Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Báo cáo lễ hội Chu Túc, Văn Quan

Chơng I- Khái quát chung về tự nhiên, xã hội và con ngời xã Chu Túc,
huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Chơng II- Lễ hội Lồng Tồng trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân
dân xã Chu Túc, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
Chơng III- Giá trị và hớng bảo tồn, phát huy lễ hội Lồng Tồng xã Chu Túc,
huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn trong thời điểm hiện nay.
Chơng I
Khái quát chung về tự nhiên, xã hội và con ngời xã
Chu Túc, huyện văn quan, tỉnh lạng sơn
1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên.
Xã Chu Túc nằm ở phía Đông của huyện Văn Quan, cách trung tâm thị
trấn Văn Quan 17 km; phía đông giáp xã Khánh Khê và Tràng Các, phía tây giáp
xã Đại An, phía nam giáp xã Tân Đoàn và phía bắc giáp xã Văn An (huyện Văn
Quan, tỉnh Lạng Sơn). Xã Chu Túc bao gồm 09 thôn: Bản Nóc, Nà Mìn, Cốc Ph-
ờng, Nà Tèn, Nà Pài, Nà Chón, Đoỏng Đeng, Nà Thoà, Phai Xả.
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Chu Túc là 154.532 ha, nằm trong một
thung lũng rộng, xung quanh có đồi bao bọc, thuận tiện cho việc làm ruộng bậc
thang và nơng rẫy.
Về hệ thống đờng giao thông: có đờng liên xã Điềm He-Chu Túc-Ba Xã là
đờng cấp phối. Ngoài ra còn có các đờng mòn liên thôn, một số đợc đổ bê tông,
còn lại là đờng đất nên mùa ma gặp rất nhiều khó khăn trong việc đi lại.
Nguồn nớc chủ yếu là từ các khe rạch, suối nhỏ. Gần đây có hệ thống thuỷ
lợi (kè đập, mơng máng) đợc xây dựng, phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp
và sinh hoạt của nhân dân.
Khí hậu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa rõ rệt, mùa ma và mùa
khô. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trớc đến tháng 4 năm sau. Mùa này khí
5
hậu chịu ảnh hởng gió mùa đông bắc từ Trung Quốc thổi vào nên thời tiết thờng
khô, hanh, có những đợt rét đậm kéo dài và xuất hiện sơng muối gây ảnh hởng
đến hoa màu, cây cối, súc vật và cuộc sống sinh hoạt của nhân dân.
2. Con ngời và lịch sử c trú.
Theo số liệu của Uỷ ban nhân dân xã cung cấp: Năm 2009, toàn xã có 468
hộ gia đình với trên 2.600 nhân khẩu. Thành phần dân tộc chủ yếu của xã là dân
tộc Nùng (60%), Tày (30%), Kinh và một số ít dân tộc khác (10%). Ngời dân tộc
Nùng và Tày là những c dân bản địa, có mặt sớm nhất tại địa bàn xã Chu Túc.
Còn lại một số ít dân tộc khác mới đến c trú trên địa bàn xã trong những năm gần
đây. Theo lời kể của những ngời già trong xã Chu Túc thì vào giữa thế kỷ XV có
nhóm ngời đầu tiên đến khu vực này khai phá đất đai, làm nhà, lập bản và sinh
sống, họ là những ngời dân tộc Tày mang họ Hà (đứng đầu là Hà Hạc).
Ngôn ngữ đợc sử dụng ở đây chủ yếu thuộc hệ ngôn ngữ Tày-Thái, mang
đậm nét ngôn ngữ của dân tộc Tày-Nùng vùng Đông Bắc Việt Nam. Hai dân tộc
Nùng và Tày có tiếng nói giống nhau cơ bản, chỉ khác nhau một số từ và âm
điệu.
Nh vậy, lễ hội Lồng Tồng ở xã Chu Túc là lễ hội truyền thống của hai dân
tộc Tày và Nùng. Chính vì vậy ở các mục sau, chúng tôi chỉ đề cập đến ngời dân
tộc Tày, Nùng sinh sống tại xã Chu Túc, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.
3. Sinh hoạt kinh tế và văn hoá vật chất.
- Sinh hoạt kinh tế: Đặc điểm kinh tế chính của dân tộc Tày, Nùng là nền
kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc với kinh tế nông nghiệp lúa nớc, lúa nơng, ngô,
khoai, sắn, đỗ tơng
Thế mạnh kinh tế của vùng là hoa hồi. Hoa hồi có chất lợng tinh dầu cao,
nhờ đó mà đời sống nhân dân đợc cải thiện. Ngoài cây hồi còn trồng cây bạch
đàn, cây keo và các loại cây ăn quả khác nh trám đen, trám trắng, khế, mác mật,
bởi, lê, đào, mận
Về chăn nuôi: Có trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng.
6
- Văn hoá vật chất:
+ Về ăn uống: Nguồn lơng thực, thực phẩm chính của ngời Tày, Nùng hầu
hết đều là sản phẩm thu đợc từ hoạt động sản xuất kinh tế của c dân sống trong
vùng sinh thái thung lũng, đó là các loại gạo và các loại màu nh ngô, khoai, sắn;
các loại rau quả do trồng và thu hái trong rừng, các loại thuỷ sản nh tôm, cua,
cá do nuôi và thu l ợm ở suối. Các loại thịt trâu, bò, lợn, gà, vịt do chăn nuôi
trong gia đình hoặc chim, thú săn bắn trong rừng.
Thờng ngày ăn hai bữa chính vào buổi tra và tối, ngoài ra tuỳ theo hoàn
cảnh cụ thể của mỗi gia đình mà có các bữa ăn phụ khác.
Trong mỗi bữa ăn, phổ biến nhất là ăn cơm tẻ, cháo và rau, cá, thịt đợc chế
biến bằng cách luộc, xào, nấu canh. Ngoài ra trong những dịp lễ tết còn có xôi,
cơm lam, các loại bánh (bánh trng, bánh dày, bánh trôi, khẩu sli, bánh tro ) và
các món ăn chế biến cầu kỳ nh thịt lợn quay, vịt quay, khau nhục
Khi ăn, các thành viên trong gia đình ngồi quanh mâm cơm, thờng là bà
mẹ hay chị gái ngồi cạnh nồi cơm để xới cho cả nhà. Trớc đây nếu gia đình còn
bố chồng và anh trai chồng thì con dâu và em dâu phải ăn riêng, khi gia đình có
khách thì ông chủ ngồi ăn cơm với khách còn những ngời khác trong gia đình thì
ăn mâm riêng dới bếp nhng hiện nay tất cả các thành viên trong gia đình và
khách đã ngồi ăn cùng mâm với nhau.
+ Về trang phục: Trang phục của ngời Tày, Nùng chủ yếu đợc cắt may
bằng vải bông tự dệt và nhuộm chàm.
Ngời Tày có: áo cánh ngắn, áo dài, quần, khăn không có trang trí hoa
văn. Bên cạnh đó phụ nữ còn đội nón, dùng đồ trang sức bằng bạc (vòng cổ, vòng
tay, vòng chân, dây xà tích). Tang phục là màu trắng. Thầy cúng có trang phục
riêng, đợc trang trí hoa văn cầu kỳ để sử dụng trong các dịp hành lễ.
Trang phục của ngời Nùng cũng có áo cánh ngắn, quần lá toạ; phụ nữ có
thêm khăn đội đầu (nền màu chàm có chấm trắng) và các đồ trang sức bằng bạc
7
nh vòng cổ, vòng tay, vòng chân, khuyên tai, trâm cài tóc. Ngoài ra, ngời Nùng
rất a thích việc bịt răng vàng.
+ Về làng bản và nhà cửa: Địa bàn c trú chủ yếu của ngời Tày, Nùng là
khu vực chân núi, sờn núi thấp dọc theo các thung lũng. Phần đất thấp, bằng
phẳng trong thung lũng và có nguồn nớc đợc đồng bào khai phá thành ruộng.
Bản đợc xây dựng theo thế đất ở những mô cao, trớc bản là khu đất bằng
làm ruộng, phần đất dốc sau bản không có nớc thì làm nơng trồng màu hay trông
cây ăn quả, cây công nghiệp.
Trớc đây, nhà ở của đồng bào chủ yếu là nhà sàn; trải qua quá trình phát
triển, nhà ở truyền thống của ngời Tày, Nùng đã có sự thay đổi, họ chuyển từ ở
nhà sàn sang ở nhà đất và nhà xây. Hiện nay, trên địa bàn xã Chu Túc chủ yếu là
nhà đất (nhà 2 mái hoặc 4 mái) và một số ít nhà xây.
4. Tổ chức xã hội, dòng họ, gia đình.
- Làng bản: Tổ chức xã hội truyền thống của ngời Tày, Nùng là bản. Mỗi
bản đều có tên riêng, có phạm vi rộng hẹp khác nhau.
Bản của ngời Tày, Nùng đều có miếu thờ thổ thần, thờng đợc đặt ở trong
rừng, vị thổ thần đó là thần thổ địa. Miếu thờ thổ địa thờng do những gia đình
định c lâu nhất trong bản chịu trách nhiệm trông nom, thờ cúng vào những dịp lễ,
tết trong năm.
Ngoài ra còn có đình, thờ thành hoàng bản, thờ thần sông, thần núi, thần
nông. Trớc đây ở xã Chu Túc có 3 ngôi đình với tên gọi là Đình Thợng, Đình
trung và Đình Hạ. Tuy nhiên hiện nay đã không còn ngôi đình nào, mọi ngời đợc
biết đến chỉ qua lời kể của các cụ già trong xã.
Các lễ hội hàng năm, ngoài nghi lễ cúng tế, các sinh hoạt văn hoá thu hút
đông đảo ngời dân trong bản, nhiều bản tham gia. Từ sau Tết Nguyên Đán đến
hết tháng Giêng, bản nào cũng mở hội Lồng Tồng (xuống đồng) xen kẽ nhau. Đi
đôi với chơi tết là đi chơi hội Lồng Tồng với mong muốn cầu mong một năm mới
may mắn, hạnh phúc và thịnh vợng.
8
Trong xã hội ngời Tày, Nùng trớc đây và hiện nay đều tồn tại tầng lớp thầy
cúng gồm các thầy Mo, Then, Tào, Pụt. Về phơng diện nào đó, họ có hiểu biết và
có khả năng thực hiện các nghi lễ tín ngỡng nhằm thoả mãn nhu cầu về đời sống
tâm linh của một bộ phận nhân dân
- Dòng họ: Trên địa bàn xã Chu Túc có nhiều dòng họ cùng sinh sống. Đó
là các dòng họ: Chu, Hoàng, Nông (dân tộc Nùng) và họ Hà, Hoàng (dân tộc
Tày).
Trong quan hệ dòng họ, một trong những nguyên tắc là phải thực hiện
ngoại hôn, không đợc phép kết hôn với những ngời cùng dòng họ.
Về phơng diện quan hệ xã hội, ngời Tày, Nùng rất coi trọng quan hệ dòng
họ. Những ngời trong cùng dòng họ đều thơng yêu, đùm bọc lẫn nhau trong quan
hệ sản xuất, bênh vực nhau trong giao tiếp xã hội.
Con cái sinh ra dù trai hay gái đều lấy theo họ bố, con gái đi lấy chồng thì
khi về nhà cồng phải trình diện trớc bàn thờ tổ tiên. Nh vậy, ngời Tày, Nùng có
hai họ, họ nội và họ ngoại, trong đó quan hệ họ nội đợc coi trọng hơn.
- Gia đình và quan hệ gia đình: Gia đình ngời dân tộc Tày, Nùng thuộc
loại gia đình nhỏ (chủ yếu là 2-3 thế hệ), phụ hệ. Tuy vậy nhng anh em họ hàng
vẫn thờng xuyên giúp đõ nhau trong sản xuất và đời sống. Ngời cha hay ngời con
trai trởng vẫn có vai trò quan trọng trong việc quản lý gia đình, có vai trò quyết
định trong tổ chức sản xuất, điều hoà các mối quan hệ xã hội.
5. Tôn giáo, tín ngỡng và phong tục tập quán.
- Tôn giáo, tín ngỡng: Quan niệm linh hồn", vật linh là cơ sở của toàn
bộ hệ thống tín ngỡng, tôn giáo của dân tộc Tày, Nùng từ nguyên thuỷ đến hiện
nay, cụ thể là quan niệm về phi. Phi dịch ra tiếng Việt có nghĩa là ma, quỷ,
thánh, thần và có rất nhiều loại ma nh ma trời, ma đất, ma rừng, ma núi, ma tổ
tiên
Đồng bào Tày, Nùng quan niệm rằng ma có hai loại: Ma lành và ma dữ.
Ma lành đợc thờ cúng ở gia đình, miếu, đình để phù trợ và bảo hộ cho gia đình,
9
làng xóm; ma dữ thì không đợc thờ, chỉ khi thầy cúng xem bói thấy có loại ma
dữ nào làm hại thì mới cúng trừ loại ma đó.
Ngoài ra, họ còn quan niệm, ma có ở ba thế giới: Trên trời, trên mặt đất và
dới âm phủ. Ma trên trời là Then, Bụt, Tiên, Thần, Tổ tiên; ma trên mặt đất là ma
núi, ma rừng, ma ruộng, ma đất ; ma dới âm phủ là ma gây ra ốm đau cho con
ngời.
Thông thờng, mọi ngời có thể thông qua cúng lễ bằng hơng hoa, lễ vật để
cầu khấn thần linh phù hộ và giải thoát cho mình và gia đình khỏi những hoạn
nạn. Tuy nhiên trong những trờng hợp nh làm lễ tang ma, trừ tà thì phải nhờ đến
những thầy Tào, thầy Mo, Then.
Thầy Tào thờng hành lễ trong các đám tang, cúng trừ tà ma, cúng cầu yên,
cầu phúc cho gia đình, làng bản; xem đất, chọn ngày lành, xem tử vi Khi làm lễ
hay dùng sách cúng.
Thầy Mo, Then mang tính chất thầy cúng dân gian, thờng không sử dụng
sách cúng để cúng cầu yên, giải hạn. Trong lễ cúng thầy Mo dùng một chiếc
chiêng nhỏ còn thầy Then sử dụng chiếc đàn tính và xóc nhạc. Hiện nay, trên địa
bàn xã Chu Túc vẫn có khoảng 6-8 ngời làm then và làm thầy cúng.
Các hình thức tín ngỡng:
+ Thờ cúng tổ tiên là hình thức thờ cúng quan trọng nhất của đồng bào
Tày, Nùng. Theo quan niệm dân gian, khi ông bà cha mẹ chết thì linh hồn vẫn
tồn tại ở trên trời, do vậy con cháu phải thờ cúng, hàng năm phải làm lễ cúng giỗ,
mời tổ tiên về chứng giám và phù hộ cho gia đình bình yên, may mắn.
Nơi thờ cúng tổ tiên ở trong nhà của ngời Tày, Nùng là nơi trang nghiêm
nhất, thờng đợc đặt ở gian giữa nhà. Họ thờ cúng tổ tiên theo hệ chín đời nhng
hầu nh họ chỉ cúng giỗ đến đời thứ ba: cha mẹ, ông bà và cụ. Vào các dịp lễ tết
trong năm, đồng bào đều thờ cúng tổ tiên; ngoài ra, ngời Tày còn cúng tổ tiên
vào ngày giỗ còn ngời Nùng lại cúng tổ tiên vào dịp sinh nhật.
10
+ Ngoài thờ cúng tổ tiên, đồng bào Tày, Nùng còn thờ một số vị thần khác
nh Bà Mụ, Thần bếp, tổ s thầy Tào, Then (đối với thầy Tào, Then).
+ Trong mỗi bản của ngời Tày, Nùng đều có miếu và đình để thờ cúng.
Miếu là nơi thờ Thổ thần (thổ công) - là vị thần đất luôn bảo vệ, che chở cho
cộng đồng bản. Miếu thờ là một ngôi nhà nhỏ, làm một mái, thờng đợc đặt ở đầu
làng. Vào mối dịp lễ tết, các gia đình trong bản mang lễ vật tập trung ở miếu để
cúng thổ thần.
Đình làng là nơi thờ Thành hoàng, thần sông, thần núi, thần nông. Các vị
thần này cùng với Thổ công trông coi việc canh tác, mùa màng, chăn nuôi, trông
coi bản làng. Thành Hoàng của xã Chu Túc theo lời kể của các cụ già là Hà Hạc,
đến định c và khai phá lập bản tại đây, để tởng nhớ công lao của ông, nhân dân
đã dựng đình để thờ cúng. Hàng năm, vào ngày 12 tháng 4 âm lịch, nhân dân
trong vùng tổ chức lễ đình để cầu an, cầu phúc, cầu mùa.
Từ những yếu tố tín ngỡng trên đã hình thành trong xã hội Tày, Nùng
nhiều lễ tết trong năm, đó là:
* Tết Nguyên Đán (từ mùng 1 đến mùng 3 thàng Giêng âm lịch).
* Tết Thanh Minh (mùng 3 tháng 3 âm lịch).
* Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch).
* Tết Thần Ruộng, Thần Trâu (mùng 6 tháng 6 âm lịch).
* Tết cúng tổ tiên và vong linh (ngày 14 tháng 7 âm lịch).
* Tết Trung thu (ngày 15 tháng 8 âm lịch).
* Tết cơm mới (ngày 10 tháng 10 âm lịch).
* Tết đông chí (tháng Một và tháng Chạp âm lịch).
- Một số tập quán và nghi lễ theo chu kỳ đời ngời:
+ Sinh đẻ: Cũng nh nhiều dân tộc khác, việc sinh con, nhất là sinh con trai
là niềm vui mừng, hạnh phúc của các gia đình ngời Tày, Nùng cổ truyền. Khi ng-
ời phụ nữ có thai thì đợc giảm các công việc, nhất là công việc nặng nhọc và phải
11
thực hiện một số kiêng cữ nh phải ăn nói dịu dàng, không cãi nhau, kiêng sát
sinh
Khi sinh nở, mẹ con sản phụ đợc gia đình chăm sóc, bồi bổ và thực hiện
một số kiêng cữ và nghi lễ để trợ giúp tinh thần hài nhi và sản phụ. Trớc tiên là
cắm cành lá trớc cửa nhà để báo hiệu gia đình có trẻ con mới sinh. Ngời Tày th-
ờng cắm cành lá ở bên trái cửa khi có con trai và bên phải cửa nếu là con gái còn
ngời Nùng thờng cắm cành cây theo hớng gốc lên trên, ngọn chúc xuống đất nếu
là con trai, nếu là con gái thì cắm ngợc lại. Tục lệ cắm cành cây nh vậy vừa có
tính chất thông báo cho hàng xóm láng giềng biết thành viên mới của bản là trai
hay gái, đồng thời cũng là dấu hiệu kiêng cữ để ngời lạ vào nhà tuân thủ những
kiêng cữ của gia đình. Trẻ sinh ra đợc 3 ngày thì bà nội làm lễ cúng và lập bàn
thờ Bà Mụ để tạ ơn và cầu mong Bà Mụ chăm sóc, phù hộ cho đứa trẻ mau lớn,
khoẻ mạnh.
+ Hôn nhân: Ngời Tày và ngời Nùng trớc đây chủ yếu thực hiện hôn nhân
trong nội bộ dân tộc của mình, tuy nhiên trong mấy chục năm trở lại đây, việc
kết hôn ngoại tộc đã trở nên phổ biến, đặc biệt là giữa hai dân tộc Tày - Nùng.
Các tục lệ trong hôn nhân của ngời Tày, Nùng chịu ảnh hởng khá sâu sắc
chế độ phụ hệ, phụ quyền. Đó là việc ngời con trai và gia đình nhà trai phải luôn
chủ động từ khi tìm hiểu cho đến lúc cới cô dâu về nhà. Mặt khác tính chất phụ
hệ còn chi phối đến sự chọn lựa đối tợng trong hôn nhân, qua trình chuẩn bị, sắm
đồ lễ cho đám hỏi, đám cới, nơi ở của đôi vợ chồng trẻ sau khi cới.
Nghi lễ chính trong hôn nhân của ngời Tày bao gồm: Lễ dạm hỏi, lễ so lá
số, lễ mừng hợp số, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết và lễ cới.
Nghi lễ hôn nhân của ngời Nùng là: Lễ dạm hỏi, lễ lấy lá số, lễ báo số, lễ
khả cáy (thịt gà) và cuối cùng là lễ cới.
+ Tang ma: Xuất phát từ quan niệm vạn vật đều có linh hồn và con ngời
sau khi chết thì linh hồn vẫn tồn tại ở thế giới bên kia nên khi có ngời chết, ngới
ta phải thực hiện các nghi lễ tang ma, thể hiện các quan hệ tình cảm của ngời
12
sống với ngời chết và để cho linh hồn ngời chết không oán giận, làm hại những
ngời còn sống ở trần gian.
Các nghi lễ tang ma chính của ngời Tày bao gồm: Tắm rửa cho ngời chết,
khâm liệm, nhập quan, lễ thụ tang, lễ triệu linh, lễ phá ngục, lễ đa hồn về trời,
chọn đất hạ huyệt, đa ma và cuối cùng là lễ mở cửa mả (sau khi hạ huyệt 3 ngày).
Sau 3 năm thì làm lễ bỏ khăn tang. Hàng năm đến ngày giỗ thì làm lễ cúng giỗ
để tởng nhớ ngời thân trong gia đình đã mất.
Nghi lễ tang ma của ngời Nùng bao gồm: Tắm rửa cho ngời chết, khâm
liệm, nhập quan, lễ thụ tang, lễ qua lửa, lễ đa hồn về trời.
+ Ngoài ra, trong tập quán của ngời Nùng, những ngời từ 60 tuổi trở lên đ-
ợc xếp vào bậc có tuổi và đợc tổ chức lễ sinh nhật. Tuy nhiên nhà nào có ngời già
hơn thì sẽ tổ chức cho ngời đó lễ sinh nhật đợc tổ chức hàng năm, nhng lễ sinh
nhật đầu tiên có quy mô nhất và nhiều thủ tục nhất.
Chơng II
Lễ hội Lồng Tồng trong đời sống văn hoá tinh thần
của nhân dân xã Chu Túc, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
1. Khái niệm và nguồn gốc của lễ hội Lồng Tồng.
- Khái niệm: Lễ hội là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền
thống của cộng đồng - đó là khái niệm chung về lễ hội của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam. Trong khái niệm lễ hội bao gồm hai yếu tố lễ và hội.
Lễ là cách ứng xử của con ngời trớc tự nhiên đầy bí hiểm. Các nghi thức
của lễ toát lên sự cầu mong phù hộ của các thần và giúp con ngời tìm ra những
giải pháp tâm lý trong cuộc sống; Hội là cuộc vui, đợc tổ chức chung cho đông
đảo ngời tham dự theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt.
Qua việc tìm hiểu khái niệm lễ và hội trên đây, có thể khẳng định
hình thức sinh hoạt văn hoá, tín ngỡng của nhân dân xã Chu Túc, huyện Văn
13
Quan vào ngày 10 tháng Giêng hàng năm là một lễ hội với đầy đủ những yếu tố
cần phải có của nó.
Theo tiếng Tày, Lồng Tồng nghĩa là xuống đồng (lồng là xuống; tồng là
đồng - đồng ruộng). Do vậy lễ hội Lồng Tồng là lễ hội xuống đồng. Đây là lễ hội
mang tính chất nghi lễ nông nghiệp cổ xa, khởi đầu cho một mùa sản xuất mới.
Trong lễ hội có lễ tạ Thành Hoàng, Thần Nông, cầu cho mùa màng bội thu, gia
súc phát triển, mong cho bản làng yên vui, mọi gia đình ấm no, hạnh phúc. Lễ
hội Lồng Tồng còn là một sinh hoạt tín ngỡng dân gian rất độc đáo của tộc ngời
Tày, Nùng nói chung. Sau một năm lao động vất vả, lễ hội mở ra đã mang lại
những giờ phút nghỉ ngơi thanh thản, mọi ngời có điều kiện gặp gỡ thăm hỏi,
chúc tụng nhau, đồng thời cũng là dịp giao lu tình cảm của thanh niên nam, nữ.
Lễ hội còn là thời điểm quan trọng, linh thiêng để cả xã tổ chức, huy động các
thành viên trong cộng đồng phát động một mùa sản xuất mới.
- Nguồn gốc: Lễ hội Lồng Tồng có tự bao giờ và do ai đặt ra? Có lẽ cha ai
có thể trả lời một cách chính xác. Qua tìm hiểu, các cụ già đều cho rằng, lễ hội
Lồng Tồng đã có từ khi mới hình thành các bản. Tuy nhiên, ở một số vùng có
những truyền thuyết nói về sự tích của lễ hội Lồng Tồng nh: Truyền thuyết lễ hội
Lồng Tồng ở xóm Bản Mạc, xã Thạch Đan, huyện Cao Lộc kể rằng:
Ngày xa có một ông cụ ngời Tày tên là Hoàng Riện Mạc, ngời to lớn, sức
khoẻ phi thờng. Cụ làm ăn rất cần cù, cày bừa rất giỏi. Mỗi khi bừa ruộng, cụ bảo
con cháu cứ việc cấy theo, và khi bừa xong, cụ buộc đôi trâu quảy lên vai rồi bớc
qua ruộng mới cấy về nhà để trâu khỏi giẫm lúa. Một hôm cụ Mạc sang chợ biên
giới mua gạo trở về thì gặp một đám cớp gồm hơn chục tên đón đờng cớp của. Cụ
bình tĩnh, đặt gánh gạo xuống, cắm một đầu đòn gánh sâu xuống đất, bảo bọn c-
ớp nếu nhổ đợc chiếc đòn lên, cụ sẽ biếu không cả gánh gạo. Bọn cớp hì hục mãi
không nhổ đợc chiếc đòn gánh lên, hoảng sợ bỏ chạy. Và từ đấy chúng không
dám quấy nhiễu dân vùng này nữa.
Một hôm, cụ Mạc đi mất tích chỉ để lại phiến đá mài mà mỗi khi đi rừng
cụ thờng bỏ vào chiếc giỏ đeo ngang lng. Nhân dân nhớ ơn cụ, lập miếu thờ ở
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét