nâng cao năng suất lao động cần đầu tư xây dựng hệ thống kênh mương, đập
tưới tiêu nước, hệ thống vận tải nông thôn để trao đổi hàng hoá, hệ thống giáo
dục và điện khí hoá nông thôn.
Giai đoạn 2: Hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển đồng
thời cả công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ theo chiều rộng. Bên cạnh việc
tiếp tục phát triển nông nghiệp theo quy mô lớn, cần phát triển những ngành
công nghiệp, dịch vụ cần nhiều lao động và các ngành thu hút nhiều lao động.
Nhờ đó vừa giải quyết lao động dư thừa vừa mở rộng thị trường cho ngành
công nghiệp.
Giai đoạn 3: Sau khi có việc làm đầy đủ: thực hiện phát triển các ngành kinh tế
theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động. Đẩy mạnh đầu tư đưa khoa học công
nghệ vào nhằm thay thế lực lượng lao động đang dần trở nên thiếu hụt. Các
ngành sử dụng ít lao động đang dần thay thế các ngành sử dụng nhiều lao động
trong cơ cấu kinh tế
Mô hình của Oshima là mô hình tiến bộ nhất và cũng gần gũi nhất với
điều kiện Việt Nam (một nước châu Á gió mùa). Bởi vậy những kết luận
mô hình đưa ra rất đáng lưu tâm. Theo đó, cơ cấu đầu tư biểu hiện
những ưu tiên của nền kinh tế trong từng giai đoạn. Chính nó quyết
định cơ cấu kinh tế. Do đó kiến nghị mà Oshima đưa ra là sử dụng sự
thay đổi từng bước trong cơ cấu đầu tư để mang lại Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
1.3. Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu (Moise Syrquin)
Có thể tóm tắt lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M. Syrquin gồm ba giai
đoạn: (1) sản xuất nông nghiệp, (2) công nghiệp hóa, và (3) nền kinh tế phát triển.
Giai đoạn 1: có đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu
vực khai thác, đặc biệt là nông nghiệp. Nếu xét ở mặt cung, thì trong giai
đoạn 1 có những đặc trưng chính là tỷ lệ tích lũy tư bản còn khiêm tốn nên tỷ
lệ đầu tư thấp, tốc độ tăng trưởng cao của lực lượng lao động, và tốc độ tăng
trưởng tổng năng suất nhân tố (TFP) rất thấp, và nhân tố sau cùng này tác
động mạnh đến tốc độ tăng trưởng kinh tế chung hơn là yếu tố tỷ lệ đầu tư
thấp.
Giai đoạn 2 hay là giai đoạn công nghiệp hóa: có đặc điểm nổi bật là tầm
quan trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang
khu vực chế biến và chỉ tiêu chính để đo lường sự dịch chuyển này là tầm
quan trọng của khu vực chế biến trong đóng góp và tăng trưởng kinh tế
chung ngày càng tăng lên. Xét ở mặt cung, sự đóng góp vào tăng trưởng của
nhân tố tích lũy tư bản vẫn được giữ ở mức cao trong hầu hết giai đoạn 2 do
có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư.
Giai đoạn 3: là giai đoạn của một nền kinh tế phát triển. Sự chuyển tiếp từ
giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 có thể được hiểu theo nhiều cách. Nếu xét về
5
mặt cầu, tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu nhu cầu nội địa bắt
đầu giảm xuống. Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động. Ở mặt
cung, sự khác biệt chủ yếu giữa giai đoạn 2 và giai đoạn 3 là sự suy giảm
trong đóng góp vào tăng trưởng của cả hai nhân tố sản xuất tư bản và lao
động theo cách tính qui ước. Như vậy, trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp
lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố tổng năng suất nhân tố (Total Factor
Productivity - TFP).
Có thế nói rằng, lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của M. Syrquin là một bức tranh tổng
thể khá chính xác về sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới thời
kỳ hiện đại. Đặc biệt, lý thuyết này đi sâu hơn các lý thuyết trước trong việc phân
tích tác động của từng nguồn lực trong đầu tư phát triển đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong từng giai đoạn.
1.6. Lý thuyết phát triển cân đối và Lý thuyết phát triển không cân đối hay
“các cực tăng trưởng”
• Những nhà kinh tế học ủng hộ lý thuyết phát triển cân đối (như R Nurkse,
Rosenstein - Rodan) cho rằng ngay từ đầu phải đầu tư phát triển đồng đều ở
tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân để nhanh chóng công nghiệp hóa và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Luận cứ mà họ đưa ra là:
- Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành có liên quan mật thiết với nhau, "đầu
ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia và như vậy, sự phát triển đồng đều và
cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầu trong sản xuất.
- Sự phát triển cân đối giữa các ngành như thế giúp tránh được các ảnh hưởng tiêu
cực của thị trường thế giới và hạn chế được mức độ phụ thuộc vào các nền kinh tế
khác, qua đó tiết kiệm được nguồn ngoại tệ.
- Một nền kinh tế dự trên cơ cấu cân đối giữa tất cả các ngành là nền tảng vững chắc
đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước đang phát triển.
Những nghiên cứu mà mô hình đưa ra chỉ phù hợp để định hướng cho một nền kinh
tế đóng. Nó không phù hợp với điều kiện toàn cầu hóa hiện nay. Đặc biệt với các
nước đang phát triển nếu đi theo con đường này sẽ bị hạn chế trong việc tiếp cận
với các nguồn lực do không tận dụng được các lợi ích mà môi trường bên ngoài
đem lại. Mặt khác, việc đầu tư cho tất cả các ngành phải đối mặt với vấn đề nguồn
lực khan hiếm. Đặc biệt, với các nước đang phát triển, việc đầu tư vào tất cả các
ngành với nguồn lực nhỏ bé trong nước sẽ dẫn tới đầu tư dàn trải, kém hiệu quả.
• Bởi vậy hiện nay hầu hết các nước đều đi theo con đường phát triển không
cân đối. Những đại diện tiêu biểu của lý thuyết này (A. Hirschman, F.
Perrons) cho rằng không thể và không nhất thiết đảm bảo tăng trưởng bền
vững bằng cách duy trì cơ cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia. Họ
lập luận như sau:
6
- Việc phát triển không cân đối sẽ tạo ra kích thích đầu tư. Nếu cung bằng cầu trong
tất cả các ngành thì sẽ triệt tiêu động lực đầu tư nâng cao năng lực sản xuất. Ðể phát
triển được, cần phải tập trung đầu tư vào một số ngành nhất định, tạo ra một "cú
hích" thúc đẩy và có tác dụng lôi kéo đầu tư trong các ngành khác theo kiểu lý
thuyết số nhân, từ đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế.
- Trong mỗi giai đoạn phát triển, vai trò "cực tăng trưởng" của các ngành trong nền
kinh tế là không giống nhau. Vì vậy, cần tập trung những nguồn lực (vốn khan
hiếm) cho một số lĩnh vực cụ thể trong một thời điểm nhất định.
- Do trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, các nước đang phát triển rất
thiếu các nguồn lực sản xuất và không có khả năng phát triển cùng một lúc đồng bộ
tất cả các ngành hiện đại. Vì thế, phát triển không cân đối gần như là một sự lựa
chọn bắt buộc.
Rõ ràng, lý thuyết này phù hợp hơn với xu thế hội nhập nói chung và điều kiện của
các nước đang phát triển nói riêng. Hiện nay hầu hết các nước đều định hướng đầu
tư trọng tâm, trọng điểm vào một số lĩnh vực của nền kinh tế. Tuy nhiên, để phát
triển bền vững nên kết hợp linh hoạt 2 lý thuyết này trong định hướng chuyển dịch
cơ cấu kinh tế đất nước trong từng giai đoạn.
Kết luận chung được rút ra sau khi xem xét tất cả các lý thuyết trên là: Thứ
nhất, để phát triển kinh tế cần xác định một cơ cấu kinh tế phù hợp cho từng giai
đoạn (đây là nhiệm vụ của công tác định hướng, lập kế hoạch). Thứ hai, muốn nền
kinh tế chuyển dịch theo cơ cấu đã định ra, phải hướng đầu tư vào những lĩnh vực
ưu tiên đã được xác định. Vậy, các lý thuyết trên đều chứng minh rằng đầu tư có
vai trò là nhân tố thực hiện trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
2 .Những logic thực tế về vai trò của đầu tư với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1. Đối với cơ cấu ngành kinh tế:
Việc đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn là bao nhiêu, đồng vốn được sử dụng
như thế nào đều tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự phát triển của ngành nói riêng
và của cả nền kinh tế nói chung. Cụ thể, đầu tư sẽ góp phần tăng cường vật chất kĩ
thuật, nâng cao hàm lượng công nghệ qua đó nâng cao năng suất lao động của ngành.
Nhờ đó sẽ tạo ra sản lượng cao hơn với giá thành thấp hơn. Mặt khác, đầu tư là tiền
đề tập trung các nguồn lực khác của nền kinh tế (lao động,tài nguyên,vốn dư thừa…)
cho mục tiêu phát triển ngành. Chính đầu tư chứ không phải các quyết định hành
chính là nhân tố trực tiếp nhất có thể huy động tất cả các yếu tố đầu vào cần thiết cho
sự phát triển của ngành. Không những thế việc đầu tư còn tạo ra điều kiện vật chất
cho sự ra đời của những ngành mới. Sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành và sự ra đời
của những ngành mới chính là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
2.2.Đối với cơ cấu lãnh thổ kinh tế:
7
Có thể dễ dàng nhận thấy bất cứ vùng nào nhận được một sự đầu tư thích hợp đều có
điều kiện để phát huy mạnh mẽ những thế mạnh của mình. Những vùng tập trung
nhiều khu công nghiệp lớn đều là những vùng rất phát triển của một quốc gia. Những
vùng có điều kiện được đầu tư sẽ là đầu tàu kéo các vùng khác cùng phát triển. Những
vùng kém phát triển có thể nhờ vào đầu tư để thoát khỏi đói nghèo và giảm dần
khoảng cách với các vùng khác. Nếu xét cơ cấu lãnh thổ theo góc độ thành thị và
nông thôn thì đầu tư là yếu tố bảo đảm cho chất lượng của đô thị hoá. Việc mở rộng
các khu đô thị dựa trên các quyết định của chính phủ sẽ chỉ là hình thức nếu không đi
kèm với các khoản đầu tư hợp lý. Đô thị hoá không thể gọi là thành công thậm chí
còn cản trở sự phát triển nếu cơ sớ hạ tầng không đáp ứng được các nhu cầu của
người dân. Các dịch vụ y tế, giáo dục… cũng cần được đầu tư cho phù hợp với sự
phát triển của một đô thị.
2.3.Đối với cơ cấu thành phần kinh tế:
Đối với mỗi quốc gia, việc tổ chức các thành phần kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào
chiến lược phát triển của chính phủ. Các chính sách kinh tế sẽ quyết định thành phần
nào là chủ đạo; thành phần nào được ưu tiên phát triển; vai trò; nhiệm vụ của các
thành phần trong nền kinh tế…Ở đây đầu tư đóng vai trò nhân tố thực hiện.
Tóm lại, nhìn tư góc độ lý thuyết hay thực tiễn đều thấy được mối quan hệ và vai
trò tất yếu của đầu tư phát triển đối với quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế của
mỗi quốc gia. Đây là cơ cở lý thuyết quan trọng để thực hiện đề tài.
3.Vai trò đặc biệt của đầu tư trong điều kiện toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá là xu hướng chung của cả thế giới mà không một quốc gia nào có
thể đứng ngoài xu hướng chung đó. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như
Việt Nam, toàn cầu hoá luôn kèm theo những yếu tố loại trừ rất khắc nghiệt. “Đổi
mới hay tụt hậu?”câu hỏi đó phải được trả lời bằng quyết tâm của cả nền kinh tế. Vậy
nên, trong điều kiện toàn cầu hoá vai trò của đầu tư trở nên vô cùng quan trọng. Bởi
lẽ, trước đòi hỏi cao của trình độ khoa học công nghệ thế giới, chúng ta phải không
ngừng nâng cao công nghệ của mình. Mà công nghệ không thể tự sản sinh nếu không
có vốn bất kể đó là công nghệ nội sinh hay công nghệ ngoại sinh. Hơn nữa, nền kinh
tế trong nước là một bộ phận của kinh tế thế giới. Vì vậy, cơ cấu kinh tế của chúng ta
không những phải chuyển dịch mà còn phải chuyển dịch nhanh hơn để phù hợp nhu
cầu của thế giới. Với điều kiện nước ta hiện nay những bất hợp lý là không thể tránh
khỏi. Nhưng chúng ta phải nhanh chóng xoá bỏ những điều đó để hội nhập. Muốn
vậy phải đầu tư nhiều hơn nữa.
Mặc dù những thách thức là rất lớn nhưng toàn cầu hoá cũng mang lại cho chúng
ta nhiều cơ hội lớn để đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Đó là đầu tư
nước ngoài, chuyển giao công nghệ và thương mại quốc tế. Với việc mở cửa nền kinh
tế, chúng ta đang thu hút những nguồn vốn vô cùng quan trọng cho sự phát triển toàn
diện. Chuyển giao công nghệ tuy có những khó khăn, phức tạp nhưng đó là hướng đi
8
chung của các quốc gia đang phát triển hiện nay để thực hiện công nghiệp hoá-hiện
đại hoá đất nước. Thương mại quốc tế là cơ hội rất lớn để chúng ta mở rộng thị
trường đồng thời tạo môi trường cạnh tranh trong nước. Nhưng để cạnh tranh hiệu
quả chúng ta cần biết thị trường thế giới đang cần gì để xây dựng cơ cấu đầu tư vào
những nhóm ngành sản xuất hàng xuất khẩu phù hợp.
Toàn cầu hoá đang đưa Việt Nam ra gần hơn với thế giới và đưa thế giới đến gần hơn
với Việt Nam.
4. Những chỉ số đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tác động của
đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4.1.Các chỉ số đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4.1.1. Tỉ trọng các ngành -
β
(t)
• Công thức tính tỉ trọng ngành.
Tỉ trọng của ngành nông nghiệp là :
β
NN
(t) =
)(
)(
tGDP
tGDP
NN
Tỉ trọng của ngành công nghiệp và xây dựng là :
β
CN
(t) =
)(
)(
tGDP
tGDP
CN
Tỉ trọng của ngành dịch vụ là :
β
DV
(t) =
)(
)(
tGDP
tGDP
DV
Tỉ trọng của ngành phi nông nghiệp là :
β
PNN
(t) = β
CN
(t) + β
DV
(t)
Tỉ trọng của ngành sản xuất vật chất là :
β
SXVC
(t) = β
NN
(t) + β
CN
(t)
• Ý nghĩa hệ số
Cho biết đóng góp về mặt lượng của mỗi ngành vào tổng sản lượng của nền kinh tế
trong mỗi thời kỳ. Nếu xét trong một thời kỳ, chỉ số này thể hiện vai trò của mỗi
ngành trong nền kinh tế. Nếu xét nhiều thời kỳ liên tiếp, chỉ số này biểu hiện sự
thay đổi vai trò của các ngành qua thời gian.
Công thức tính tỷ trọng này cũng áp dụng để tính tỷ trọng GDP, tỷ trọng đầu tư của
các vùng, các thành phần kinh tế. Khi đó, nó được dùng để đánh giá chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo lãnh thổ và theo thành phần kinh tế.
4.1.2. Độ lệch tỉ trọng ngành – d
9
Công thức tính
d
NN
=
)()1( tt
NNNN
ββ
−
Ý nghĩa: Độ lệch tỷ trọng ngành phản ánh sự thay đổi tỷ trọng ngành đó giữa
năm đầu và năm cuối của giai đoạn nghiên cứu. Nhờ đó ta có thể đánh giá
được hướng chuyển dịch của ngành đó cũng như hướng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế giữa các ngành.
4.1.3. Hệ số chuyển dịch k của 2 ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp
• Công thức tính
Cos θ
o
=
)1()1(())()((
)1()()1()(
2222
tttt
tttt
PNNNNPNNNN
PNNPNNNNNN
ββββ
ββββ
+×+
×+×
Góc θ
o
= arccos θ
o
Hệ số chuyển dịch k của 2 ngành NN và phi NN là :
K=
90
0
θ
• Ý nghĩa của hệ số
Góc θ
o
bằng 0
o
khi không có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và 90
0
khi sự dịch
chuyển là lớn nhất. Hệ số k cho biết tốc độ của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhờ đó
mà có ta có thể sử dụng hệ số K của mỗi vùng hay mỗi giai đoạn để so sánh và
đánh giá tốc độ của chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng hoặc của vùng đó qua
các giai đoạn.
• Điều kiện áp dụng: trong công thức đưa ra; vai trò của 2 thành phần tỷ trọng
nông nghiệp và phi nông nghiệp là hoàn toàn bình đẳng. Bởi vậy, việc sử
dụng k để đánh giá tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành chỉ áp dụng khi sự
chuyển dịch là đúng hướng (tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm, tỷ trọng khu
vực phi nông nghiệp tăng. Vì vậy, chỉ đánh giá k trong giai đoạn d
NN
<0)
4.2. Các hệ số đánh giá tác động của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư với thay đổi cơ cấu kinh tế ngành
(H1)
• Công thức
10
H1 =
)(
)()1(
)(
)()1(
t
tt
t
tt
I
II
β
ββ
β
ββ
−
−
với
)1(t
I
β
là tỷ trọng đầu tư ngành thời kỳ nghiên cứu
)(t
I
β
là tỷ trọng đầu tư ngành thời kỳ trước
)1(t
β
là tỷ trọng đóng góp GDP của ngành đó thời kỳ nghiên cứu
)(t
β
là tỷ trọng đóng góp GDP của ngành đó thời kỳ trước
• Ý nghĩa : chỉ tiêu này cho biết, để tăng 1% tỷ trọng GDP của ngành trong
tổng GDP (thay đổi cơ cấu kinh tế) thì cần phải đầu tư cho ngành tăng thêm
bao nhiêu. Bởi vậy, nó là thước đo đánh giá độ nhạy cảm giữa tỷ trọng GDP
của mỗi ngành và tỷ trọng đầu tư của ngành đó. Qua đó có thể đánh giá mức
độ ảnh hướng của đầu tư tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Nếu hệ số
này mang giá giá trị dương tức là khi tỷ trọng đầu tư vào ngành tăng hoặc
giảm thì tỷ trọng GDP cũng tăng giảm tương ứng. Nếu hệ số này âm, tức là
trong giai đoạn đo đầu tư không tác động thuận chiều đến thay đổi tỷ trọng
ngành.
2. Hệ số co dãn giữa việc thay đổi cơ cấu đầu tư ngành với thay đổi GDP (H2)
• Công thức tính
H2 =
)(
)()1(
)(
)()1(
tg
tgtg
t
tt
I
II
−
−
β
ββ
Với
g(t1) là tốc độ tăng trưởng kỳ nghiên cứu
g(1) là tốc độ tăng trưởng kỳ trước
• Ý nghĩa : chỉ tiêu này cho biết để góp phần đưa vào tăng trưởng kinh tế
(GDP) lên 1% thì tỉ trọng đầu tư vào 1 ngành nào đó tăng bao nhiêu.
Cũng giống như hệ số trên, hệ số này là thước đo độ nhạy cảm của tăng
trưởng kinh tế nói chung với thay đổi tỷ trọng đầu tư của mỗi ngành.
Chương II
11
Thực trạng của đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Việt Nam giai đoạn sau đổi mới kinh tế 1986
Phần A. Tác động của đầu tư đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
I.Khái quát tình hình thu hút vốn đầu tư ở Việt Nam sau Đổi mới
Đổi mới kinh tế đánh dấu một bước ngoặt lớn trong hoạt động đầu tư phát triển ở
Việt Nam. Với sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài (1987) và Luật Doanh nghiệp
(2000) tình hình thu hút vốn đầu tư đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tổng vốn đầu
tư tăng nhanh. Chỉ xét giai đoạn từ 1995-2007, tổng vốn đầu tư đã tăng hơn 7 lần.
Từ năm 1990 đến nay tổng vốn đầu tư phát triển của Việt Nam tăng khá nhanh và tỷ
lệ đầu tư so với GDP đã tăng lên đến 41% năm 2006, 41,7% năm 2007.
(nguồn: tổng cục thống kê)
Mặt khác, về cơ cấu nguồn vốn có sự đa dạng hóa. Nếu trước đổi mới, vốn đầu tư
xã hội chủ yếu là vốn nhà nước. Thì sau đổi mới nguồn vốn đã được mở rộng với sự
tham gia của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Nguồn vốn trong nước đã
được khai thác khá hơn, chiếm trên 70% so với tổng vốn đầu tư, vượt dự kiến kế
hoạch (60%), tạo điều kiện tốt hơn để tập trung đầu tư vào những mục tiêu phát
triển nông nghiệp và nông thôn, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt là xây dựng kết cấu hạ tầng;
đồng thời có nhiều hình thức huy động khác như công trái giáo dục, trái phiếu chính
phủ, trái phiếu đô thị , tăng thêm nguồn vốn đầu tư phát triển. Bên cạnh đó, chúng
12
ta luôn luôn coi trọng việc thu hút nguồn vốn từ bên ngoài, cả ODA và đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư phát triển, coi đó là yếu
tố quan trọng, góp phần tăng thêm nguồn vốn đầu tư phát triển, tạo ra cơ cấu kinh tế
vùng hợp lý để thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Số dự án FDI được cấp giấy phép đã tăng nhanh về số lượng. Từ 37 dự án
năm 1988 lên 987 dự án năm 2006 và sơ bộ đạt 1544 dự án năm 2007. Nguồn vốn
ODA được giải ngân đạt 4.6 tỷ USD trong 3 năm qua. Góp phần vào sự gia tăng
nguồn vốn cho đầu tư phát triển là sự phát triển mạnh của thị trường tài chính đặc
biệt là thị trường chúng khoán trong thời gian gần đây đã tạo ra một kên huy động
vốn mới, hiệu quả.
II. Đánh giá chất lượng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam sau Đổi
mới
Phần này chủ yếu nêu ra các đánh giá định lượng về chất lượng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế Việt Nam thông qua hệ thống các chỉ số đã nêu ở chương I.
1. Mức độ chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành
Sự thay đổi vai trò của từng ngành qua các thời kỳ được xem xét thông qua tỷ trọng
của các ngành trong nền kinh tế.
Tỷ trọng ngành kinh tế của VN thời kỳ 1986-2007 được thể hiện qua bảng
sau :
Bảng 1
Năm 1986 1990 1999 2000 2005 2006 2007
Đóng góp GDP của các ngành (tỷ đồng)
NN 228 16252 101723 108356 175984 198797 232188
CN 173 9513 137959 162220 344229 404696 475680
DV 198 16190 160260 171070 319004 370771 436146
Tỷ trọng của các ngành trong nền kinh tế (%)
NN 38.06 38.74 25.43 24.53 20.05 18.74 17.86
CN 28.88 22.67 34.49 36.73 41.00 40.97 41.77
DV 33.06 38.59 40.08 38.73 38.50 40.29 40.37
(nguồn:TỔNG CỤC THỐNG KÊ)
Có thể thấy vai trò của các ngành kinh tế không ngừng thay đổi theo thời
gian. Trong đó, ngành nông nghiệp từ chỗ là ngành quan trọng nhất (chiếm tỷ trọng
cao nhất trong giai đoạn 1986-1990) đã dần nhường chỗ cho các ngành công nghiệp
và dịch vụ. Tỷ trọng của ngành dịch vụ nhìn chung không ngừng gia tăng trong các
thời kỳ. Hiện nay, công nghiệp đang là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP.
Đồng nghĩa với việc là ngành kinh tế quan trọng nhất. Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng
tăng liên tục qua các năm. Có những thời kỳ dịch vụ đã là ngành kinh tế lớn nhất
(1999-2005). Hiện nay, đó là ngành kinh tế lớn thứ hai sau công nghiệp.
13
Nếu so sánh với các chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm, còn có thể thấy:
Chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm 1996-2000: Cơ cấu ngành kinh tế năm cuối
(2000) Nông-lâm-ngư nghiệp:19-20%; Công nghiệp-xây dựng: 34-35%; Dịch vụ:
45-46%. Nếu nhìn vào giá trị đạt được của Việt Nam trong năm 2000 với các số
liệu tương ứng là 24.53%-36.73%-38.73% thì chuyển dịch cơ cấu ngành nông
nghiệp, dịch vụ đã không đạt được chỉ tiêu đề ra. Tuy nhiên, nguyên nhân ở đây là
do chính các chỉ tiêu thời kỳ này là không hợp lý khi kỳ vọng quá cao vào sự phát
triển của ngành dịch vụ trong điều kiện bấy giờ của đất nước.
Chỉ tiêu kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005: Cơ cấu kinh tế năm 2005: Tỷ trọng
các ngành: Nông nghiệp: 20-21%; Công nghiệp-xây dựng: 38-39%; Dịch vụ 41-
42%. Các chỉ tiêu này rõ ràng đã được điều chỉnh phù hợp hơn. Tuy nhiên, việc đặt
mục tiêu tỷ trọng dịch vụ cao hơn công nghiệp là chưa hợp lý. Trong thực tế năm
2005, tỷ trọng ngành dịch vụ (38.05%) vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra.
Chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 là: nông-lâm-ngư nghiệp:
15-16%; công nghiệp-xây dựng: 43-44%; Dịch vụ: 40-41%. Chỉ tiêu đặt ra cho giai
đoạn này đã thực sự định hướng được cho sản xuất và là chỉ tiêu tốt để so sánh. Và
nếu nhìn vào cơ cấu ngành năm 2007, ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng các chỉ tiêu
này sẽ được hoàn thành vao năm 2010.
2. Hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
• Số liệu thực tế của Việt Nam
Độ lệch tỷ trọng các ngành các giai đoạn :
Bảng 4
Đơn vị:%
Giai đoạn 1986-1989 1990-1994
1995-
1999
2000-
2004
2005-
2007
Độ lệch tỷ
trọng NN 4.01 -11.31 -1.74 -2.77 -3.04
Độ lệch tỷ
trọng CN -5.94 6.2 5.72 3.36 0.77
Độ lệch tỷ
trọng DV 1.93 5.11 -3.98 -0.59 2.27
Độ lệch tỷ
trọng PNN -4.01 11.31 1.74 2.77 3.04
• Đánh giá số liệu.
Nếu xét theo tương quan giữa 2 khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp có thể
thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đi đúng hướng. Từ năm 1990, độ lệch tỷ trọng
nông nghiệp luôn mang giá trị âm cho thấy hướng chuyển dịch từ khu vực nông
nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét