo riết chống phá ta trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, lợi dụng ưu
thế về công nghệ thông tin, toàn cầu hóa về kinh tế để áp đặt các giá trị văn hóa, thực
hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” về văn hóa; đồng thời, mặt trái của cơ chế thị trường
và toàn cầu hóa ảnh hưởng tiêu cực đến ý thức tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ
phận dân chúng, nhất là lớp trẻ, cũng như đối với đời sống văn hóa, văn nghệ.
+ Sự bùng nổ về thông tin, truyền thông đi kèm với làn sóng giao thoa, du nhập văn hóa
với nhiều yếu tố văn hóa mới, có mặt tích cực nhưng cũng không ít những tiêu cực, trong
khi trình độ cán bộ và phương tiện kỹ thuật để quản lý những vấn đề mới mẻ này còn hạn
chế, dẫn đến sự lúng túng, bị động trong tổ chức thực hiện.
Về chủ quan:
+ Trong khi tập trung sức vào nhiệm vụ kinh tế, nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa
của nhiều cấp, nhiều ngành, trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo chưa đúng tầm; chưa
nhận thấy rõ mối quan hệ gắn bó giữa kinh tế, văn hóa và chính trị; chưa quan tâm gắn
phát triển kinh tế, phát triển các ngành, các lĩnh vực đi đôi với xây dựng và phát triển văn
hóa; chưa coi phát triển văn hóa là trách nhiệm của toàn xã hội.
+ Trước những biến đổi nhanh chóng, đa dạng, phức tạp của đời sống văn hóa, văn nghệ
trong nền kinh tế thị trường, sự chỉ đạo của các cấp từ Trung ương đến địa phương còn
bộc lộ sự bất cập, hạn chế, phương thức lãnh đạo còn chậm được đổi mới; chưa lường hết
tính phức tạp và những tác động của mặt trái kinh tế thị trường đối với đời sống văn hóa,
văn nghệ. Chậm ban hành hoặc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý. Các
giải pháp thường bị động, mang tính tình thế; có biểu hiện buông lỏng, hữu khuynh, vừa
áp đặt chủ quan; thiếu tầm nhìn xa… Nghiên cứu lý luận còn thiếu khả năng dự báo và
định hướng; chưa làm rõ nhiều vấn đề có liên quan đến văn hóa trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong việc xác định những giá trị truyền thống cũng
như hệ giá trị mới cần xây dựng, trong việc xử lý các mối quan hệ giữa truyền thống và
hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển, văn hóa và kinh tế… Thị trường văn
hóa đang trong quá trình hình thành, chưa có đủ điều kiện để phát huy hết năng lực sáng
tạo của trí thức, văn nghệ sĩ.
+ Đầu tư cho lĩnh vực xã hội nói chung và văn hóa nói riêng, chưa tương xứng với yêu
cầu mới. Chưa có nhiều cơ chế và chính sách cụ thể phát huy nội lực của nhân dân.
2. Bối cảnh, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển văn hóa nước ta
a) Bối cảnh quốc tế
- Xu hướng phát triển văn hóa.
+ Coi trọng văn hóa và gắn văn hóa với phát triển, coi văn hóa là nhân tố đảm bảo cho sự
phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Quá trình toàn cầu hóa về kinh tế có nguy cơ dẫn đến xung đột với việc bảo tồn bản sắc
và đa dạng văn hóa trên phạm vi toàn thế giới, đồng thời cũng xuất hiện khả năng gắn
chặt quá trình kinh tế với quá trình văn hóa. Kinh tế không thể phát triển bền vững nếu
không đặt rõ vấn đề văn hóa trong mỗi hoạt động kinh tế.
+ Các quốc gia ngày càng đề cao tính đặc thù, bản sắc văn hóa dân tộc, coi trọng việc giữ
gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa, đấu tranh chống khuynh hướng đồng hóa về văn
hóa; đồng thời chọn lọc tiếp thu các giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề trọng đại, sống còn của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa, văn hóa là một lĩnh vực dễ bị tổn thương, trong đó bản sắc văn hóa, văn hóa
truyền thống dễ bị tổn thương hơn cả. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc
văn hóa dân tộc với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại sẽ làm phong phú cho
văn hóa đất nước, thúc đẩy văn hóa phát triển.
+ Phát triển văn hóa trong mối quan hệ với xây dựng con người.
Nguồn lực văn hóa được cấu thành bởi 3 yếu tố: Tài sản văn hóa, nguồn lực con người và
cơ chế, chính sách tăng cường nguồn lực, trong đó nguồn lực trung tâm để phát triển văn
hóa là con người. Văn hóa là sáng tạo, mà con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa, vừa
là sản phẩm văn hóa. Văn hóa trở thành động lực và hệ điều tiết sự phát triển kinh tế - xã
hội, lấy phát triển nguồn lực con người làm mục tiêu trung tâm. Vì vậy, phát triển văn
hóa gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng con người đang là xu thế của thời đại.
+ Phát triển nhanh chóng “công nghiệp văn hóa”.
Ngày nay, người ta đã nói nhiều đến công nghiệp điện ảnh, nghe nhìn; công nghiệp phát
thanh, truyền hình; công nghiệp vui chơi giải trí v.v…. Phát triển “Công nghiệp văn hóa”
đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách văn hóa của các nước trên thế giới.
+ Sự bùng nổ thông tin (cả thông tin đại chúng, viễn thông, mạng internet) liên kết từng
gia đình và cả xã hội vào một quá trình chung.
Sự hội tụ giữa thông tin, viễn thông và tin học là một xu hướng có tác động mạnh đến
lĩnh vực văn hóa. Công nghệ thông tin phát triển tạo điều kiện cho mọi người tổ chức sự
liên lạc với xã hội; internet, intranet giúp mọi người tiếp cận lượng thông tin đồ sộ của
nhân loại và mỗi quốc gia; sự xuất hiện “văn học mạng”, việc trao đổi qua blog… hình
thành phương thức mới liên kết xã hội trong môi trường mạng đang đặt ra những vấn đề
mới trong công tác quản lý văn hóa, thông tin.
+ Sử dụng hữu ích thì giờ nhàn rỗi của cá nhân và cộng đồng.
Ngày nay, việc sử dụng hữu ích thời giờ nhàn rỗi là nhu cầu của xã hội. Xu hướng này
đặt ra những yêu cầu mới trong công tác quy hoạch, kế hoạch và xây dựng các dự án phát
triển văn hóa, cũng như các phương thức tiếp cận và hoạt động văn hóa phù hợp với nhu
cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của xã hội.
+ Sự thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân – cộng đồng và dân chủ xã hội, sự đa dạng của
thị hiếu và cách tiếp cận.
Sự phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, thông tin viễn thông và tri thức trao cho mỗi
cá nhân những sức mạnh mới, làm cho mỗi cá nhân và cộng đồng thay đổi theo hai xu
hướng: hoặc tác động mạnh vào sự phát triển của cộng đồng, hoặc biệt lập với cộng đồng.
Điều này đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới từ nền tảng văn hóa để gắn kết cá nhân và
cộng đồng, dung hợp tính đa dạng trong cách tiếp cận văn hóa của từng cá nhân trong
cộng đồng.
- Xu thế toàn cầu và hội nhập quốc tế.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, khách quan, vừa là quá trình hợp
tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia. Các phương tiện
truyền thông, mạng viễn thông, internet tạo thuận lợi cho giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại, đồng thời cũng diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn bản sắc văn hóa
dân tộc. Mặt khác, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu và thủ đoạn “diễn biến
hòa bình” nhằm tạo ra những diễn biến phức tạp trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đạo đức,
lối sống trong nội bộ ta.
b) Bối cảnh trong nước
- Những thành tựu của công cuộc đổi mới và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước là cơ sở quan trọng thúc đẩy văn hóa phát triển, nhưng cũng đặt ra nhiều thử thách.
Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng. Quá trình đổi
mới đất nước tạo ra những tiền đề mới, rất quan trọng cho sự nghiệp phát triển văn hóa.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm cho xã hội nước ta biến đổi sâu sắc và toàn
diện, diễn ra quá trình đấu tranh gian khổ và phức tạp giữa cái lạc hậu và tiến bộ, giữa cái
tốt và cái xấu, giữa tư duy trì trệ, bảo thủ và đổi mới… Đó chính là mảnh đất tốt cho sự
tìm tòi, sáng tạo văn hóa, văn nghệ. Đô thị hóa làm cho kết cấu dân cư có bước thay đổi
lớn. Từ sự thay đổi này sẽ dẫn đến những thay đổi về nếp sống, lối sống, tập tục v.v…đòi
hỏi phải có những giải pháp cụ thể nhằm giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp
vốn có của quê hương và di sản văn hóa, đồng thời phát triển đời sống văn hóa thích ứng
với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Phát triển văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cơ chế thị trường làm cho tính tích cực xã hội được phát huy, các hoạt động văn hóa và
dịch vụ văn hóa trở nên năng động, đa dạng và phong phú hơn, nhưng cũng tiềm ẩn
những rủi ro, phức tạp. Mặt trái của cơ chế thị trường tác động đến từng gia đình, các
quan hệ xã hội, quan hệ cộng đồng đòi hỏi sự đổi mới về công tác quản lý và tổ chức hoạt
động văn hóa; tạo hành lang pháp lý để đảm bảo phát triển văn hóa đúng định hướng
trong cơ chế thị trường.
- Các tôn giáo vẫn ở xu thế điều chỉnh, thích nghi và mở rộng ảnh hưởng, diễn biến của
các vấn đề tôn giáo còn nhiều phức tạp.
Tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tố của văn hóa, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân.
Các tôn giáo có xu hướng vận động thu hút thêm các tín đồ, một số tôn giáo lạ xâm nhập
vào nước ta. Đa phần các hoạt động tôn giáo và tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc các tôn
giáo có những hoạt động đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc (xóa lễ hội dân tộc,
bỏ các sinh hoạt văn hóa cổ truyền…), truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng tôn giáo tạo
dựng các “điểm nóng”, đấu tranh đòi đất đai, đòi nơi thờ tự…đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ
trong công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tín
ngưỡng, tôn giáo; đấu tranh bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc, chống việc lợi dụng tôn
giáo, tín ngưỡng gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ tôn giáo, gây rối trật tự
công cộng, vi phạm pháp luật.
c) Cơ hội và thách thức
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, đã xác
định vị trí và vai trò quan trọng của văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội.
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập
quốc tế, phấn đấu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, văn hóa nước nhà có nhiều thời cơ,
vận hội lớn, đồng thời cũng đứng trước những thách thức mới gay gắt.
Việt Nam có một lịch sử lâu đời với những trang sử chói lọi trong cuộc đấu tranh dựng
nước, giữ nước, giành độc lập dân tộc, tạo được sự ngưỡng mộ, khâm phục trong lòng
nhân dân thế giới. Sự thành công trong công cuộc đổi mới và những thành tựu to lớn
trong phát triển kinh tế - xã hội và sự ổn định chính trị của đất nước đang tạo lập được vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam lại có nền văn hóa đa dạng, phong phú,
nhân văn; mỗi loại tài sản văn hóa đều tiềm ẩn những giá trị cao, cả về mặt văn hóa và
tiềm năng kinh tế, vẫn giữ được bản sắc độc đáo của văn hóa Việt Nam, có sức hấp dẫn
lớn… Tất cả những yếu tố đó tạo nên tiềm năng và lợi thế to lớn trong việc xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Từ mấy chục năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đã hình thành một đội
ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ quản lý đông đảo, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng
của Đảng và nhân dân, giàu năng lực sáng tạo, là một vốn quý. Nếu có một chiến lược
phát triển nguồn nhân lực đúng đắn, có thể phát huy mạnh mẽ nguồn nhân lực quan trọng
này đi vào nền “Kinh tế tri thức”, “tri thức phục vụ phát triển”, đáp ứng yêu cầu phát
triển văn hóa trong thời kỳ mới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế, với đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ quốc tế, văn hóa nước ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức, các nguồn lực và kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo những giá trị văn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét