Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng ngoại thương Hà nội (2).Doc
Vai trò của XNK đối với sự phát triển kinh tế đợc thể hiện qua một số
khía cạnh cơ bản sau:
* Xuất khẩu
- Xuất khẩu đem lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho đất nớc tạo điều
kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Thông qua việc đẩy mạnh xuất khẩu, Nhà nớc sẽ khuyến khích các
ngành, nghề phát triển bởi họ phần nào có đợc thị trờng tiêu thụ ổn định và
mở rộng hơn. Đồng thời, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng quốc tế sẽ tạo
cho các nhà sản xuất sự năng động và sáng tạo trong kinh doanh, sự quan tâm
đúng đắn đến việc nâng cao hiệu quả quản lí, đổi mới công nghệ cũng nh
nâng cao chất lợng của sản phẩm.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho việc nhập khẩu có thể diễn ra thuận lợi
hơn nhờ nguồn ngoại tệ thu đợc và mối quan hệ quốc tế mà nó tạo ra.
* Nhập khẩu
Song song với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu cũng đóng một vai trò vô
cùng quan trọng trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Nhập khẩu tạo ra hàng hoá bổ sung cho hàng hoá thiếu hụt trong nớc
và thay thế những sản phẩm trong nớc không sản xuất đợc hay sản xuất với
chi phí cao hơn để đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng nội địa một cách tốt
nhất, từ đó tạo sự ổn định về cung-cầu trong nớc và cao hơn là sự ổn định
kinh tế vĩ mô.
- Nhập khẩu có tác động đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng
kĩ thuật, đổi mới công nghệ tạo tiền đề thuận lợi cho sản xuất.
- Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc
cung cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng nh
góp phần định hớng sản phẩm, định hớng thị trờng cho xuất khẩu.
5
Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu
đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời
sống nhân dân và mở rộng hợp tác quốc tế.
1. 2. Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu.
Nh đã nói trên, trong nền kinh tế mở các doanh nghiệp luôn phải đối
đầu với sự cạnh tranh gay gắt. Họ không chỉ phải cạnh tranh với các nhà sản
xuất trong nớc mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ nớc ngoài. Để chiến
thắng trong cạnh tranh, ngoài việc cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nớc nh
sự u đãi về thuế, sự điều chỉnh tỉ giá hối đoái phù hợp các doanh nghiệp
còn cần phải có một tiềm lực tài chính mạnh để thực hiện các hoạt động nh
đổi mới dây chuyền công nghệ, mua sắm máy móc hiện đại, mua sắm
nguyên vật liệu, cải tiến nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành Song
trên thực tế do khả năng tài chính có hạn nên hầu hết các doanh nghiệp đều
cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Nhu cầu tài trợ cho hoạt động XNK nảy sinh từ những đòi hỏi đó và nó
gắn liền với các giai đoạn của hoạt động này.
Do hoạt động thơng mại quốc tế hiện nay là rất đa dạng và vì thế cũng
hết sức phức tạp (nó bao gồm nhiều mối quan hệ nh: thơng mại giữa các nớc
phát triển, thơng mại giữa các nớc đang phát triển, thơng mại giữa các nớc
phát triển và đang phát triển ) nên để phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng
nh với đề tài nghiên cứu, ở đây tôi chỉ xin đề cập đến hoạt động thơng mại
quốc tế giữa các nớc phát triển và đang phát triển.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nớc phát triển sang các nớc đang phát
triển chủ yếu là hàng hoá t liệu sản xuất nh máy móc thiết bị, kỹ thuật, công
nghệ. Đây là những hàng hoá mà để hoàn thành hoạt động xuất khẩu cần
phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ phân tích nhu cầu, kí kết hợp
đồng, sản xuất cung ứng, lắp ráp chạy thử đến thanh toán tiền hàng. Nhu
cầu tài trợ thờng để đáp ứng các chi phí cho quảng cáo, thiết kế mẫu mã, sản
xuất và cung cấp công trình.
6
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nớc đang phát triển sang các nớc phát
triển chủ yếu là các mặt nh nông, lâm, thuỷ hải sản, hàng thô hay mới qua sơ
chế Và nhu cầu tài trợ thờng là để thu mua chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu
cầu vốn tạm thời.
Để có cái nhìn tổng quát về nhu cầu tài trợ nảy sinh trong hoạt động
XNK ta sẽ xem xét nhu cầu tài trợ của các nhà xuất khẩu và nhập khẩu hình
thành trong cùng một hoạt động XNK hàng hoá máy móc, thiết bị kĩ thuật,
công nghệ.
* Nhu cầu tài trợ cho xuất khẩu
Việc thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hoá máy móc thiết bị thờng
kéo dài từ nhiều tháng cho tới vài năm, do đó thông thờng nhu cầu tài trợ th-
ờng nảy sinh ở nhiều giai đoạn khác nhau. Cụ thể:
+- Giai đoạn phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại
diện tại các hội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch: Để hoàn thành tốt giai
đoạn này các chuyên gia phải thực hiện các chuyến đi dài ngày và tiến hành
nhiều cuộc đàm phán, phải làm ra hàng mẫu và mô hình để trng bày, giới
thiệu. Sau đó họ còn phải hoàn tất các tài liệu thiết kế và tính toán chính xác
cho đàm phán hợp đồng. Chi phí cho những hoạt động này không phải nhỏ,
đặc biệt với các cơ sở kinh doanh tiềm lực tài chính còn hạn hẹp.
- Giai đoạn ký kết hợp đồng: Trong trờng hợp nhà xuất khẩu cha có uy
tín cao ở nớc ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng hoặc bảo
đảm hoàn thành công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc giao hàng
hoặc hoàn thành công trình không đúng nh thoả thuận.
Trờng hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập khẩu
là ngời nớc ngoài đang gặp khó khăn về tài chính, nhà xuất khẩu có thể đề
nghị ngân hàng của mình cung cấp tín dụng tơng đơng với số tiền đặt cọc và
nhà nhập khẩu có nghĩa vụ chi trả cho khoản tín dụng đó
7
- Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất khẩu
sẽ tiến hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn nh,
nhà máy, xí nghiệp việc này thờng đi kèm với chi phí lớn vợt quá mức đặt
cọc.
- Giai đoạn sản xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh
toán tiếp theo của ngời mua, trong thời gian này thờng nảy sinh các nhu cầu
tài chính cao về vật t và chi phí liên quan khác vợt qua các khoản thanh toán
giữa chừng.
- Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể
nảy sinh các chi phí cần đợc tài trợ nh chi phí vận tải, bảo hiểm tuỳ theo
điều kiện cung ứng.
- Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng hoá
đợc giao tới địa điểm qui định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho lắp ráp
chạy thử cho tới khi đợc ngời mua thu nhận và chấp nhận thanh toán.
- Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này ngời mua có quyền yêu
cầu đợc bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trớc khi thanh toán.
- Giai đoạn thanh toán: Hiện nay, để việc cung cấp hàng hoá xuất
khẩu đợc thuận lợi ngời xuất khẩu thờng phải dành cho ngời mua một u đãi
thanh toán trong nhiều năm mà ngời xuất khẩu và ngân hàng của họ có thể
chấp nhận đợc. Trong thời gian chờ đợc thanh toán nhà xuất khẩu thờng có
nhu cầu đợc tài trợ để đảm bảo vốn cho quá trình tái sản xuất tiếp theo.
* Nhu cầu tài trợ nhập khẩu
Với hoạt động nhập khẩu, nếu nh nhà xuất khẩu có nhu cầu tài trợ để
đẩy mạnh hoạt động bán hàng thì các nhà nhập khẩu cũng nảy sinh nhu cầu
tài trợ để mua hàng khi khả năng tài chính không đáp ứng đợc. Vì vậy về
phía nhà nhập khẩu cũng hình thành nhu cầu tài trợ trên nhiều mặt.
8
- Giai đoạn trớc khi kí kết hợp đồng: ở giai đoạn này các nhà nhập
khẩu cần có những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác
nhu cầu của mình để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp.
- Giai đoạn sau khi kí kết hợp đồng: Sau khi kí kết đợc hợp đồng, nhà
nhập khẩu cần đợc tài trợ để đặt cọc, tạm ứng cho nhà xuất khẩu .
- Giai đoạn sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn này
nhà nhập khẩu có thể phải thực hiện những khoản thanh toán giữa chừng cho
nhà xuất khẩu hay tài trợ cho các công việc ở điạ phơng để chuẩn bị cho đầu
t.
- Giai đoạn cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện
cung ứng hàng hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo hiểm
đối với các nhà nhập khẩu.
- Nhận hàng hoá: Nếu tiến hành thanh toán cung ứng hàng hoá khi
xuất trình chứng từ (có th tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì th-
ờng nhà nhập khẩu chỉ có thể nhận đợc hàng khi giá trị trên hoá đơn đã ghi rõ
hoặc có thể tài trợ đợc.
- Xử lí tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán
tiếp thì nhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời
gian từ khi nhập hàng về tới khi hàng hoá đợc tiêu thụ.
Nếu sản phẩm là những dây chuyền công nghệ để sản xuất thì nhà
nhập khẩu sẽ có nhu cầu đợc tài trợ cho giai đoạn từ khi sản xuất sản phẩm
mới tới khi tiêu thụ đợc các sản phẩm làm ra và thu đợc tiền hàng.
Qua việc xem xét nhu cầu tài trợ cho XNK ở trên ta có thể khẳng định
rằng hoạt động kinh doanh XNK có một nhu cầu tài trợ rất lớn. Vậy thì để
đáp ứng cho nhu cầu đó có những nguồn tài trợ nào. Dới đây là một số nguồn
tài trợ thờng dùng cho XNK.
9
1.3. Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hoạt động XNK là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản, do vậy
nó cũng đợc tài trợ từ rất nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, những nguồn tài
trợ thờng đợc sử dụng là:
* Tín dụng thơng mại (hay tín dụng nhà cung cấp): là nguồn tài trợ đợc
thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với các công
cụ chủ yêú là kỳ phiếu và hối phiếu. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn đợc a
dùng vì dễ thực hiện, khả năng chuyển thành tiền mặt cao (thông qua chiết
khấu tại các ngân hàng), linh hoạt về thời hạn. Tuy nhiên, các công cụ nh
hối phiếu thờng đợc sử dụng trên cơ sở có ngân hàng đứng ra chấp nhận hay
bảo đảm.
* Vốn tự có: Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn tự có
có thể là vốn Ngân sách cấp, vốn cổ phần của các sáng lập viên công ty cổ
phần hay vốn của chủ doanh nghiệp t nhân.
Vốn tự có chủ yếu bao gồm vốn khi thành lập doanh nghiệp nh nói
trên và phần lợi nhuận để lại + khấu hao. Sử dụng vốn tự có doanh nghiệp có
thể giảm đợc hệ số nợ, tạo sự chủ động trong kinh doanh. Tuy vậy, nguồn tài
trợ này có hạn chế là qui mô không lớn và nhiều khi chi phí cơ hội của việc
giữ lại lợi nhuận cao.
* Phát hành cổ phiếu: Với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay
họ có thể phát hành cổ phiếu công ty để huy động nguồn vốn trung và dài
hạn. Hình thức này có u điểm là doanh nghiệp có đợc sự chủ động trong việc
huy động và sử dụng vốn, giảm đợc nguy cơ phá sản khi gặp khó khăn (vì có
thể không phải phân chia lợi tức cổ phần hoặc có thể hoãn trả lợi tức khi bị lỗ
hoặc không có nhiều lãi) hay làm tăng vốn chủ sở hữu, giảm hệ số nợ của
doanh nghiệp Tuy nhiên, chỉ có các doanh nghiệp thỏa mãn những điều
kiện nhất định mới đợc sử dụng hình thức này. Với nớc ta, do thị trờng tài
chính còn cha phát triển nên hình thức tài trợ này còn ít đợc sử dụng hoặc
nếu có sử dụng thì hiệu quả cha cao.
10
* Phát hành trái phiếu công ty: Đây cũng là một hình thức tài trợ khá
phổ biến trong nền kinh tế thị trờng gần nh cổ phiếu.
Trái phiếu là một giấy chứng nhận nợ của doanh nghiệp. Sử dụng phát
hành trái phiếu doanh nghiệp có thể huy động vốn cho hoạt động kinh doanh
mà không dẫn đến phải chia quyền kiểm soát doanh nghiệp nh khi sử dụng
cổ phiếu thờng. Tuy nhiên, với trái phiếu doanh nghiệp thờng phải trả lợi tức
cố định cho dù hoạt động kinh doanh có lãi hay không. Điều này dễ làm tăng
khả năng phá sản đối với doanh nghiệp khi gặp khó khăn về tài chính. Ngoài
ra, với thị trờng tài chính cha phát triển nh đã nói trên thì hình thức này cũng
khó phát huy tốt đợc u thế của nó.
* Tín dụng ngân hàng: Ngân hàng có thể tài trợ cho các doanh
nghiệp thông qua nhiều hình thức và với những mục đích sử dụng khác nhau
nh: cho vay ngắn hạn theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hợp đồng, cho vay
có đảm bảo để thu mua dự trữ, sản xuất, nhập khẩu nguyên vật liệu, đáp
ứng nhu cầu vốn lu động. Hoặc cho vay dài hạn để đầu t dự án, mua sắm máy
móc thiết bị, dây chuyền công nghệ Tuỳ vào từng doanh nghiệp mà Ngân
hàng có thể áp dụng những hình thức nhất định sao cho thuận lợi với cả hai
bên. Một đặc điểm khá nổi bật của tín dụng ngân hàng là có khả năng linh
hoạt về lãi suất cũng nh thời hạn.
* Các nguồn tài trợ khác: Ngoài các nguồn tài trợ trên các doanh
nghiệp XNK còn có thể đợc tài trợ bằng các nguồn nh đầu t nớc ngoài, vay
nợ viện trợ của nớc ngoài, hỗ trợ của Chính phủ Hiện nay các nguồn này
thờng cũng đợc sử dụng thông qua các Ngân hàng.
Nh vậy, nguồn tài trợ cho XNK rất đa dạng nhng trong đó nguồn tín
dụng ngân hàng nhờ có những u thế riêng nên vẫn nắm giữ một vị trí đặ c
biệt đối với sự phát triễn của đất nớc nói chung vá hoạt động XNK nói riêng
11
2. Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
2.1. Khái niệm, Vai trò của tín dụng ngân hàng
2.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế đợc rất nhiều nhà kinh tế
học đề cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng. Tuy
nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng là một quan hệ xã hội giữa ng-
ời cho vay và ngời đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua sự vận
động của giá trị vốn tín dụng đợc biểu hiện dới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín
dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh
trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế-xã hội, các
cơ quan Nhà nớc và các tầng lớp dân c .
Tín dụng ngân hàng ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhờ có
khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà nó đã
không ngừng đợc mở rộng sang tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau trong đó
có hoạt động XNK, nó đã trở thành một nguồn tài trợ không thể thiếu đối với
hoạt động XNK của các quốc gia. Sự tham gia hỗ trợ của các ngân hàng cho
hoạt động XNK có tác động tích cực không chỉ về mặt tài chính mà còn về cả
việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
2.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK đợc thể hiện
qua các mặt sau:
- Thứ nhất, giống nh các nguồn tài trợ khác tín dụng ngân hàng là một
nguồn vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp XNK để thu mua dự trữ, sản
xuất, tiêu thụ hàng hoá, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho quá trình
sản xuất cũng nh tái sản xuất của doanh nghiệp.
- Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trờng.
12
Kinh doanh có hiệu quả là yêu cầu của hạch toán kinh tế đồng thời
cũng là một trong những điều kiện cung cấp tín dụng của ngân hàng. Do đó,
tín dụng ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả
kinh doanh, nâng cao mức doanh lợi. Bên cạnh đó, với khả năng linh hoạt về
thời hạn và lãi suất của tín dụng ngân hàng sẽ khuyến khích sự chủ động và
sáng tạo của các doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn sao cho phù hợp với
nhu cầu về vốn trong mỗi thời kỳ khác nhau.
- Thứ ba, tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt dộng XNK diễn ra thuận
lợi và nhanh chóng hơn.
- Thứ t, xuất phát từ tính rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK cao
và do việc thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa ngời mua và ngời bán sự có mặt của
ngân hàng sẽ là một đảm bảo cho cả hai bên, nhà xuất khẩu sẽ hạn chế đợc
những rủi ro không thanh toán khi ngân hàng đứng ra đảm bảo cung cấp tín
dụng cho nhà nhập khẩu và ngợc lại nhờ nguồn tín dụng của ngân hàng nhà
nhập khẩu thực hiện đợc những nhập khẩu quan trọng trong khi khả năng tài
chính của họ cha đáp ứng đợc.
- Thứ năm, ngân hàng là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ của
nớc ngoài cho hoạt động XNK. Bởi vì hiện nay phần lớn các nguồn tài trợ
của các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó đợc thực
hiện qua các ngân hàng nớc sở tại.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK càng có ý
nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chính sách của Nhà nớc, trong đó có
chính sách hớng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngân hàng sẽ cung cấp
cho các nhà XNK những khoản tín dụng lớn với lãi xuất u đãi mà nhờ đó họ
có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
13
2.2. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng th-
ơng mại.
Thơng mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ rất đa dạng, phức tạp.
Với t cách là trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong
việc đảm bảo cho hoạt động XNK diễn ra liên tục nhanh chóng, thuận lợi cho
cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Dựa trên các tiêu chí ta có thể chia tín
dụng XNK ra thành các hình thức nh sau:
2.2.1. Cho vay trong khuôn khổ thanh toán bằng L/C
Th tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng cam
kết sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu
do ngời này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi ngời này xuất trình cho
ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định đề ra trong th
tín dụng.
* Đối với L/C trong thanh toán hàng nhập khẩu
- Cho vay ký quỹ L/C
Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trờng hợp
khách hàng xin đợc bảo lãnh, khách sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định
vào tài khoản của họ tại ngân hàng mà họ xin đợc bảo lãnh và khoản tiền đó
se đợc phong toả cho đến khi nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng chấm dứt.
Thông thờng khoản tiền này đợc tính tỷ lệ với giá trị hợp đồng mà khách
hàng xin đợc bảo lãnh. Trong trờng hợp thiếu sự tin cậy hoặc thơng vụ tiềm
ẩn rủi ro cao ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ 100% giá trị hợp
đồng. Đối với những khách hàng đáng tin cậy hoặc có quan hệ thờng xuyên
thì ngân hàng có thể chấp nhận mức ký quỹ thấp hơn so với giá trị họp đồng.
Thông thờng mức ký quỹ L/C phụ thuộc vào các yếu tố sau.
+ Khả năng thanh toán của khách hàng.
+ Đối tợng khách hàng
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét