Mở đầu
Giá trị sản xuất theo ngành kinh tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
toàn bộ giá trị của sản phẩm vật chất (thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở
dang) và dịch vụ sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định. Giá trị sản xuất có thể
tính theo giá cơ bản hoặc giá sản xuất, hiện nay Tổng cục Thống kê đang áp dụng
giá sản xuất trong tính toán chỉ tiêu này. Tính theo giá sản xuất phù hợp với chế
độ hạch toán, kế toán và hệ thống thuế sản xuất trớc đây. Tại kỳ họp thứ 11 (từ
ngày 2/4 đến 10/5/1997) của Quốc hội khoá IX đã thông qua Luật thuế Giá trị gia
tăng và có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 thay cho Luật thuế Doanh thu và chế độ
hạch toán, kế toán cũng có những đổi mới, vì vậy việc áp dụng giá sản xuất để
tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo ngành kinh tế bộc lộ những bất cập.
Trên giác độ phân tích kinh tế, việc áp dụng giá sản xuất để tính chỉ tiêu giá
trị sản xuất sẽ phản ánh không đúng bản chất kinh tế của hoạt động sản xuất kinh
doanh ở cơ sở. Giá sản xuất không phản ánh thực tế số tiền đơn vị sản xuất hàng
hóa và dịch vụ thu đợc khi bán sản phẩm của mình và cũng không phản ánh
đúng số tiền ngời mua thực sự phải trả để có đợc hàng hóa và dịch vụ ngời
mua cần.
Hiện nay, chế độ báo cáo thống kê định kỳ ban hành theo Quyết định số 75
/2003/QĐ-TCTK ngày 15 tháng 01 năm 2003 của Tổng cục trởng Tổng cục
Thống kê quy định phơng pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất của các ngành kinh
tế có bất cập với một trong các nguyên nhân do tính chỉ tiêu này theo giá sản
xuất. Trong kế hoạch phát triển thống kê tài khoản quốc gia và theo cam kết của
Tổng cục Thống kê với Quỹ Tiền tệ quốc tế, từ năm 2005 Tổng cục Thống kê sẽ
áp dụng giá cơ bản. Điều này đã đặt ra cho ngành Thống kê cần nghiên cứu khái
niệm, nội dung, phơng pháp tính và khả năng áp dụng giá cơ bản trong tính toán
chỉ tiêu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế.
Với phơng châm nghiên cứu khoa học phục vụ thiết thực cho thực tiễn,
Viện Khoa học Thống kê đã đề xuất nghiên cứu đề tài cấp Tổng cục: Nghiên cứu
khả năng tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế
theo giá cơ bản trong hai năm 2004 và 2005. Đề tài do thạc sĩ Nguyễn Bích Lâm
Phó viện trởng Viện Khoa học thống kê làm chủ nhiệm, cử nhân Đinh Thị Thuý
Phơng làm th ký với sự tham gia của CN. Vũ Văn Tuấn - Vụ trởng Vụ Thống
kê Công nghiệp và Xây dựng, CN. Đỗ Văn Huân Nghiên cứu viên Viện Khoa
học thống kê và một số nghiên cứu viên của Viện Khoa học thống kê, chuyên viên
của các vụ: Thống kê Công nghiệp và xây dựng, Hệ thống tài khoản quốc gia.
1
Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu khái niệm, nội dung, phơng pháp tính chỉ
tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế theo giá cơ bản và
khả năng áp dụng loại giá này đối với ngành công nghiệp. Với mục tiêu này, ban
chủ nhiệm đề tài đã tập trung nghiên cứu 4 nội dung chính sau đây:
i. Khái niệm, định nghĩa và nội dung các loại giá dùng trong tính toán chỉ
tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian và giá trị tăng thêm;
ii. So sánh sự khác biệt giữa các loại giá và luận giải u điểm của việc
dùng giá cơ bản trong tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung
gian và giá trị tăng thêm;
iii. Nghiên cứu phơng pháp đánh giá chỉ tiêu giá trị sản xuất và giá trị
tăng thêm theo giá cơ bản;
iv. Nghiên cứu khả năng tính chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm
của ngành công nghiệp theo giá cơ bản.
Sau hai năm nghiên cứu với sự phối hợp của Vụ thống kê Công nghiệp và
Xây dựng, Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê Vĩnh Phúc và các cán
bộ nghiên cứu khoa học, đề tài đã hoàn thành những nội dung nghiên cứu qua 12
chuyên đề khoa học
1
. Dựa vào các kết quả nghiên cứu, ban chủ nhiệm đề tài tổng
hợp, hệ thống hóa thành báo cáo chung: Báo cáo tổng hợp kết quả đề tài nghiên
cứu khả năng tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm của các ngành
kinh tế theo giá cơ bản, ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo gồm 3 phần:
- Phần I: Thực trạng áp dụng giá sản xuất trong tính toán chỉ tiêu giá trị sản
xuất, giá trị tăng thêm của ngành Thống kê hiện nay;
- Phần II: Phơng pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm theo
giá cơ bản của các ngành kinh tế và khả năng áp dụng;
- Phần III: Tính thử nghiệm chỉ tiêu giá trị sản xuất ngành công nghiệp theo
giá cơ bản.
Nghiên cứu phơng pháp luận, khả năng ứng dụng giá cơ bản vào thực tế
tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm là vấn đề khó, phức tạp, đòi hỏi
phải có thời gian để các nhà quản lý và các đối tợng dùng tin hiểu và thừa nhận
tính u việt của loại giá này. Trong khuôn khổ một đề tài khoa học, chắc chắn kết
quả nghiên cứu sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Ban chủ nhiệm đề tài mong nhận
đợc ý kiến góp ý để chúng tôi hoàn thiện thêm.
Ban chủ nhiệm đề tài
1
Danh mục các chuyên đề đa ra trong phụ lục 1
2
Phần I. Thực trạng áp dụng giá sản xuất trong tính
toán chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm
của ngành Thống kê hiện nay
I. Thực trạng áp dụng giá sản xuất
Ngày 25 tháng 12 năm 1992, Thủ tớng Chính phủ ra Quyết định 183/TTg
về việc Việt Nam chính thức áp dụng Hệ thống tài khoản quốc gia trên phạm vi cả
nớc và tính một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của hệ thống này cho các tỉnh và
thành phố trực thuộc trung ơng thay cho Hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc
dân. Trong những năm vừa qua, công tác thống kê tài khoản quốc gia đã từng
bớc đợc hoàn thiện và phát triển. Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của Hệ thống tài
khoản quốc gia nh: Giá trị sản xuất, tổng sản phẩm trong nớc, tích lũy tài sản,
tiêu dùng cuối cùng; thu nhập quốc gia; để dành, v.v, đã thực sự là căn cứ quan
trọng để Chính phủ, các Bộ ngành đánh giá, phân tích thực trạng và xu hớng
phát triển của đất nớc.
Tuy nhiên, trớc những đòi hỏi ngày càng cao về chất lợng số liệu của các
cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nớc và những ngời dùng tin, công tác thống kê tài
khoản quốc gia còn thể hiện một số hạn chế nh các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
cha đợc phân tổ chi tiết theo các khu vực thể chế, cha trở thành căn cứ phục
vụ Chính phủ rà soát, điều chỉnh và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô. Trong số
những chỉ tiêu đó, giá trị sản xuất của các ngành kinh tế là chỉ tiêu thu hút quan
tâm của nhiều ngời dùng tin nhng cũng còn bất cập về phạm vi, phơng pháp
luận và giá cả dùng để tính toán. Sau đây chúng tôi đề cập tới thực trạng áp dụng
giá sản xuất trong tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế hiện nay
ở Tổng cục Thống kê.
Phơng pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế theo giá
sản xuất của ngành Thống kê đợc chia làm 2 khu vực: khu vực dựa vào chế độ
báo cáo tài chính doanh nghiệp - áp dụng cho khu vực doanh nghiệp và khu vực
hộ gia đình. Vì chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp áp dụng thống nhất cho các
doanh nghiệp thuộc tất cả các ngành kinh tế, nên hiện nay phơng pháp tính giá
trị sản xuất của hầu hết các ngành kinh tế đối với khu vực áp dụng chế độ báo cáo
tài chính doanh nghiệp có nội dung giống nhau. Sau đây sẽ đề cập tới phơng
pháp tính giá trị sản xuất theo giá sản xuất của khu vực áp dụng chế độ báo cáo
tài chính doanh nghiệp, những bất cập, tồn tại của phơng pháp tính theo giá sản
xuất đúng với tất cả các ngành, vì vậy khi đề cập tới thực trạng áp dụng giá sản
xuất của từng ngành sẽ không đề cập tới khu vực áp dụng chế độ báo cáo tài
chính doanh nghiệp.
3
Theo chế độ báo cáo thống kê định kỳ ban hành theo Quyết định số 75
/2003/QĐ-TCTK ngày 15 tháng 01 năm 2003 của Tổng cục trởng Tổng cục
Thống kê, giá trị sản xuất theo giá sản xuất của khu vực áp chế độ báo cáo tài
chính doanh nghiệp đợc tính nh sau:
Giá trị sản xuất bằng doanh thu thuần về bán hàng hóa và cung cấp dịch
vụ cộng với thuế VAT phát sinh phải nộp, thuế tiêu thụ đặc biệt phát sinh phải
nộp, thuế xuất khẩu phát sinh phải nộp cộng với thuế VAT theo phơng pháp trực
tiếp phải nộp cộng với thu do bán sản phẩm phụ (đối với trờng hợp doanh thu
tiêu thụ nhỏ không hạch toán riêng, không tách ra đợc để đa về ngành tơng
ứng) cộng với thu do cho thuê thiết bị, máy móc có ngời điều khiển và các tài sản
khác (không kể đất) cộng với thu do bán phế liệu thu hồi, sản phẩm kèm theo tận
thu đợc trong quá trình sản xuất cộng với giá trị các mô hình công cụ là tài sản
cố định tự trang bị cho đơn vị cộng với chênh lệch cuối kỳ trừ đầu kỳ về thành
phẩm tồn kho, hàng gửi đi bán, sản phẩm dở dang và các chi phí dở dang còn lại
khác
2
.
Theo khái niệm giá trị sản xuất tính theo giá sản xuất là toàn bộ giá trị hàng
hóa và dịch vụ sản xuất trong kỳ (gồm cả sản phẩm dở dang và thành phẩm tồn
kho) bao gồm một số loại thuế sản phẩm trừ đi trợ cấp sản phẩm nhng không
bao gồm thuế giá trị gia tăng và thuế tơng tự đợc khấu trừ và loại trừ phí vận tải
không do ngời sản xuất trả khi bán hàng. Vì vậy, phơng pháp tính nêu trên
không đảm bảo đúng nội dung của chỉ tiêu theo khái niệm giá sản xuất (vì bao
gồm cả thuế VAT) nên gây ra bất cập không đáng có và những bất cập này không
còn nếu chỉ tiêu giá trị sản xuất đợc tính theo giá cơ bản. Cụ thể, nếu giá trị sản
xuất tính theo giá cơ bản, khi đó các yếu tố về thuế sản phẩm phát sinh phải nộp
thờng có độ tin cậy không cao, không cần thu thập và đa vào công thức tính.
Phơng pháp tính giá trị sản xuất theo giá sản xuất nh trong chế độ báo
cáo thống kê định kỳ tài khoản quốc gia bao gồm cả thuế giá trị gia tăng sẽ gây ra
sự thiếu thống nhất, điều đó không xảy ra khi tính theo giá cơ bản. Để minh họa
điều này chúng ta xét ví dụ sau: giả sử trong năm 2004, doanh nghiệp công
nghiệp A mua nguyên, vật liệu trị giá 10 triệu đồng từ đơn vị thơng mại để đa
vào sản xuất, phải nộp thuế giá trị gia tăng là 1 triệu đồng (thuế này sẽ đợc khấu
trừ khi doanh nghiệp bán sản phẩm). Trong năm, doanh nghiệp A dùng nguyên,
vật liệu đa vào sản xuất và tạo ra giá trị hàng hóa bán trên thị trờng theo giá cơ
bản (không bao gồm bất kỳ loại thuế sản phẩm nào) là 15 triệu đồng. Xét hai
trờng hợp sau:
2
Chế độ báo cáo thống kê định kỳ ban hành theo Quyết định số 75 /2003/QĐ-TCTK ngày 15 tháng 01 năm
2003 của Tổng cục trởng Tổng cục Thống kê, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 2003, trang 62.
4
i. Doanh nghiệp A bán hết sản phẩm sản xuất ra: giá trị sản xuất theo giá
cơ bản là 15 triệu đồng, GTSX theo phơng pháp tính của Vụ Hệ thống tài khoản
quốc gia là 15,5 triệu đồng vì bao gồm 0,5 triệu đồng thuế VAT phát sinh phải nộp
(Thuế VAT phát sinh khi bán sản phẩm là 1,5 triệu đồng, doanh nghiệp A đợc
khấu trừ 1 triệu);
ii. Doanh nghiệp A bán đợc 90% số sản phẩm sản xuất ra: giá trị sản
xuất theo giá cơ bản vẫn là 15 triệu đồng (gồm doanh thu thuần 13,5 triệu đồng và
tồn kho là 1,5 triệu đồng). Giá trị sản xuất theo phơng pháp tính của Vụ Hệ thống
tài khoản quốc gia là 15,45 triệu đồng, gồm các khoản doanh thu thuần 13,5 triệu
đồng, tồn kho 1,5 triệu đồng và thuế VAT phát sinh phải nộp là 0,45 triệu đồng
(1,35 triệu do bán 90% sản phẩm trừ đi thuế VAT đợc khấu trừ 0,9 triệu).
Rõ ràng phơng pháp tính hiện nay của Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia có
bất cập, vấn đề bất cập này đợc loại trừ khi giá trị sản xuất đợc tính theo giá cơ
bản.
Chất lợng tính toán của một chỉ tiêu càng đợc nâng cao nếu lợng thông
tin cần phải thu thập để tính chỉ tiêu đó càng ít. Trong trờng hợp dùng giá sản
xuất để tính chỉ tiêu giá trị sản xuất cần phải thu thập thông tin về thuế sản phẩm
phát sinh phải nộp ở cấp vi mô, trong khi đó nếu tính theo giá cơ bản sẽ không
cần những thông tin này.
áp dụng giá cơ bản để tính chỉ tiêu giá trị sản xuất sẽ loại trừ đợc ảnh
hởng của việc thay đổi chính sách thuế sản phẩm của Nhà nớc, đặc biệt đối với
các nớc đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa và thơng mại hóa hiện nay.
1. Ngành Nông, lâm nghiệp
Đối với khối hộ sản xuất nông nghiệp, chế độ quy định giá trị sản xuất của
hoạt động trồng trọt/chăn nuôi bằng sản lợng sản xuất trong năm nhân với giá
bán của ngời sản xuất bình quân trong năm. Giá sản xuất bình quân trong năm
lấy từ bảng cân đối sản phẩm trồng trọt/chăn nuôi hoặc đơn giá bán sản phẩm
trồng trọt/chăn nuôi của các hộ nông dân điều tra ở chợ nông thôn. Quy định tính
nh vừa nêu có một số bất cập nh sau:
- Giá bình quân lấy trong các bảng cân đối sản phẩm nông nghiệp (trồng
trọt và chăn nuôi) bị ảnh hởng của giá sản phẩm dùng đối với nhiều
mục đích khác nhau với đơn giá khác nhau nh: giá của sản phẩm trồng
trọt/chăn nuôi dùng để làm giống do mua ngoài, giá cả tính cho sản
phẩm để ăn, giá bán sản phẩm ra ngoài. Giá bình quân lấy trong bảng
cân đối sản phẩm nông nghiệp bị ảnh hởng bởi quyền số của sản
phẩm dùng cho các mục đích khác nhau. Một yếu tố cần đề cập đến đó
là chất lợng của bảng cân đối sản phẩm nông nghiệp cũng ảnh hởng
5
tới tính giá bình quân và câu hỏi đặt ra là có nên lập bảng cân đối này
với những mục đích nh Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia đa ra;
- Giá bán sản phẩm nông nghiệp của các hộ nông dân tại chợ nông thôn
thực chất là giá cơ bản vì giá bán những sản phẩm này không bao gồm
thuế sản phẩm nh: thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, vì vậy cách tính
hiện nay của thống kê tài khoản quốc gia theo giá sản xuất chỉ đúng với
khối có báo cáo tài chính doanh nghiệp, trong khi đó giá trị sản xuất
nông nghiệp của khu vực hộ gia đình chiếm đại đa số trong tổng giá trị
sản xuất của ngành này.
Đặc thù trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đó là trợ cấp sản phẩm của
Nhà nớc đối với ngời nông dân, công thức tính hiện nay cha để ý tới yếu tố
này. Nói cách khác giá trị sản xuất theo giá sản xuất phải trừ đi trợ cấp sản phẩm.
Nh vậy, phơng pháp tính giá trị sản xuất của thống kê Tài khoản quốc
gia theo giá sản xuất hiện nay cha chính xác, đó là sự pha trộn giữa giá sản xuất
và giá cơ bản. Không nên tính giá sản xuất dựa vào bảng cân đối sản phẩm nông
nghiệp.
2. Ngành Thuỷ sản
Đối với khu vực hộ khai thác và nuôi trồng thủy sản, giá trị sản xuất tính
theo phơng pháp xác định giá trị trực tiếp từ giá và lợng với giá bán của ngời
sản xuất bình quân trong năm. Giá bán của ngời sản xuất đối với các mặt hàng
thủy sản do đánh bắt và nuôi trồng không bao gồm bất kỳ một loại thuế sản phẩm
nào. Nói cách khác, giá bán của ngời sản xuất trong thống kê Thơng mại hoàn
toàn là giá cơ bản. Vì vậy, giá trị sản xuất đối với khối hộ sản xuất thủy sản nh
hớng dẫn trong chế báo cáo thống kê định kỳ Tài khoản quốc gia đợc tính theo
giá cơ bản.
Nh vậy giá trị sản xuất của ngành thủy sản gồm hai khu vực: khu vực áp
dụng chế độ báo cáo tài chính tính theo giá sản xuất nhng không đúng với khái
niệm giá sản xuất và khu vực hộ sản xuất thủy sản tính theo giá cơ bản.
3. Ngành Công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, công
nghiệp sản xuất và phân phối điện nớc
Đối với kinh tế tập thể và cá thể, chỉ tiêu giá trị sản xuất đợc tính bằng
tổng số lao động hoặc hộ sản xuất trong năm nhân (x) với giá trị sản xuất bình
quân 1 lao động hoặc 1 hộ của đơn vị điều tra chọn mẫu. Phơng pháp tính này
có một số bất cập sau:
6
- Tính GTSX bình quân 1 lao động hoặc 1 hộ từ điều tra chọn mẫu để suy
rộng cho toàn bộ tổng thể của khu vực này không hợp lý vì quy mô và
năng xuất lao động của tập thể và cá thể khác nhau;
- Phơng pháp tính nêu quá chung chung, không biết ngành Thống kê tổ
chức điều tra để tính chỉ tiêu giá trị sản xuất bình quân 1 lao động hoặc
1 hộ của năm nào, do Vụ nào điều tra;
- Phơng pháp không nêu rõ giá trị sản xuất bình quân 1 lao động hoặc 1
hộ tính theo giá nào, nội dung gồm những gì.
4. Ngành Xây dựng
Với đặc thù của hoạt động xây dựng nên số liệu về doanh thu xây dựng
đợc tính trên cơ sở vốn đầu t thanh toán của chủ đầu t không chỉ cho công
trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao, mà còn bao gồm cả phần vốn
ứng trớc cho đơn vị xây dựng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ngợc lại có khi
công trình đã bàn giao đa vào sử dụng, nhng do chủ đầu t cha có vốn thanh
toán, nên cũng cha đợc tính trong doanh thu. Do vậy doanh thu của ngành xây
dựng không phản ánh đúng thực chất của sản phẩm xây dựng hoàn thành và
không thể hiện đợc quan hệ đẳng thức giữa sản phẩm tiêu thụ tồn kho và dở
dang nh các ngành sản xuất kinh doanh khác. Điều này chứng tỏ phơng pháp
dựa vào doanh thu và giá sản xuất để tính chỉ tiêu giá trị sản xuất là không hợp lý,
đòi hỏi ngành Thống kê phải đa ra phơng pháp khác và tính theo giá cơ bản.
Phơng pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất đối với hoạt động xây dựng nhà ở
và vật kiến trúc của dân c bằng giá trị công trình hoàn thành trong năm một hộ
điều tra nhân với tổng số hộ có xây dựng nhà ở, công trình kiến trúc trong năm
3
nh trong chế độ báo cáo thống kê định kỳ ban hành theo Quyết định số
75/2003/QĐ-TCTK ngày 15 tháng 01 năm 2003 của Tổng cục trởng Tổng cục
Thống kê là không thỏa đáng vì:
- Đặc thù của hoạt động xây dựng là tạo ra sản phẩm đơn chiếc, giá
trị công trình hoàn thành trong năm của các hộ dân c hoàn toàn
khác nhau về diện tích xây dựng, về mẫu mã thiết kế. Ngay cả
trong trờng hợp một căn hộ có diện tích, thiết kế giống nhau
nhng chất lợng và giá trị khác nhau vì chủ đầu t dùng các vật
liệu xây dựng và thiết bị lắp đặt trong nhà có giá trị khác nhau.
- Chu kỳ sản xuất để hoàn thành công trình xây dựng thờng kéo
dài có khi tới vài năm, trong khi đó khái niệm giá trị sản xuất là kết
3
Chế độ báo cáo thống kê định kỳ TKQG, ban
hành theo Quyết định số 75/2003/QĐ-TCTK (trang77).
7
quả của hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (quý,
năm), vì vậy tính giá trị công trình hoàn thành trong năm sẽ bỏ qua
giá trị hoạt động xây dựng dở dang của khu vực này.
5. Nhóm ngành thơng nghiệp, sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe
máy, đồ dùng cá nhân gia đình khách sạn, nhà hàng, vận tải kho bi
và thông tin liên lạc
Phơng pháp tính chung của khu vực kinh tế tập thể và cá thể của các
ngành này bằng tổng số lao động hoặc số hộ sản xuất trong năm nhân với giá trị
sản xuất bình quân cho 1 lao động hoặc cho 1 hộ của đơn vị điều tra chọn mẫu.
Bên cạnh những bất cập và tồn tại của phơng pháp tính này nh đã nêu trong
ngành công nghiệp, đối với các ngành khách sạn, nhà hàng, vận tải kho bãi và
thông tin liên lạc tính theo giá sản xuất còn tồn tại một bất cập sau:
Hoạt động kinh doanh dịch vụ khu vực tập thể và cá thể của những ngành
này không ổn định, địa điểm cung cấp dịch vụ hay thay đổi (bán dong hàng ăn,
ngời cung cấp dịch vụ vận tải hay thay đổi nơi hoạt động) vì vậy rất khó có thể
tính đợc giá trị sản xuất bình quân cho 1 lao động hoặc 1 hộ theo giá sản xuất
(bao gồm cả thuế doanh thu). Thông thờng, cơ quan thuế chỉ thu đợc thuế của
hợp tác xã hay cá thể kinh doanh những dịch vụ này là thuế môn bài (thuế sản
xuất khác), cơ quan thuế rất khó đánh giá đúng đợc doanh thu để thu thuế. Nói
cách khác, thuế doanh thu phát sinh phải nộp trong công thức tính quy định bởi
chế độ báo cáo thống kê định kỳ tài khoản quốc gia thực chất là thuế sản xuất
khác. Vì vậy nội dung của chỉ tiêu GTSX cha phản ánh đúng theo giá sản xuất.
6. Ngành tài chính, tín dụng
Thị trờng tài chính, tiền tệ của nớc ta còn đơn giản, phần lớn các đơn vị
hoạt động kinh doanh trong ngành này thuộc sở hữu nhà nớc và khu vực nớc
ngoài, vì vậy đảm bảo đợc độ tin cậy và chất lợng tính chỉ tiêu giá trị sản xuất
theo giá sản xuất.
7. Ngành kinh doanh bất động sản và dịch vụ t vấn
Quy định phơng pháp tính giá trị sản xuất của hoạt động mua nhà để bán
bao gồm cả thuế xuất khẩu phát sinh phải nộp là không thực tế vì không có khái
niệm xuất khẩu nhà ở xây trên lãnh thổ Việt Nam. Thêm nữa, hai phơng pháp
tính đối với hoạt động mua nhà để bán của các đơn vị không hoạch toán theo chế
độ kế toán doanh nghiệp cho kết quả không giống nhau và không theo cùng một
loại giá (giá sản xuất hay giá cơ bản):
- Phơng pháp thứ nhất hớng dẫn giá trị sản xuất bằng doanh thu
trong năm, phơng pháp này không trừ trị giá nhà mua vào để bán
8
là không đúng, nếu tính theo phơng pháp này, giá trị sản xuất bao
gồm cả giá trị công trình xây dựng đã tính trong giá trị sản xuất của
ngành xây dựng.
- Phơng pháp thứ hai hớng dẫn giá trị sản xuất bằng tổng chi phí
hoạt động thờng xuyên. Hớng dẫn nh vậy cha chính xác và
chung chung, không chỉ rõ chi hoạt động thờng xuyên có bao
gồm thuế sản xuất khác hay không. Thêm nữa, theo phơng pháp
này chắc chắn không bao gồm thuế sản phẩm (VAT) vì vậy, giá trị
sản xuất theo phơng pháp thứ hai thực chất là theo giá cơ bản.
Đối với hoạt động dịch vụ nhà ở tự có tự ở của các hộ gia đình, phơng
pháp tính giá trị sản xuất hoàn toàn theo giá cơ bản vì không có yếu tố thuế sản
phẩm. Vì vậy, lại có sự không nhất quán trong việc tính theo giá sản xuất đối với
hoạt động này. Phơng pháp tính nh đã nêu trong chế độ báo cáo
4
cha phải là
phơng pháp tốt nhất theo quy định của tài khoản quốc gia, tuy vậy phơng pháp
này có tính khả thi trong hoàn cảnh thực tế của thị trờng cho thuê nhà ở và thống
kê Việt Nam.
8. Ngành Quản lý nhà nớc và an ninh quốc phòng, đảm bảo x hội
bắt buộc
Do đây là ngành sản xuất dịch vụ phi thị trờng, không có thuế sản phẩm vì
vậy giá trị sản xuất vừa là giá cơ bản và giá sản xuất. Phơng pháp tính trong chế
độ báo cáo phù hợp nguồn thông tin hiện có và có tính khả thi.
9. Nhóm ngành giáo dục đào tạo, y tế, hoạt động cứu trợ x hội và
hoạt động văn hóa, thể thao, hoạt động của các tổ chức không vì lợi
phục vụ cá nhân và cộng đồng, hoạt động làm thuê các công việc hộ
gia đình, hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế
Phơng pháp hớng dẫn tính giá trị sản xuất của nhóm ngành này hoàn
toàn theo nội dung của giá cơ bản vì không bao gồm bất kỳ một loại thuế sản
phẩm nào. Tuy vậy, trong phơng pháp 1
5
(trang 102 và trang 108) còn hớng
dẫn chung chung, dẫn đến sự thiếu nhất quán khi các địa phơng áp dụng
phơng pháp. Cụ thể phơng pháp này có ghi: Trừ một phần của mục chi khác
(134), trừ một phần là trừ bao nhiêu?.
Tóm lại, thực trạng tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá sản xuất còn bất
cập. Hiện nay, chế độ hạch toán, kế toán đã thay đổi và việc áp dụng Luật thuế
giá trị gia tăng cho phép áp dụng giá cơ bản. áp dụng giá cơ bản và đổi mới
4
Chế độ báo cáo thống kê định kỳ TKQG, ban
hành theo Quyết định số 75/2003/QĐ-TCTK (trang 95).
5
Chế độ báo cáo thống kê định kỳ TKQG, ban hành theo Quyết định sô 75/2003/QĐ -TCTK
9
phơng pháp tính của một số ngành sẽ khắc phục đợc những bất cập vừa nêu ở
trên, đồng thời cũng nâng cao chất lợng của chỉ tiêu.
II. áp dụng giá sản xuất của thống kê quốc tế
Tổng sản phẩm trong nớc có thể tính theo ba phơng pháp: Phơng pháp
sản xuất; phơng pháp sử dụng và phơng pháp thu nhập. Mỗi phơng pháp tính
chỉ tiêu GDP đợc xây dựng trên các góc độ khác nhau: Phơng pháp sản xuất
thực hiện trên góc độ sản xuất tạo ra sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ cho xã hội;
phơng pháp thu nhập đứng trên góc độ các yếu tố tham gia vào quá trình sản
xuất tạo ra thu nhập; và phơng pháp sử dụng đứng trên góc độ sử dụng hàng
hóa và dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu cuối cùng của nền kinh tế. Mỗi phơng pháp
đều có u và nhợc điểm riêng và sử dụng phơng pháp nào trong tính toán chỉ
tiêu GDP phụ thuộc vào nguồn thông tin hiện có, trình độ thống kê và điều kiện
hạch toán trong từng thời kỳ khác nhau của mỗi quốc gia.
Phơng pháp sản xuất: Tổng sản phẩm trong nớc tính theo phơng pháp
này thờng đợc áp dụng tại các nớc đang phát triển, có trình độ thống kê cha
cao. áp dụng phơng pháp sản xuất cung cấp cho các nhà quản lý, lập chính
sách bức tranh toàn cảnh về toàn bộ sản phẩm sản xuất ra, về chi phí của tất cả
các ngành kinh tế. Trên cơ sở đó, các nhà kinh tế có thể nghiên cứu tác động qua
lại giữa các ngành, thành phần kinh tế và tìm ra các nguyên nhân cũng nh giải
pháp để giảm tỷ lệ của chi phí trung gian dẫn tới tăng GDP. Bên cạnh những u
điểm nêu trên, phơng pháp sản xuất có một số nhợc điểm chủ yếu sau:
- Khó đảm bảo phạm vi thu thập thông tin để tính đầy đủ kết quả
của các hoạt động sản xuất. Chẳng hạn, theo khái niệm sản xuất,
giá trị của các hoạt động bất hợp pháp tạo ra hàng hóa và dịch vụ
cung cấp cho thị trờng và các hoạt động hợp pháp nhng tạo ra
các sản phẩm bất hợp pháp đều phải tính vào giá trị sản xuất
6
.
Nhng trong thực tế rất khó thu thập đợc thông tin của các hoạt
động này.
- Do GDP đợc tính gián tiếp qua giá trị sản xuất và chi phí trung
gian nên chất lợng tính GDP còn phụ thuộc vào chất lợng tính
chỉ tiêu chi phí trung gian. Nói cách khác, thông tin để tính GDP
còn phụ thuộc vào thông tin từ hạch toán chi phí sản xuất của các
đơn vị sản xuất kinh doanh. Xu hớng các nhà sản xuất kinh
doanh thờng hạch toán tăng chi phí để giảm thuế và tăng lợi
6
Thống kê tài khoản quốc gia xếp các hoạt động này vào khu vực kinh tế cha đợc quan sát. Khu vực kinh
tế này gồm bốn khu vực nhỏ: khu vực kinh tế cha định hình, khu vực kinh tế ngầm, khu vực tự sản tự tiêu
của hộ gia đình và khu vực
10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét