Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Tìm hiểu pháp luật chống bán phá giá ở VN

* Định nghĩa theo góc độ pháp lý:
Bán phá giá trong thơng mại quốc tế là hiện tợng xảy ra khi một loại hàng hóa
đợc xuất khẩu (XK) với giá thấp hơn giá bán của mặt hàng đó tại thị trờng nội địa nớc
XK. Nh vậy có thể hiểu đơn giản là nếu giá XK của một mặt hàng thấp hơn giá nội
địa của nó thì sản phẩm đó bị coi là bán phá giá. Ví dụ: lạc nhân của nớc A bán tại thị
trờng nớc A với giá (X) nhng lại đợc XK sang nớc B với giá (Y) (Y<X) thì xảy ra
hiện tợng bán phá giá đối với sản phẩm này XK từ A sang B.
ở Mỹ, bán phá giá đợc hiểu là việc bán hàng tại thị trờng Mỹ với mức giá thấp
hơn mức giá hàng hoá so sánh tại thị trờng nội địa của nớc xuất khẩu và việc bán các
mặt hàng đó gây ra thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất trong nớc của Mỹ. Còn
theo quan điểm của Liên minh châu Âu (EU) thì việc bán phá giá liên quan đến bất
cứ hàng hoá nhập khẩu nào với giá thấp hơn chi phí. Quy chế chống bán phá giá của
EU năm 1996 cho phép áp dụng thuế chống phá giá dựa trên các điều kiện: Thứ nhất,
giá hàng hoá bán trên thị trờng EU thấp hơn giá trên thị trờng của nớc sản xuất; thứ
hai, hàng hoá nhập khẩu đe dọa ngành sản xuất của EU nh chia sẻ thị phần, lợi
nhuận, việc làm Một định nghĩa khác: bán phá giá là tình trạng mà ở đó doanh
nghiệp nớc ngoài bán hàng hóa thấp hơn mức chi phí.
Theo định nghĩa mở rộng của một số chuyên gia kinh tế Mỹ từ những năm
1980 và vẫn đợc thừa nhận đến ngay hôm nay, bán phá giá đợc hiểu là hành vi bán
một mặt hàng với giá thấp hơn giá hiện hành của mặt hàng đó trên thị trờng, nhằm
làm ảnh hởng đến các mặt hàng tơng tự trên cùng thị trờng đó. Hành vi này có thể
dẫn đến một trong hai trờng hợp bất lợi sau đây đối với doanh nghiệp sản xuất những
mặt hàng tơng tự với mặt hàng đợc bán phá giá:
Thứ nhất, các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng tơng tự muốn cạnh tranh
và giữ đợc thị phần thì buộc phải hạ giá bán sản phẩm của mình xuống ngang bằng
với mức giá của những hàng hóa đợc bán phá giá. Tuy nhiên, làm nh vậy thì các nhà
sản xuất sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, bởi vì, có thể nhà sản xuất sẽ phải bán hàng hoá
của mình với mức giá thấp hơn chi phí sản xuất ra mặt hàng đó.
5
Thứ hai, nếu nhà sản xuất không chấp nhận giảm giá bán thì hàng hóa của họ
không thể tiêu thụ đợc trên thị trờng. Nh vậy, hoạt động kinh doanh sẽ bị tê liệt và
nhà sản xuất có nguy cơ rơi vào tình trạng phá sản.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tợng bán phá giá trong thơng mại quốc tế.
Nhiều trờng hợp cố tình bán phá giá nhằm đạt đợc những lợi ích nhất định nh: Bán
phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trờng nớc NK từ đó chiếm thế độc
quyền; Bán giá thấp tại thị trờng nớc NK để chiếm lĩnh thị phần; Bán giá thấp để thu
ngoại tệ mạnh Đôi khi việc bán phá giá là việc bất đắc dĩ do nhà sản xuất, XK
không bán đợc hàng, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lu kho lâu ngày có thể bị hỏng
nên đành bán tháo để thu hồi vốn. Nhng tựu chung lại có thể hiểu bán phá giá xảy ra
do phân biệt giá quốc tế. Mà phân biệt giá quốc tế xảy ra khi thị trờng bị phân biệt
giá là thị trờng của các nớc khác nhau. Song giá xuất khẩu thờng cao hơn giá của thị
trờng nội địa do nhà xuất khẩu phải chịu thêm nhiều chi phí xuất khẩu nh vận
chuyển, bảo hiểm Do đó, khi nhà sản xuất theo đuổi hành vi phân biệt giá quốc tế,
tức là giá bán trong nớc khác giá xuất khẩu thì hành vi đó chỉ bị coi là bán phá giá
nếu giá xuất khẩu sản phẩm thấp hơn giá bán của sản phẩm đó ở trong thị trờng nội
địa. Nh vậy bán phá giá đợc hiểu là sự phân biệt giá cả mang tính quốc tế, trong đó
giá của một hàng hóa khi đợc bán tại thị trờng của nớc nhập khẩu với giá thấp hơn giá
của hàng hóa đó đợc bán tại thị trờng của nớc xuất khẩu.
Điều VI, khoản 1 của Hiệp định chung về thơng mại và thuế quan (GATT) coi
bán phá giá là việc sản phẩm của một nớc đợc đa vào kinh doanh trên thị trờng của
một nớc khác với giá thấp hơn giá trị thông thờng của sản phẩm. Cụ thể hơn, điều II,
khoản 1 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO định nghĩa: Một sản phẩm bị
coi là bán phá giá nếu nh giá xuất khẩu của sản phẩm đợc xuất khẩu từ một nớc này
sang một nớc khác thấp hơn mức giá có thể so sánh đợc của sản phẩm tơng tự đợc
tiêu dùng tại nớc xuất khẩu theo các điều kiện thơng mại thông thờng.
Định nghĩa này không nói gì về bán hàng hóa dới chi phí, một yếu tố vốn đợc
xem là nội hàm của việc bán phá giá. ở đây, những chuyên gia kinh tế chỉ muốn nói
tới hình thức phân biệt giá cả, khi một doanh nghiệp bán cùng một sản phẩm trong
những thị trờng khác nhau với những mức giá khác nhau. Nh vậy, theo quy định của
luật thơng mại quốc tế, yếu tố then chốt để xác định hành vi bán phá giá là sự so sánh
6
biên độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá thông thờng của sản phẩm tại nớc xuất
khẩu. Việc so sánh phải đợc tiến hành đối với sản phẩm cùng loại hoặc đối với sản
phẩm tơng tự (like product trong tiếng Anh hay produit similaire trong tiếng Pháp).
Theo điều II, khoản 6 của Hiệp định chống bán giá, sản phẩm tơng tự trong trờng
hợp bán phá giá đợc hiểu theo nghĩa rất hẹp là sản phẩm phải giống hệt, tức là có tất
cả các yếu tố tơng đồng với sản phẩm đang đợc xem xét, hoặc nếu không có sản
phẩm nào nh vậy thì phải sử dụng sản phẩm có những đặc tính rất giống (closely
resembling trong tiếng Anh và ressemblant étroitement trong tiếng Pháp) với sản
phẩm đang đợc xem xét.
Nh vậy ở đây có sự so sánh về giá ở hai thị trờng khác nhau: thị trờng nớc nhập
khẩu và thị trờng nớc xuất khẩu, cho dù giá bán ở thị trờng tiêu thụ, tức là ở nớc nhập
khẩu, có thể không khác nhau, thậm chí có thể xảy ra trờng hợp giá bán cao hơn giá
của hàng hóa tơng tự hiện đang đợc bán tại thị trờng nớc nhập khẩu. Nhìn chung các
tài liệu quốc tế đều thống nhất hiện tợng bán phá giá xảy ra khi hàng hóa xuất khẩu
đợc bán sang một nớc khác với giá thấp hơn giá bán tại thị trờng nội địa (của nớc
xuất khẩu).
Nói một cách đơn giản, trong thơng mại quốc tế khi so sánh giữa giá xuất khẩu
với giá bán tại nội địa, nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa tức là có sự bán phá
giá. Tuy nhiên, việc xác định mức giá bị coi là phá giá rất phức tạp, vì nó liên quan
đến hàng loạt vấn đề nh xác định chi phí sản xuất, xác định mức độ thiệt hại dự tính
va thiệt hại thực tế
Pháp lệnh Giá của Việt Nam đa ra định nghĩa : Bán phá giá là hành vi bán
hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thờng trên thị trờng Việt Nam để
chiếm lĩnh thị trờng, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác và lợi ích Nhà nớc.
Với định nghĩa này, Phạm vi điều chỉnh của nó chỉ đặt ra đối với việc chống
bán phá giá trong quan hệ thơng mại tại thị trờng nội địa nhng xét về bản chất không
có gì trái, mâu thuẫn so với những giải thích mang tính chuẩn mực của Từ điển, với
những quy định của GAT, WTO. Nó đã vận dụng và diều chỉnh một cách tơng đối
hợp lý vẫn đề chống bán phá giá trong quan hệ thơng mại quốc tế vào quan hệ thơng
mại nội địa, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
7
b. Cơ sở kinh tế của việc bán phá giá.
Khái niệm về bán phá giá ngày càng đợc phát triển hoàn chỉnh hơn nh đã tìm
hiểu ở trên. Tuy nhiên điều có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định khi nào thì
hành vi bán phá giá là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khi nào thì hành vi đó là
bình thờng về mặt kinh tế, đó là nghiên cứu về cơ sở kinh tế của việc bán phá giá (hay
bản chất của việc bán phá giá). Điều này cũng sẽ giúp ích trong việc phân tích ai là
ngời có lợi, ai là ngời bị thiệt khi chấp nhận hay không chấp nhận hành vi đó.
* Bán phá giá xảy ra do phân biệt giá quốc tế
Phân biệt giá quốc tế xảy ra khi thị trờng bị phân biệt giá là thị trờng của các
nớc khác nhau. Song giá xuất khẩu thờng cao hơn giá của thị trờng nội địa do nhà
xuất khẩu phải chịu thêm nhiều chi phí xuất khẩu nh vận chuyển, bảo hiểm Do đó,
khi nhà sản xuất theo đuổi hành vi phân biệt giá quốc tế, tức là giá bán trong nớc
khác giá xuất khẩu thì hành vi đó chỉ bị coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu sản
phẩm thấp hơn giá bán của sản phẩm đó ở trong thị trờng nội địa.
Tuy nhiên, xét về mặt kinh tế, bán phá giá cũng là một hiện tợng thông thờng.
Một công ty đợc hởng lợi thế độc quyền trên thị trờng nội địa do đợc bảo hộ bởi các
rào cản thơng mại tự nhiên và phi tự nhiên có thể bán sản phẩm trong nớc với mức giá
khá cao. Nếu chi phí xuất khẩu hàng hóa tơng đối thấp, mức giá xuất khẩu do công ty
đặt ra có thể sẽ thấp hơn nhiều so với giá bán ở thị trờng trong nớc. Trong trờng hợp
này, công ty sẽ dễ bị coi là bán phá giá.
Bản chất hành vi bán phá giá kể trên không phải là do công ty đặt giá thấp ở thị
trờng xuất khẩu mà do công ty đã bán giá cao ở thị trờng trong nớc. Chính sức mạnh
độc quyền ở thị trờng trong nớc đã làm giảm lợi ích của toàn xã hội. Nguyên tắc này
vẫn đúng trong trờng hợp công ty có sức mạnh độc quyền ở cả hai thị trờng. Khi đó,
công ty sẽ đặt giá thấp hơn ở thị trờng có sức mạnh độc quyền yếu hơn.
Do đó, nếu bán phá giá xảy ra dới hình thức phân biệt giá thì biện pháp chống
bán phá giá sẽ không mang lại lợi ích kinh tế gì vì ta cần chống lại sự định giá cao tại
thị trờng nội địa chứ không phải loại bỏ mức giá thấp ở thị trờng xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong trờng hợp này có một số quan điểm ủng hộ việc áp dụng các
biện pháp chống bán phá giá.
8
Quan điểm thứ nhất cho rằng việc bán phá giá sẽ làm giảm giá hàng hóa tơng
tự tại thị trờng nớc nhập khẩu. Điều này làm giảm lợi nhuận và lơng của các chủ công
ty và ngời lao động sản xuất mặt hàng cạnh tranh với hàng nhập khẩu và đe dọa lợi
ích tiềm năng trong tơng lai của họ hoặc làm ảnh hởng đến mức sống của những đối
tợng này.
Tuy nhiên, giá bán của hàng nhập khẩu thấp hơn giá bán của sản phẩm nội địa
rõ ràng đã đem lại lợi ích cho toàn xã hội nhiều hơn so với những thiệt hại mà các
nhà sản xuất sản phẩm cạnh tranh phải gánh chịu.
Trong trờng hợp này, nếu muốn, chính phủ một nớc có thể đánh thuế để phân
phối lại thu nhập nhằm bù đắp thiệt hại cho ngành sản xuất trong nớc, hay thậm chí
sử dụng biện pháp tự vệ. áp dụng thuế chống bán phá giá trong trờng hợp này không
phải là giải pháp tối u.
Quan điểm thứ hai cho rằng áp dụng thuế chống bán phá giá là biện pháp
nhằm gây sức ép làm tăng tính cạnh tranh tại thị trờng nớc xuất khẩu bằng cách xoá
bỏ các rào cản thơng mại - công cụ tạo thế độc quyền cho nhà xuất khẩu. Hàng rào
thơng mại ở đây đợc hiểu là thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, v.v chứ không
phải những rào cản tự nhiên nh chi phí vận tải.
Nếu xét nền kinh tế thế giới nh một tổng thể thì việc dỡ bỏ các rào cản thơng
mại trên cũng mang một ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, đây liệu có phải là điều mà
những nớc nhập khẩu mong đợi không bởi vì biện pháp chống bán phá giá trong tr-
ờng hợp này chỉ góp phần tăng cạnh tranh tại thị trờng nớc xuất khẩu.
Quan điểm thứ ba cho rằng việc bán phá giá có thể gây lãng phí nguồn lực tại
nớc nhập khẩu do nớc này cố gắng điều chỉnh để đạt đợc mức giá thấp hơn. Tuy
nhiên, lập luận này chỉ đúng khi hàng nhập khẩu bị bán phá giá trong thời gian ngắn.
Nếu việc bán phá giá mang tính lâu dài thì những điều chỉnh về nguồn lực tại nớc
nhập khẩu là hoàn toàn hợp lý và không hề lãng phí.
Ngay cả khi việc bán phá giá có tính chất tạm thời, việc áp dụng thuế chống
bán phá giá cũng không phải là giải pháp tối u trong một số trờng hợp. Giả sử nh một
công ty đang đặt giá tơng đối ổn định ở thị trờng trong nớc do thị trờng này không
chịu tác động nhiều của giá thế giới. Nhng trên thị trờng thế giới, công ty lại điều
chỉnh giá sản phẩm theo giá thị trờng. Do đó, khi giá thị trờng thế giới xuống thấp,
9
nhà xuất khẩu sẽ dễ dàng bị coi là bán phá giá. Nếu ta áp dụng biện pháp chống bán
phá giá nhằm tránh các chi phí điều chỉnh việc gia nhập và rút khỏi ngành của các
nhà sản xuất sản phẩm tơng tự tại nớc nhập khẩu thì chính sách này chỉ có thể gạt nhà
xuất khẩu ra khỏi thị trờng nớc nhập khẩu chứ không hề làm tăng giá thế giới. Hơn
nữa, để thực hiện mục tiêu làm giảm các chi phí điều chỉnh không cần thiết do thơng
mại gây ra, nớc nhập khẩu hoàn toàn có thể sử dụng một số biện pháp đối phó tạm
thời khác ví dụ nh biện pháp tự vệ.
Tóm lại việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá nh một công cụ để tránh các
thiệt hại tạm thời do hàng nhập khẩu gây ra không phải là biện pháp tối u ngay cả khi
hàng nhập khẩu bị coi là bán phá giá.
* Bán phá giá xảy ra do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Càng ngày càng có nhiều ngời ủng hộ quan điểm cho rằng bán phá giá bao
gồm cả tình huống giá xuất khẩu hàng hoá thấp hơn chi phí sản xuất.
Những ngời ủng hộ quan điểm bán phá giá là sự phân biệt giá thờng lập luận
rằng bán phá giá do giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất cũng là một hình thức
phân biệt giá. Họ cho rằng các công ty không thể duy trì việc bán hàng dới chi phí
nếu không bù lỗ cho phần hàng này bằng những phần hàng bán trên chi phí trong thị
trờng khác, tức là công ty đó đang thực hiện biện pháp phân biệt giá.
Tuy nhiên, lập luận trên cha giải thích đợc tại sao giá xuất khẩu dới chi phí sản
xuất lại bị coi là bán phá giá. Để tìm hiểu thêm về ý nghĩa kinh tế của hành vi này, ta
sẽ xem xét khái niệm chi phí bằng cách phân biệt chi phí trung bình và chi phí
biên. Chi phí trung bình là chi phí tính trên một đơn vị sản phẩm đầu ra. Chi phí biên
là chi phí tăng lên do sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm đầu ra.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phí
sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lợng sản xuất, chỉ có một phần nhỏ chi
phí sản xuất là thay đổi khi lợng sản xuất thay đổi. Chính chi phí biên là yếu tố quyết
định trong việc định giá của một công ty trong ngắn hạn khi phải chịu chi phí nhất
định để thâm nhập thị trờng. Điều này giải thích tại sao một công ty vẫn chấp nhận
bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí trung bình dù biết rằng đang bị lỗ. Thật vậy,
có trờng hợp nếu công ty không tiếp tục sản xuất thì công ty có thể sẽ bị lỗ nhiều hơn
do vẫn chịu chi phí cố định.
10
Trớc hết chúng ta hãy xem xét kỹ hơn tình huống giá xuất khẩu thấp hơn chi
phí trung bình. Sau đó chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu trờng hợp giá xuất khẩu thấp
hơn chi phí biên.
- Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí trung bình
Trong ngắn hạn, khi thị trờng suy thoái bất cứ công ty nào dù là cạnh tranh
hoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn chi phí
trung bình. Hành vi này của nhà sản xuất chính là để bù đắp chi phí cố định. Nhà sản
xuất có thể hy vọng rằng sau một thời gian suy giảm tạm thời, thị trờng sẽ hồi phục
và công ty có thể tăng giá; hoặc chỉ đơn giản là nhà sản xuất đang cố gắng bán hàng
nhằm giảm thiểu thua lỗ trớc khi rút khỏi thị trờng.
Trong thời gian ngắn công ty có thể chịu lỗ nếu nó vẫn tạo ra thu nhập đủ để
bù đắp chi phí biến đổi. Khi cả nhà sản xuất trong nớc và nhà xuất khẩu đều bán phá
giá dới chi phí trung bình do suy thoái của thị trờng thì việc đánh thuế chống bán phá
giá đối với nhà xuất khẩu là không hợp lý. Trong trờng hợp này, biện pháp chống bán
phá giá chỉ mang tính bảo hộ đơn thuần nhằm làm giảm tác động bất lợi đối với công
ty trong nớc khi thị trờng suy thoái.
Cơ cấu chi phí sản xuất của công ty sẽ quyết định điểm hòa vốn và điểm đóng
cửa. Công ty nào có chi phí cố định lớn hơn sẽ chấp nhận bán ở mức giá thấp hơn
nhằm cố gắng bù đắp chi phí cố định đã bỏ ra. Do đó, nhà xuất khẩu có thể bán ở
mức giá mà các công ty trong nớc đã đóng cửa, chỉ để bù đắp chi phí cố định đã bỏ
ra.
Sự khác biệt về cơ cấu chi phí của các công ty trên thế giới có thể do nhiều
nguyên nhân. Ví dụ nh việc các công ty của Mỹ thờng đầu t lớn vào máy móc, thiết
bị khiến cho tỷ lệ chi phí cố định của các công ty này trong tổng chi phí thờng cao
hơn các nhà cạnh tranh khác ở nớc ngoài. Do đó, các công ty này sẽ dễ bị coi là bán
phá giá trong thời gian cầu của thế giới giảm. Hay nh ở Nhật Bản, do tiền lơng công
nhân thờng đợc coi là chi phí cố định vì các công ty Nhật hiếm khi sa thải công nhân
nên các công ty này có thể sẽ tiếp tục sản xuất và xuất khẩu sang Mỹ ở mức giá mà
công ty Mỹ cho là quá thấp để duy trì hoạt động.
Nếu việc bán phá giá là do sự khác biệt về cơ cấu chi phí gây ra thì nớc nhập
khẩu có thể điều chỉnh bằng các chính sách nh đánh thuế sa thải công nhân hay trợ
11
cấp duy trì việc làm để làm thay đổi về cơ cấu chi phí của công ty trong nớc. Các
chính sách này sẽ điều tiết hành vi của nhà sản xuất trong nớc và góp phần làm giảm
gánh nặng thuế khoá cho ngời tiêu dùng do không phải chịu thuế chống bán phá giá.
Tóm lại, đối với hành vi bán phá giá dới chi phí trung bình, việc áp dụng thuế
chống bán phá giá có thể không phải là phơng án tối u nhất.
- Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí biên
Nh trên đã phân tích, một công ty có thể bán hàng với giá thấp hơn chi phí
trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn chi phí biên. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có
những công ty bán hàng dới chi phí biên. Nguyên nhân của hành vi này có thể do các
công ty đánh giá sai chi phí biên, hoặc chấp nhận hy sinh lợi nhuận để đạt đợc một số
mục tiêu khác nh tối đa hoá doanh thu, độc chiếm thị trờng, tăng thị phần hay tiếp thị
hàng hóa.
Tính cứng nhắc và bất ổn trong ngắn hạn
Khi bắt đầu xuất khẩu vào một thị trờng, công ty thờng phải đa ra quyết định
sản xuất trớc khi xác định đợc chính xác mức giá trên thị trờng bằng cách quyết định
sản lợng sản xuất theo mức giá dự tính. Mức giá dự tính của công ty là số bình quân
gia quyền của tất cả các phơng án giá cả có thể có với xác suất của mỗi phơng án đợc
sử dụng nh các trọng số. Nếu giá bán thực tế thấp hơn nhiều so với giá bán mong đợi
ban đầu thì công ty sẽ phải bán hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên định trớc.
Khi công ty phát hiện ra đã xác định sai giá thị trờng và do đó, xác định sai chi
phí biên, công ty khó có thể điều chỉnh sản lợng ngay lập tức. Mức sản lợng chỉ có
thể điều chỉnh sau một thời gian dài, khi công ty có thể cải biến toàn bộ yếu tố đầu
vào của nó, kể cả quy mô các nhà máy.
Do tính cứng nhắc trong ngắn hạn, một khi công ty đã ấn định sản lợng sản
xuất, có nghĩa là không thay đổi đợc toàn bộ các chi phí cố định thì việc điều chỉnh
chi phí biên ớc tính ban đầu là hầu nh không thể xảy ra. Ví dụ nh với một hãng hàng
không đang duy trì một chuyến bay thờng lệ nhng còn một số vé cha bán đợc. Khi
đó, chi phí biên tăng lên cho mỗi hành khách tiếp theo có thể rất thấp, chẳng hạn
bằng chi phí một suất ăn trên máy bay. Chi phí biên trong trờng hợp này gần nh bằng
không. Hay nh một công ty sản xuất đồ gốm sứ xuất khẩu. Công ty đã đầu t máy
móc, lò nung cho việc sản xuất 5 vạn chiếc đĩa. Nếu trên thực tế, công ty mới chỉ có
12
đơn đặt hàng yêu cầu giao ngay 4,5 vạn chiếc đĩa thì chi phí biên tăng thêm cho mỗi
chiếc đĩa sản xuất tiếp theo là không đáng kể (chỉ tơng ứng với một lợng nhỏ chi phí
đất sét và lao động) vì với công suất lò nung đã định trớc, công ty vẫn phải mất một l-
ợng chi phí cố định đã đầu t vào lò nung, chi phí cho nguyên liệu để đốt lò Do đó,
trong ngắn hạn, hãng hàng không hay công ty sản xuất đồ gốm sứ này có thể bán vé
hoặc xuất khẩu số đĩa cha bán đợc ở bất cứ mức giá nào cũng đợc coi là có lợi vì mức
giá nào trong trờng hợp này cũng lớn hơn chi phí biên.
Tóm lại, áp dụng thuế chống bán phá giá trong trờng hợp công ty xác định sai
mức giá trên thị trờng và chi phí biên là không hợp lý vì việc xác định sai mức giá
này chỉ phản ánh hiện tợng kinh tế đơn thuần là chi phí biên trong ngắn hạn có thể
cao hơn rất nhiều so với chi phí trung bình trong dài hạn.
Tối đa hoá doanh thu
ở những công ty lớn, chủ công ty thờng thuê ban giám đốc điều hành. Trong
một thời gian nào đó, ban giám đốc có thể quan tâm đến mục tiêu tối đa hoá doanh
thu để nhằm khuyếch trơng hay đợc khen thởng mà xa rời mục tiêu tối đa hóa lợi
nhuận của công ty.
Nh ta đã phân tích, để tối đa hóa lợi nhuận, công ty chỉ mở rộng sản xuất đến
mức giá bằng chi phí biên. Do đó, việc công ty cố gắng tối đa hóa sản lợng sẽ đẩy chi
phí biên lên cao hơn giá bán.
Nếu tình huống này xảy ra trong thị trờng nội địa, chính phủ sẽ không can
thiệp vì đây là vấn đề của bản thân công ty. Tuy rằng hành vi này có thể gây thiệt hại
cho những ngời sản xuất sản phẩm cạnh tranh trên thị trờng, nhng xét về tổng thể
toàn xã hội sẽ đợc lợi do ngời tiêu dùng sẽ đợc lợi nhiều hơn từ việc tối đa hoá doanh
thu này.
Trên thị trờng quốc tế, hành vi này bị coi là bán phá giá và phải chịu thuế
chống bán phá giá. Tuy nhiên, về phơng diện kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu
sống còn của công ty nên công ty sẽ rất khó duy trì đợc hành vi này trong dài hạn.
Ban giám đốc cũ có thể bị thay thế. Vì vậy, với nớc nhập khẩu, biện pháp ứng phó tốt
nhất trong trờng hợp này là tận dụng số hàng nhập khẩu rẻ này.
Thôn tính để độc chiếm thị trờng
13
Một số công ty bán phá giá để cố gắng tối đa hoá doanh số nhằm thôn tính,
độc chiếm thị trờng. Sau một thời gian dài chịu lỗ, công ty sẽ loại đợc các đối thủ
cạnh tranh khác ra khỏi thị trờng. Sau khi đạt đợc điều này, công ty sẽ tăng giá lên
cao nhằm thu lợi nhuận độc quyền. Có thể thấy rằng, trong trờng hợp này công ty đã
hy sinh lợi nhuận ngắn hạn để tối đa hóa lợi nhuận dài hạn.
Hành vi độc quyền của công ty rõ ràng sẽ gây thiệt hại lớn cho nớc nhập khẩu.
Do đó, các nớc nhập khẩu thờng tỏ ra khá kiên quyết trong việc đối phó với hành vi
bán phá giá nhằm chiếm lĩnh thị trờng này.
Tuy nhiên, áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu bị bán phá
giá kiểu này không phải là giải pháp tối u.
Thứ nhất, việc bán phá giá để chiếm lĩnh thị trờng là rất khó khăn vì ngoài việc
đẩy các công ty cạnh tranh khác ra khỏi thị trờng, công ty còn phải tìm cách ngăn cản
sự quay trở lại của các đối thủ cạnh tranh khi giá bị đẩy lên cao.
Thứ hai, trên phạm vi quốc tế, hiếm khi xảy ra hiện tợng một công ty có thể
độc quyền trên toàn bộ thị trờng. Việc kiểm soát giá trên thị trờng sẽ do một số công
ty lớn nắm giữ. Do đó, ngay cả khi nhà xuất khẩu thành công trong việc loại bỏ tất cả
các công ty nội địa thì họ vẫn phải dàn xếp với các công ty quốc tế khác để thống
nhất về việc định giá.
Thứ ba, nớc nhập khẩu có thể triệt tiêu sức mạnh độc quyền của công ty bằng
cách đánh thuế đối với lợi nhuận độc quyền sau khi công ty đã tăng giá chứ không
cần phải đánh thuế chống bán phá giá ngay trong giai đoạn đầu. Nếu không làm nh
vậy, nớc nhập khẩu sẽ phải chịu mất đi một lợng hàng nhập khẩu rẻ chỉ vì sợ bị thôn
tính thị trờng.
Cạnh tranh để giành thị phần
Một số công ty xuất khẩu hàng với mức giá thấp hơn chi phí biên nhằm mục
tiêu chiếm đợc thị phần cao hơn trên thị trờng nhập khẩu. Tuy nhiên, khác với trờng
hợp trên, công ty không có ý định thôn tính toàn bộ thị trờng mà chỉ cố gắng tăng thị
phần của mình.
Theo lý thuyết, trong thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo, một công ty không
thể bán đợc nhiều sản phẩm mà nó mong muốn tại mức giá thị trờng. Doanh số bán
ra của công ty phụ thuộc vào giá của sản phẩm.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét