Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
Phát triển du lịch tỉnh An Giang năm 2020
5
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch, để
đánh giá và sử dụng chúng như một công cụ trong xây dựng các giải pháp phát
triển du lịch của tỉnh An Giang.
- Tổng hợp những kinh nghiệm một số nước trên thế giới thành công
trong phát triển du lịch, liên hệ hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam cụ thể tỉnh
An Giang để đề xuất những giải pháp phát triển du lịch một các phù hợp và
hiệu quả nhất. Đồng thời, đánh giá tiềm năng và thực trạng của ngành du lịch
tỉnh An Giang trong thời gian qua làm cơ sở đề xuất giải pháp và kiến nghị
nhằm thúc đẩy ngành du lịch tỉnh An Giang
5/. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch và vai trò của chúng đối với phát
triển kinh tế - xã hội.
Chương 2 : Thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang trong thời
gian qua.
Chương 3: Các giải pháp phát triển ngành du lịch tỉnh An Giang đến
năm 2020.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM VỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH.
1.1. DU LỊCH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH:
1.1.1. Khái niệm du lịch:
Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều
cách khác nhau. Quan niệm về du lịch theo cách tiếp cận phổ biến cho rằng du
lịch là một hiện tượng trước thế kỷ thứ XIX đến tận đầu thế kỷ XX du lịch hầu
như vẫn được xem là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quý tộc và người ta chỉ
xem đây như một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế-xã hội. Trong thời
kỳ này, du lịch như một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc
sống và nhận thức của con người. Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư
trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ
mục đích tìm kiếm việc làm và ở đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được ở nơi
khác.
Du lịch là một hệ thống tinh thần và vật chất trong đời sống xã hội, là
một loại hiện tượng kinh tế xã hội tổng hợp. Du lịch do ba yếu tố cơ bản là du
khách, tài nguyên du lịch và ngành du lịch cấu thành. Lữ hành và du lịch đã có
từ lâu, trãi qua quá trình phát triển lâu dài, trong các thời kỳ lịch sử khác nhau,
hoạt động lữ hành và du lịch có các hình thức biểu hiện và đặc trưng khác
nhau. Lịch sử phát triển du lịch trên thế giới nói chung khái quát thành ba giai
đoạn: Lữ hành thời cổ ( trước những năm 40 của thế kỹ XIX), du lịch cận đại (
từ những năm 40 của thế kỹ XIX đến chiến tranh thế giới thứ hai), ba là du lịch
hiện đại ( sau chiến tranh thế giới thứ hai). Sau chiến tranh thế giới lần thứ II,
ngành du lịch phát triển mạnh và trở thành một trong những ngành có tốc độ
phát triển nhanh và ổn định của kinh tế thế giới.
7
Qua nhiều thời kỳ phát triển, khái niệm về du lịch có những thay đổi
để phù hợp với sự phát triển của ngành du lịch. Có nhiều định nghĩa, nhưng
theo giáo sư Hangiker và Kraff định nghĩa tại Hội nghị lần thứ V của các nhà
khoa học trong lĩnh vực du lịch của thế giới thừa nhận là: “ Du lịch là tổng hợp
các mối quan hệ, hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời
của cá thể, nơi họ lưu trú không phải là nơi họ ở thường xuyên và là nơi làm
việc để kiếm tiền”.
Theo Luật du lịch Việt Nam: “ Du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoản thời gian nhất định”.
Từ khái niệm trên, cho chúng ta nhận định rằng du lịch không chỉ đơn
thuần của một hoạt động mà là tổng hoà nhiều mối quan hệ và hiện tượng nảy
sinh từ điều kiện và tác động qua lại giữa các đối tượng là khách du lịch, tài
nguyên du lịch và ngành du lịch. Nhu cầu du lịch của người du lịch là yếu tố
dẫn đến sự phát sinh của toàn bộ hoạt động du lịch. Đối tượng trực tiếp của
hành vi du lịch là di tích, cảnh quan và vật mua sắm. Sự tiếp xúc qua lại và tác
động lẫn nhau giữa người du lịch và tài nguyên du lịch thông qua một cơ chế
thị trường để tiến hành vận động mới có thể thực hiện, vì thế ngành du lịch làm
trung gian môi giới giữa hai đối tượng ấy, làm hình thành thị trường du lịch,
làm hài hòa và thực hiện quan hệ giữa sự tiêu dùng của người du lịch và khai
thác có hiệu quả tài nguyên du lịch.
Bên cạnh, du lịch là một hoạt động của con người không phải nơi cư trú
thường xuyên, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ
dưỡng trong một thời gian nhất định. Đồng thời, từ khái niệm về du lịch cho ta
thấy rõ hơn du lịch là tổng hợp các mối quan hệ giữa khách du lịch, tài nguyên
du lịch và ngành quản lý du lịch, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phát
triển hoặc ngược lại của chủ thể này sẽ tác động trực tiếp đến các chủ thể còn
lại. Chính vì thế, ngành du lịch cần phải có những giải pháp đồng bộ tác động
lên các chủ thể này mới đảm bảo đưa hoạt động ngành du lịch phát triển một
cách bền vững.
8
1.1.2. Khái niệm về khách du lịch :
Việc xác định ai là du khách ( khách du lịch) có nhiều quan điểm khác
nhau, để phân biệt giữa khách du lịch, khách tham quan và lữ khách dựa vào 3
tiêu thức: Mục đích, thời gian, không gian chuyến đi.
Theo nhà kinh tế học người Anh, ông Ogilvie cho rằng: “ khách du lịch
là tất cả những người thỏa mãn 2 điều kiện: rời khỏi nơi ở thường xuyên trong
khoảng thời gian dưới một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà
không kiếm tiền ở đó”. Khái niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được
mục đích của người đi du lịch và qua đó để phân biệt được với những người
cũng rời khỏi nơi cư trú của mình nhưng lại không phải là khách du lịch.
Nhà xã hội học Cohen quan niệm: “ Khách du lịch là một người đi tự
nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới
lạ và sự thay đổi thu nhận được từ một chuyến đi tương đối xa và không
thường xuyên”.
Năm 1937 Ủy Ban Thống kê Liên Hiệp quốc đưa ra khái niệm về du
khách quốc tế như sau: “ Du khách quốc tế là những người thăm viếng một
quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là
24 giờ”.
Tuy nhiên, trong thực tế lượng khách tham quan giải trí trong thời gian ít
hơn 24 giờ ngày càng nhiều và không thể không tính đến tiêu dùng của họ
trong thống kê du lịch, do đó đã nãy sinh ra khái niệm về khách tham quan.
Khách tham quan là những người đi thăm và giải trí trong khoảng thời gian
dưới 24 giờ.
Từ những khái niệm trên, cho ta nhận định rằng khách du lịch (du khách)
là những người đi vì lý do giải trí, lý do sức khỏe, gia đình…, những người đi
tham gia các hội nghị, hội thảo của các tổ chức, các đại hội thể thao…hoặc
những người đi với mục đích kinh doanh công vụ (tìm hiểu thị trường, ký kết
hợp đồng…). Những người không được xem là khách du lịch quốc tế là những
người đi sang nước khác để hành nghề, những người tham gia vào các hoạt
động kinh doanh ở nước đến (có thu nhập ở nước đến), những người nhập cư,
các học sinh sinh viên đến để học tập, những cư dân vùng biên giới, những
người cư trú ở một quốc gia và đi làm ở quốc gia khác, những người đi xuyên
qua một quốc gia và không dừng lại cho dù cuộc hành trình kéo dài trên 24 giờ.
9
Như vậy, với khái niệm này về mặt thời gian khách du lịch quốc tế là
những người có thời gian thăm viếng (lưu lại) nước đến ít nhất là 24 giờ. Sở dĩ
như vậy vì các du khách phải lưu lại qua đêm và phải chi tiêu một khoản tiền
nhất định cho việc lưu trú.
* Phân loại về du khách :
Từ ngữ “du khách” xuất hiện sớm nhất trong từ điển Oxford bằng tiếng
Anh xuất bản năm 1811, có ý nghĩa là “ du khách từ ngoài tới với mục đích
tham quan du ngoạn”.
Du khách là chủ thể của hoạt động du lịch, chiếm vị trí quan trọng trong
hoạt động du lịch là đối tượng chủ yếu và xuất phát điểm cơ bản của khai thác
kinh doanh, phục vụ của ngành du lịch, đồng thời đây là nơi chủ yếu để ngành
du lịch thu được lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích văn hóa và là điều kiện
cơ bản và tiền đề để phát triển.
Căn cứ vào phạm vi khu vực, mục đích du lịch, độ tuổi khách du lịch,
mức chi tiêu của khách du lịch, mục đích đi du lịch, hình thức, phương tiện,
nguồn chi tiêu của khách du lịch. Từ đó, du khách được chia làm các loại như:
Phân theo phạm vi gồm du khách quốc tế, du khách trong nước; Phân theo mục
đích du lịch gồm du khách tiêu khiển, du khách đi công tác, du khách gia đình
và việc riêng; Phân chia theo tuổi tác gồm du khách cao tuổi, du khách trung
niên, du khách thanh thiếu niên; Phân chia theo mức chi tiêu gồm du khách
hạng sang, du khách kinh tế; Phân chia theo nội dung hoạt động gồm du khách
tham quan, du khách nghỉ phép, du khách hội nghị, du khách điều dưỡng, du
khách thể thao, du khách thám hiểm, du khách giao lưu văn hóa, du khách tôn
giáo ; Phân chia theo hình thức tổ chức gồm du khách tập thể, du khách cá
nhân, du khách bao trọn gói; Phân chia theo phương tiện giao thông được sử
dụng gồm du khách hàng không, du khách đường sắt, du khách ô tô, du khách
đường thủy; Phân chia theo nguồn chi phí gồm du khách tự túc, du khách được
tổ chức cấp kinh phí, du khách được thưởng.
Từ việc phân loại du khách trên, có ý nghĩa rất quan trọng sẽ giúp cho
các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh
du lịch xác định rõ chủ thể du lịch là đối tượng nào để có sự phối hợp nhịp
nhàng, khai thác có hiệu quả, phù hợp của khách thể du lịch, môi giới du lịch,
10
tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút khách du lịch và tác động cho hoạt
động du lịch có hiệu quả.
1.1.3. Phân loại du lịch :
Hiện nay chưa có tiêu chuẩn thống nhất để phân loại du lịch, ngành du
lịch thế giới đang phát triển nhanh, số người tham gia hoạt động du lịch ngày
càng đông. Mỗi người đều căn cứ vào điều kiện kinh tế, thời gian nhàn rỗi và
mục đích du lịch của mình để xác định hình thức du lịch khác nhau. Cùng với
sự phát triển không ngừng của du lịch, phạm vi hoạt động ngày càng có xu thế
phát triển, nội dung hoạt động ngày càng mở rộng và các loại hình du lịch cũng
dần dần tăng lên. Các loại hình du lịch có thể phân chia như sau:
- Phân loại theo mục đích du lịch: Theo sự phân loại về mục đích thăm
viếng của du khách ở Hội nghị du lịch quốc tế La Mã của Liên Hiệp Quốc, du
lịch được chia ra: du lịch nghỉ phép, du lịch thương mại, du lịch điều trị dưỡng
bệnh, du lịch du học, du lịch hội nghị, du lịch thăm viếng người thân, du lịch
tôn giáo, du lịch thể dục thể thao và các du lịch khác.
- Phân chia theo phạm vi khu vực: Căn cứ vào phạm vi khu vực có thể
chia du lịch thành: du lịch trong nước và du lịch quốc tế. Du lịch trong nước là
chỉ du lịch do cư dân trong nước rời khỏi nơi cư trú của mình tới một nơi khác
trong nước để du lịch. Du lịch quốc tế là chỉ cư dân của một nước vượt đường
biên giới quốc gia tới một hoặc vài nước khác để tiến hành du lịch.
- Phân chia theo nội dung du lịch:
Du lịch công vụ: Khách nước ngoài nhận lời mời đến thăm viếng,
đàm phán ngoại giao được xếp một hoặc vài hoạt động du lịch.
Loại du lịch này tuy chiếm tỉ trọng không lớn trong lợi ích kinh tế
của ngành du lịch quốc tế, nhưng cùng với sự tăng lên của sự giao
lưu quốc tế, số người có nhu cầu sẽ tăng lên, do đó cần xem đây là
một hình thức du lịch quan trọng.
Du lịch thương mại: Thương nhân nước ngoài đến một nước để
tìm hiểu thị trường, kết giao với các nhân sĩ, đàm phán mậu dịch,
trong đó có ăn ở khách sạn, mời tiệc, xã giao, du ngoạn đã trở
thành bộ phận hợp thành quan trọng của hoạt động du lịch ngày
nay.
11
Du lịch du ngoạn: Đến nơi khác để thưởng ngoạn phong cảnh
thiên nhiên và phong thổ nhân tình, thông qua lữ hành đạt được sự
hưởng thụ cái đẹp, được vui vẻ, nghỉ ngơi. Đó là hình thức du lịch
chủ yếu nhất hiện nay.
Du lịch thăm viếng người thân: Nước ngoài còn gọi là du lịch
tìm cội nguồn. Những năm gần đây, số người du lịch tìm cội
nguồn và thăm viếng người thân ngày càng tăng, trở thành hình
thức du lịch đặc biệt.
Du lịch văn hóa : Những người tiến hành du lịch văn hóa phần
lớn là những người có học. Họ đến một nơi khác để tìm hiểu văn
vật cổ tích, văn hóa nghệ thuật, kiến trúc dân tộc, khoa học kỹ
thuật giáo dục với mục đích khảo sát văn hóa và giao lưu văn hóa.
Du lịch hội nghị: Một số nơi tận dụng dịp tiếp đãi hội nghị gắn
hội nghị và du lịch với nhau tức là vừa hội nghị vừa du lịch. Đặc
điểm của loại du lịch này là địa vị của du khách cao, thời gian lưu
lại dài, khả năng mua sắm mạnh. Hình thức du lịch này đang phát
triển mạnh trên thế giới, trở thành một bộ phận chiếm tỉ trọng lớn
của thị trường du lịch quốc tế.
Du lịch tôn giáo: Đây là hình thức du lịch cổ xưa tiếp tục đến nay,
chủ yếu là kết quả của sự tồn tại và ảnh hưởng của tôn giáo phản
ảnh trên tư tưởng con người. Ở Trung Quốc và một số nước Đông
Nam Á có lịch sử lâu đời và hình thức kiến trúc phong phú đa
dạng đã thu hút các tín đồ tôn giáo tín ngưỡng khác nhau và đã thu
hút nhiều du khách đến tham quan du ngoạn.
Việc phân loại du lịch trên có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ giúp cho ta khai
thác lợi thế, tiềm năng du lịch, xác định được thế mạnh của cơ sở kinh doanh
du lịch, từ đó có thể xác định được cơ cấu khách hàng, mục tiêu của điểm du
lịch, tạo điều kiện đưa hoạt động ngành du lịch ngày càng phát triển tốt nhất.
1.1.4. Sản phẩm du lịch:
1.1.4.1. Khái niệm:
Khái niệm về sản phẩm du lịch cần được xác định một cách rõ ràng, đặc
biệt là trong những lĩnh vực du lịch. Một sản phẩm du lịch là một tổng thể
những yếu tố có thể thấy được hoặc không thấy được, nhưng lại làm thỏa mãn
cho những khách hàng nhất định.
12
Những đặc tính địa lý ( bãi biển, núi rừng, sông suối, khí hậu, không gian
thiên nhiên…) cũng như hạ tầng cơ sở ( khách sạn, nhà hàng, đường bay…)
bản thân chúng không phải là một sản phẩm du lịch, nhưng chúng trở thành sản
phẩm du lịch trong những tình trạng nào đó.
Kotler và Turner đã định nghĩa về sản phẩm du lịch một cách rộng rãi
như sau: “ Một sản phẩm là tất cả những gì có thể cung cấp cho sự chiếm hữu,
sự sử dụng hoặc sự tiêu thụ của một thị trường: điều đó bao gồm những vật thể,
những khoa học, những nhân vật, những nơi chốn, những tổ chức và những ý
tưởng”.
Thường người ta phân biệt ba mức độ trong khái niệm của sản phẩm du
lịch:
- Sản phẩm du lịch chính: Là nhu cầu cần thỏa mãn chính hoặc là phần
lợi ích của sản phẩm này khác với các sản phẩm cạnh tranh khác, chẳng hạn
một chỗ nghĩ mát, một điểm thể thao, một chuyến du hành đường thủy.
- Sản phẩm du lịch hình thức: Sản phẩm du lịch hình thức tương ứng với
sản phẩm du lịch mà nó có mặt lúc mua hoặc chọn lựa. Nó là sản phẩm cốt yếu
được cụ thể hóa những yếu tố hoặc những dịch vụ rõ ràng như khách sạn, nhà
hàng, trang thiết bị. Nó không còn là một sản phẩm ở trong khái niệm mà là
một thành phẩm có thương mại hóa và có ích hoặc được du khách tiêu thụ.
Chẳng hạn, nếu sản phẩm chủ yếu là một chỗ nghĩ mát, thì sản phẩm du lịch là
toàn bộ những khách sạn và dịch vụ thương mại ở trong khu nghĩ mát cũng như
những đặc tính kỹ thuật liên quan đến việc nghĩ mát.
- Sản phẩm du lịch mở rộng: Sản phẩm du lịch mở rộng là toàn bộ những
yếu tố liên quan đến người tiêu dùng, tức là du khách là tổng thể do các yếu tố
nhìn thấy cũng như không nhìn thấy cung cấp cho người du lịch, đặc biệt là
những lợi ích tâm lý như là cảm giác lạ, được xem là thành phần ưu tú, thượng
lưu…
- Sản phẩm du lịch mở rộng là một sản phẩm hoàn toàn thích hợp cho
khách hàng cuối cùng. Đó là hình ảnh hay cá tính của sản phẩm mà du khách
cảm nhận. Hình ảnh đó bao gồm những yếu tố như kiến trúc, khí hậu, cảnh
quan…và những yếu tố tâm lý như bầu không khí, mỹ quan, cách sống, định
chế xã hội của khách hàng.
13
Việc hiểu rõ khái niệm sản phẩm du lịch là khởi điểm của việc nghiên
cứu vấn đề kinh tế du lịch. Trong hoạt động kinh tế du lịch, du khách bỏ ra một
thời gian và sức lực nhất định, chi tiêu một khoản tiền nhất định để mua của
người kinh doanh du lịch không phải vật cụ thể mà là sự thỏa mãn và hưởng
thụ nhiều hơn về tinh thần, là quá trình du lịch hoàn chỉnh một lần, trong đó
bao gồm nhiều loại dịch vụ do đích tới cung cấp. Quá trình du lịch một lần
như vậy tức là một sản phẩm du lịch, trong đó một hạng mục dịch vụ du lịch
như một giường ở phòng khách sạn, một bữa cơm trưa thịnh soạn được gọi là
sản phẩm du lịch. Có thể thấy sản phẩm du lịch là do nhiều hạng mục sản phẩm
du lịch hợp thành là sản phẩm vô hình mang đặc trưng hoàn chỉnh.
Theo chúng tôi, sản phẩm du lịch là một khái niệm tổng thể. Trong thực
tế kinh doanh, một loại sản phẩm du lịch thường do xí nghiệp và bộ phận du
lịch trực thuộc một số ngành nghề nhưng độc lập với nhau cung cấp, các xí
nghiệp và bộ phận này căn cứ vào tính chất của mình tự tổ chức dịch vụ đã
định xoay quanh thị trường mục tiêu riêng. Mặt khác, nhu cầu của du khách là
hoàn chỉnh, nơi du lịch chỉ thỏa mãn một số nhu cầu của họ về ở, ăn, đi lại, du
ngoạn, vui chơi giải trí, mua sắm…Nói cách khác, đối với quần thể du khách,
nơi đích tới du lịch chỉ có thể kết hợp một cách hữu cơ các sản phẩm du lịch
đơn lẻ mới có thể tạo ra sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu du khách. Sự ra
đời của Công ty du lịch và sự xuất hiện của du lịch trọn gói đã thích ứng với
yêu cầu khách quan này, họ kết hợp toàn bộ sản phẩm du lịch đơn lẻ thành sản
phẩm du lịch thỏa mãn các nhu cầu của du khách trong quá trình du lịch.
Do đó, bất kể đối với cơ quan quản lý du lịch hay xí nghiệp du lịch, hiểu
được khái niệm du lịch một cách thiết thực và xây dựng ý thức sản phẩm du
lịch hoàn chỉnh đều hết sức cần thiết. Xét về nhu cầu, khi du khách tiến hành
quyết định nơi đích tới du lịch thì vấn đề họ quan tâm là sản phẩm du lịch hoàn
chỉnh chứ không phải sản phẩm du lịch đơn lẻ, sự đánh giá của du khách đối
với chất lượng sản phẩm du lịch cũng xuất phát từ điểm này. Vì thế thực sự
hiểu được khái niệm này sẽ có lợi cho việc phát triển lành mạnh của ngành du
lịch, có lợi cho sự tăng cường ý thức hợp tác của người kinh doanh du lịch,
cùng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo ra hình tượng du lịch hoàn
chỉnh tốt đẹp.
1.1.4.2. Cơ cấu của sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch là loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại yếu tố hợp
thành. Từ phía nơi đích tới du lịch , để thoả mãn các loại nhu cầu tiêu thụ của
14
du khách trong hoạt động du lịch, sản phẩm đơn lẻ do người kinh doanh du lịch
cung cấp cho thị trường du lịch chủ yếu bao gồm: nhà ở, giao thông du lịch,
cung cấp ăn uống, du ngoạn tham quan, hạng mục vui chơi giải trí, dịch vụ
mua sắm, tuyến du lịch, sắp xếp chương trình và các dịch vụ chuyên môn khác.
Nội dung cơ cấu của sản phẩm du lịch rất phong phú, liên quan tới rất nhiều
ngành nghề, nhưng xét về ý nghĩa, các bộ phận hợp thành đều có thể chia ra:
vật hấp dẫn du lịch và dịch vụ du lịch …
Vật hấp dẫn du lịch: là vật đối tượng du lịch có sức thu hút hiện thực mà
người kinh doanh du lịch giới thiệu cho du khách, là nhân tố quyết định để hấp
dẫn du khách. Nó bao gồm tất cả mọi hiện tượng, sự vật, sự kiện tự nhiên và xã
hội tạo thành sức hấp dẫn đối với du khách, có thể mang lại nhiều hiệu quả và
lợi ích kinh tế và xã hội cho người kinh doanh du lịch .
Cơ sở du lịch: Là điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch. Để triển
khai hoạt động kinh tế du lịch cần xây dựng rất nhiều cơ quan lữ hành du
ngoạn, dựa vào điều kiện vật chất nhất định, trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp
dịch vụ cho du khách. Các cơ quan lữ hành du ngoạn này cùng với vật chuyển
tải vật chất của nó gọi chung là cơ sở du lịch. Cơ sở du lịch có thể chia thành
hai loại: cơ sở cơ bản du lịch trực tiếp phục vụ du khách và cơ sở hạ tầng du
lịch tuy không trực tiếp cung cấp dịch vụ cho du khách nhưng cung cấp dịch vụ
cho các bộ phận du lịch trong hoạt động kinh doanh du lịch.
Từ đó cho thấy rằng, dịch vụ du lịch là hạt nhân của sản phẩm du lịch, sự
thực hiện nhu cầu chi tiêu du lịch của du khách không tách rời các dịch vụ mà
người kinh doanh du lịch cung cấp. Sản phẩm du lịch mà người kinh doanh du
lịch cung cấp cho du khách ngoài sản phẩm vật chất hữu hình như ăn uống,
phần nhiều thể hiện bằng các loại dịch vụ, tuy về tính chất có sự khác biệt,
nhưng về bản chất đều lấy sản phẩm vật chất hữu hình, vật tự nhiên và hiện
tượng xã hội vật thể chuyên chở để cung cấp dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu
du lịch của du khách. Dịch vụ du lịch là một khái niệm hoàn chỉnh, là do các
dịch vụ đơn lẻ kết hợp làm thành, phải duy trì sự phối hợp tạo ra sự đánh giá
tốt của du khách về sản phầm du lịch hoàn chỉnh.
1.1.4.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt, sản phẩm du lịch chủ
yếu có các đặc điểm:
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét