Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014
Khảo sát các phương pháp chiết suất, thành phần hóa học và tính chất hóa lý của tinh dầu hoa lài Jasminum sambac L. trồng tại An Phú Đông, quận 12 Tp. HCM
5
5 – 6 gân phụ, lồi ở giữa, cong đột ngột ở mép, gân con hình mạng lưới. Hoa màu
trắng mọc thành cụm ở nách lá hay ở ngọn cây, hoa rất thơm, có nhiều vào mùa hè.
Phát hoa 3 – 12 hoa, vành hoa trắng thường đôi, cánh hoa tròn hay tròn dài. Lá đài
hẹp, có lông ở bìa, có khi không lông. Lá bắc hình sợi chỉ, quả màu đen hình cầu có 2
ngăn, đường kính 6 mm bao bọc bởi đài [1] [3] [6].
Jasminum officinale là cây bụi thân leo mảnh khảnh, xanh quanh năm, có thể
phát triển đến 10 m. Lá màu xanh đậm, hoa nhỏ màu trắng hình giống như ngôi sao,
được hái vào buổi tối khi mùi hương tỏa ra mãnh liệt. Một người có kinh nghiệm có
thể hái 10.000 – 15.000 hoa trong một ngày [17].
Jasminum grandiflorum là loại cây mọc lâu năm, có nhiều cành, cành phía dưới
cứng, dạng gỗ còn ở phía trên mọc vươn dài, yếu, dạng cỏ. Cành lài có thể dài từ
1,5 – 2m, lá hình bầu dục, nhọn ở phía cuối. Jasminum grandiflorum là loài lài cánh
to, có giá trị về mặt hương liệu. Hoa mọc ở cuối cành, có cuống hình chuông, thường
4 – 5 cánh màu trắng đục, phần dưới cánh hoa hơi hồng, nở từ tháng 6 đến tháng 10
[17].
Jasminum angustifolium là cây thân leo xanh quanh năm, cao 3 – 3,65 m, lá
rộng màu xanh sáng bóng, hoa màu trắng, tỏa hương thơm quanh năm.
Jasminum fruticans có sức chịu đựng cao trong điều kiện khắc nghiệt, dạng cây
bụi xanh quanh năm, cao 3 – 3,65 m, dễ gãy, thân cây mảnh, cần phải chống đỡ. Hoa
có màu vàng, không tỏa hương từ mùa xuân đến mùa thu.
Jasminum nudiflorum có hoa màu vàng rực rỡ vào mùa đông trước khi ra lá,
phát triển nhanh chóng trong bất cứ điều kiện nào [17].
2.1.4. Đặc điểm sinh thái
Ở nước ta cây lài ưa khí hậu nóng, đất khô giàu mùn, cần nhiều ánh nắng để ra
hoa.
Ở Pháp và các nước khác Jasminum grandiflorum ưa khí hậu ấm áp, nhiệt độ
5
o
C – 7
o
C cây có thể chết, cành hầu như ngừng hoạt động. Lài cần ánh sáng, mọc
trong bóng râm cành và lá sẽ bị hạn chế phát triển, thu hoạch thấp. Nếu đất không đủ
độ ẩm thì phải cung cấp nước, đất quá ẩm thì cũng không thích hợp, trong trường hợp
này lượng hoa có tăng nhưng hàm lượng tinh dầu và mùi thơm của hoa sẽ giảm [8].
Ở Pháp hoa lài trồng được trên nhiều loại đất, trừ đất có nhiều sét và sạn, cần
phải cung cấp đủ nước và ánh sáng mặt trời. Tại đây hoa lài được trồng bằng cách
6
ghép loài Jasminum grandiflorum 2 hay 3 năm tuổi trên gốc ghép của loài Jasminum
officinale hoang dại. Hàng cách nhau 1 – 1,5 m và khoảng 50.000 cây/ha [10].
Hoa lài ở vùng Grasse và Cannes được trồng thành hàng, phải cung cấp đủ ánh
sáng, đất xốp, nhạy cảm với thời tiết lạnh và bị thiệt hại bởi sương giá.
Ở Ai Cập trên các cánh đồng hoa lài mỗi bụi cách nhau 1m hàng cách nhau 2
m, khoảng 5.000 cây/ha, còn ở Morocco hàng cách nhau 2,5m, cây cách nhau 1m nên
chỉ khoảng 4.000 cây/ha [10].
Vì thời tiết ở Italia khác với miền Nam nước Pháp nên tại đây Jasminum
grandiflorum được trồng trực tiếp bằng các cành được cắt, những đoạn cắt được phát
triển trong vườn ươm một thời gian dài để cho bộ rễ khỏe mạnh. Vào năm thứ hai sau
khi trồng, những bụi lài được xén tỉa những nhánh 30 – 40 cm, những cánh đồng lài
được tưới nước mỗi tuần từ tháng 6 đến tháng 10 [10].
Theo Arnaud, lài rất nhạy cảm với sương giá và dễ bị bệnh thối rễ do đó cần
phải được che phủ vào mùa thu để ngăn ngừa những thiệt hại do sương giá gây ra đồng
thời phải làm kỹ đất khi trồng lài [17].
Một loại nấm Agaricus melleus, gây bệnh trên những cánh đồng hoa lài, tấn
công trên rễ của những cây ghép cành. Khi loài nấm này xâm nhiễm tràn lan chúng rất
khó ngăn chặn, những cây bị nhiễm thường bị hư rễ và gây mất mùa. Những cây này
sẽ bị nhổ bỏ và thay thế vào đó là cây hoa hồng hay oliu [17].
2.1.5. Năng suất
Ở nước ta mùa hoa lài từ tháng 4 đến tháng 10 ở miền Bắc, còn ở miền Nam
hoa lài có quanh năm.
Ở Pháp cũng như Italia mùa hoa lài bắt đầu từ cuối tháng 6 và kết thúc khoảng
đầu tháng 11, nếu thời tiết ấm áp và đủ ánh sáng thì năng suất cao nhất từ tháng 8 đến
tháng 10. Hoa được hái vào sáng sớm, sau 10 giờ sáng mùi hương dường như biến
mất. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học tại Pháp hoa được hái vào chiều tối chứa
lượng tinh dầu thấp hơn hoa được hái vào sáng sớm. Hoa hái vào tháng 8 (khoảng
8.000 – 10.000 hoa/kg) nặng hơn hoa hái vào tháng 10 (14.000 hoa/kg). Năm đầu tiên
năng suất hoa 1.200 – 2.000 kg/ha, năm thứ hai và những năm tiếp theo năng suất tăng
lên 3.000 – 4.000 kg/ha [10].
Năng suất thu hoạch trung bình của Pháp là 4 tấn/ha, còn ở Nga là
4 – 9 tấn/ha. Tổng sản lượng hoa lài ở miền Nam nước Pháp đạt tối đa vào năm 1927
7
với khoảng 1.500 tấn. Năm 1947 sản lượng thu được ở vùng Grasse lên đến 600 tấn.
Năm 1912 ở Ai Cập đạt 100 tấn hoa mỗi năm, còn ở Italia sản lượng hàng năm hiện
nay lên đến 500 tấn hoa [10].
Ở Morocco hoa lài được thu hái vào đầu tháng 6 và kết thúc giữa tháng 12,
năng suất khoảng 6.000 kg/ha. Tại Italia năng suất này chỉ khoảng 4.500 –
5.500 kg/ha [10].
2.1.6. Công dụng
Hương lài đã được ứng dụng trong việc gia hương trà:
trà lài gói sản xuất thử nghiệm theo dự án Bộ Công Nghiệp
nhẹ năm 1994 – 1996, trà lài túi lọc sản xuất tại TP. Hồ Chí
Minh năm 1997 – 1998.
Hoa lài ứng dụng trong sản xuất xà phòng lài có mùi
thơm dịu và bền tại nhà máy xà phòng Hà Nội năm 1994 [9].
Lá lài có vị cay tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, hoa lài có
thể chữa cảm sốt, đầy bụng, rễ lài chữa mất ngủ và giảm đau. Hoa lài 6 – 12 g phối
hợp với lá dây chè, lá ngấy hương hay lá ngấy tía (mỗi thứ 20 g) sắc uống lúc thuốc
còn nóng để chữa đầy bụng [6].
Ở Trung Quốc Jasminum paniculatum được sử dụng cùng với Jasminum
sambac , 5 g Jasminum paniculatum với 15 g Jasminum sambac để tạo mùi hương cho
trà, 20 g hỗn hợp dùng cho 50 g trà.
Người Trung Quốc, Ai Cập và Ấn Độ đã sử dụng hoa lài để làm thuốc chống
suy nhược thần kinh và chất kích thích, những người Hindu xâu hoa lài thành vòng để
đeo vào cổ sử dụng trong nghi lễ tôn giáo. Người
Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng thân cây lài để làm dây
thừng. Trà lài được người Trung Hoa rất ưa thích
và ở Indonesia nó dùng để trang trí rất phổ biến
[17].
Các nhà khoa học thuộc trường đại học
Wheeling Jesuit, Mỹ phát hiện rằng nếu như có
một ít hương lài trong phòng ngủ của bạn, bạn sẽ
ngủ ngon hơn và tỉnh táo hơn khi thức dậy [6].
Hình 2.4. Trà lài
Hình 2.5. Nước hoa hương lài
8
Tinh dầu hoa lài được dùng để sản xuất các loại nước hoa nổi tiếng đồng thời sử
dụng để pha trộn làm dầu massage hoặc pha loãng để tắm, làm giảm căng thẳng thần
kinh, stress và trạng thái bồn chồn [17].
Tinh dầu hoa lài giúp cho sự sinh đẻ được dễ dàng, làm giảm co thắt dạ con và
xoa dịu sự đau đớn. Vì mùi thơm tự nhiên dịu dàng và dễ chịu nên tinh dầu hoa lài
được sử dụng để giải quyết các vấn đề như sự bất lực và bệnh lãnh cảm.
Tinh dầu hoa lài thích hợp với da khô, da nhờn, da bị kích thích và da nhạy
cảm, làm gia tăng tính đàn hồi và thường được sử dụng để làm căng những vết lằn và
thẹo.
Giải quyết các vấn đề về hô hấp như xoa dịu cơn ho, tình trạng khàn giọng và
viêm thanh quản. Làm giảm sự đau nhức cơ và bong gân.
Jasminum angustifolium ở Ấn Độ có rễ đắng, được trộn lẫn với rễ của Acorus
calamu (cây thạch xương bồ), rất có giá trị trong việc chữa bệnh ecpet mảng tròn [17].
2.2. KHÁI QUÁT VỀ TINH DẦU
2.2.1. Sơ lƣợc về tinh dầu
Tinh dầu (còn gọi là tinh du hay hương du) là những chất có mùi thơm hoặc
những chất có mùi hắc khó chịu mà ta có thể chế từ các loại thực vật như: tinh dầu hoa
hồng, tinh dầu hoa lài, tinh dầu bạc hà, long não,…hay lấy từ các loài động vật như:
tinh dầu cà cuống, xạ hương,… [4].
Tinh dầu là một hỗn hợp nhiều chất dễ bay hơi, có mùi đặc trưng tùy thuộc vào
nguồn gốc nguyên liệu cung cấp tinh dầu. Trong thiên nhiên tinh dầu ở trạng thái tự do
và chỉ một số ít ở trạng thái tiềm tàng. Trong thực vật tinh dầu được tạo ra và tích trữ
trong các mô, những mô này có thể hiện diện ở tất cả mọi nơi trong cơ thể thực vật
như rễ, thân,lá, hoa và trái…dưới những tên gọi khác nhau như tế bào, túi, lông và ống
[4].
Tinh dầu có độ sôi cao (150
o
C – 250
o
C) nhưng dễ bay hơi ở nhiệt độ thấp. Tinh
dầu thường là những chất nhẹ hơn nước nên khi ta chưng cất hay đổ tinh dầu vào nước
thì tinh dầu nổi lên trên. Cũng có một số tinh dầu nặng hơn nước như tinh dầu đinh
hương, tinh dầu quế…Khi chưng cất những tinh dầu này nằm ở phía dưới đáy bình
chưng cất [4].
Tinh dầu không tan trong nước hay chỉ tan rất ít, cho nên khi hòa lẫn với nước
tinh dầu nổi lên trên hay chìm xuống. Tinh dầu tan trong một số dung môi hữu cơ như
9
cồn 90
o
, ether, chloroform, benzen, dầu mỡ,…cho nên ta có thể dùng các dung môi
này để chiết lấy tinh dầu [4].
Tinh dầu thường không có màu hoặc có màu vàng nhạt, một số tinh dầu màu rất
sẫm như tinh dầu ngải cứu có màu xanh lơ, tinh dầu quế có màu nâu thẫm, tinh dầu
thạch xương bồ có màu đỏ sẫm [4].
Dưới ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng, không khí, nước, tinh dầu dễ bị oxy
hóa và một phần biến thành nhựa. Tỷ lệ tinh dầu chứa trong cây không cao, có những
tinh dầu tỷ lệ rất thấp nên rất đắt. Tỷ lệ trung bình trong một số loại cây có tinh dầu
[4]:
Bạc hà : 0,1 % (tươi)
Hoa hồng: 0,03 % (tươi)
Hoa lài: 0,1 – 0,35 % (tươi)
Hương bài: 1,2 – 2,5 % (rễ khô)
Màng tang: 3,9 – 6 % (quả khô)
2.2.2. Các dạng sản phẩm trong quá trình ly trích tinh dầu
2.2.2.1. Tinh dầu dạng cô kết (concrete)
Sản phẩm thu được từ phương pháp ngâm chiết tĩnh, chủ yếu là dùng để sản
xuất nước hoa thô. Đây là sản phẩm chưa loại sáp và chất béo, có dạng sệt có thể được
sử dụng trực tiếp [5].
2.2.2.2. Tinh dầu tinh khiết (absolute)
Sản phẩm này được thu bằng cách chiết kiệt những sản phẩm cô kết bằng một
lượng ethanol vừa đủ rồi làm lạnh đột ngột (15
o
C) để tủa và lọc để loại sáp và chất
béo. Phần dịch thu được đem cô quay chân không loại ethanol thu được tinh dầu tinh
khiết [5].
2.2.2.3. Nƣớc chƣng
Là phần nước còn lại sau khi lóng, gạn thu tinh dầu trong phương pháp chưng
cất lôi cuốn hơi nước của các loại tinh dầu có giá trị cao và có thể xem như một sản
phẩm trong kỹ nghệ hương liệu [5].
2.2.2.4. Nhựa dầu tự nhiên
Dạng này được thu trực tiếp từ phần gỗ của thân cây đang sống, từ nhựa này
người ta chưng cất hơi nước để lấy tinh dầu [5].
10
2.2.2.5. Nƣớc hoa
Là sản phẩm phối hợp đa dạng của tinh dầu thiên nhiên hay tinh dầu tổng hợp
hoặc bán tổng hợp hòa tan trong cồn, ngoài ra còn có chất định hương. Mỗi thành phần
trong nước hoa đều được chuẩn độ rất chính xác các yếu tố như độ bay mùi, cường độ
và độ bền của mùi hương [5].
2.3. TINH DẦU HOA LÀI
2.3.1. Tinh dầu hoa lài
Tinh dầu hoa lài thiên nhiên gồm 2 sản phẩm: tinh dầu hoa lài dạng cô kết
(Jasmine concrete) và tinh dầu hoa lài dạng tuyệt đối (Jasmine absolute) – là nguyên
liệu làm chất thơm của công nghệ sản xuất các loại trà, dược phẩm, mỹ phẩm, bên
cạnh đó tinh dầu hoa lài là một trong năm thành phần quan trọng nhất không thể thiếu
trong kỹ thuật phối hương.
Hoa lài cho mùi hương ngọt, ấm dịu với thành phần hóa học gồm nhiều cấu tử
đã chinh phục được các nhà phối hương. Ở Châu Âu tinh dầu hoa lài được dùng trong
ngành sản xuất nước hoa. Nhà nghiên cứu C.Martin đã từng nói: “Nếu không thể phủ
nhận được hoa hồng là nữ hoàng của các loại hương thơm thì hoa lài là vua của các
loại này” [6].
Do sự đa dạng về thành phần hóa học mà tinh dầu hoa lài có mùi đặc trưng và
phức tạp. Nó là hỗn hợp nhiều đơn hương, sự tạo thành các đơn hương này phụ thuộc
vào các yếu tố địa lý, khí hậu, điều kiện bảo quản cũng như kỹ thuật ly trích tinh dầu.
Vài đơn hương trong tinh dầu hoa lài: [6]
Hexanol và ester của hexanil: mùi cỏ
Cresol và indol: mùi động vật
Eugenol: mùi đặc trưng của hạt
Z-jasmon và jasmonat methyl: mùi quả
Cis - - jasmolacton: mùi hoa tím
Anthranilate methyl: mùi tương tự hoa cam
Ngoài ra một số chất sẽ đóng vai trò của chất định hương như phyton, ester phytil, acid
béo và ester của nó. Sự xuất hiện của các chất như piridin, quinolin sẽ tạo nên các mùi
đặc trưng khác trong tự nhiên.
11
2.3.2. Năng suất tinh dầu
Viện nghiên cứu Công nghiệp Thực phẩm TP. HCM đã nghiên cứu chiết xuất
hương lài năm 1992 ở miền Bắc và miền Nam cho thấy hương lài Việt Nam có chất
lượng tương đương hương lài thế giới với hiệu suất đạt trung bình 0,2 % – 0,3 %, nếu
năm nào thời tiết tốt thu hái đúng chế độ thì hiệu suất còn cao hơn nhiều. [9]
Theo Naves và Mazuyer (1939), 1.000 kg hoa lài tách chiết với petroleum ether
thu được 2,8 – 3,4 kg cô kết (concrete). Theo nghiên cứu của Girard (1947), năng suất
cô kết của hoa lài miền Nam nước Pháp khoảng 0,28 % – 0,3 %. Trong báo cáo gần
đây của Face năng suất cô kết của hoa lài vùng Sicily và Calabria ít khi dưới 0,3 %,
thông thường khoảng 0,33 % [10].
Năng suất cô kết phụ thuộc vào một số yếu tố như thời tiết, tháng thu hoạch và
thời gian hái hoa trong ngày. Theo Rovesti (1928), năng suất này đạt tối đa vào nửa
cuối tháng 8 và đầu tháng 9, hoa hái vào 6 – 10 giờ sáng năng suất cô kết gấp đôi hoa
hái vào buổi chiều [10].
La Face (1948) đã theo dõi năng suất cô kết của hoa lài trong các tháng khác
nhau:
Bảng 2.1. Năng suất cô kết hoa lài theo tháng
Tháng Năng suất (%)
6 0,3273
8 0,3322
9 0,3200
10 0,3180
11 0,3000
2.3.3. Thành phần hóa học tinh dầu hoa lài
Đối với hoa lài Việt Nam, viện nghiên cứu Công nghiệp Thực phẩm Tp. HCM
sơ bộ xác định được một số thành phần hóa học chính như sau [9]:
12
Bảng 2.2. Hàm lượng (%) các chất trong tinh dầu hoa lài miền Bắc và miền Nam
Linalol
Benzyl
acetate
Geraniol Indole
Methylanthra
-nilate
Linalyl
Acetate
Hoa lài
miền Bắc
(3 tuổi)
9,035 11,23 2,22 3,37
Hoa lài
miền Nam
(3 tuổi)
0,593 6,96 2,8 0,179 2,8 0,179
Theo Hesse và Muller (1899), thành phần hóa học tinh dầu hoa lài thu được từ
phương pháp hấp thụ bao gồm [10]:
Bảng 2.3. Thành phần tinh dầu hoa lài ly trích bằng phương pháp hấp thụ
Tên chất Hàm lượng (%)
Benzyl Acetate
d- Linalool
Linalyl acetate
Benzyl alcohol
Jasmone
Indole
Methyl anthranilate
6,5
15,5
7,5
6,0
3,0
2,5
0,5
Naves và Grampoloff (1942) đã xác định thành phần hóa học tinh dầu hoa lài
vùng Sicily và Calabria nước Italia như sau [10]:
13
Bảng 2.4. Thành phần tinh dầu hoa lài vùng Sicily và Calabria.
Stt Tên chất
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Benzyl benzoate
Nerol
l- - Terpincol
d- Linalool
dl- Linalool
Farnesol
Nerolidol
Rượu (C
18
H
34
O)
Eugenol
p- Cresol
Benzaldehyde
Jasmone
Indole
Ketone (C
12
H
36
O
3
)
Benzoic acid
Methyl anthranilate
2.3.4. Đặc tính tinh dầu hoa lài
Cô kết (concrete) của hoa lài là một dịch đỏ nâu, chứa sáp. Theo Naves và
Mazuyer, “concrete” của hoa lài từ vùng Grasse có các đặc tính lý hóa sau [10]:
Điểm đông đặc: 47
o
C – 51
o
C
Điểm nóng chảy: 49
o
C – 52
o
C
Chỉ số acid: 9,8
o
C – 12,8
o
C
Chỉ số ester: 68
o
C – 105
o
C
Tinh dầu hoa lài tinh khiết (absolute) là chất lỏng sền sệt, màu nâu vàng, tan
trong cồn 95 %. Naves và Mazuyer (1939) đã báo cáo một số tính chất của tinh dầu
hoa lài tinh khiết như sau [10]:
Tỉ trọng: 0,929 – 0,955
Độ quay cực: + 2
o
36’ – +4
o
95’
Chỉ số khúc xạ ở 20
o
: 1,4822 – 1,4935
Chỉ số acid: 4,2 – 17,2
14
Chỉ số ester: 96,4 – 147,6
2.4. CÁC PHƢƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT TINH DẦU
Tùy thuộc vào tính chất nguyên liệu và các tính chất của tinh dầu mà sử dụng
các phương pháp tách chiết khác nhau. Dù bằng phương pháp nào người ta phải dựa
vào một số tính chất quan trọng của tinh dầu như:
Tính bay hơi của tinh dầu.
Tính hòa tan trong trong hơi nước của tinh dầu.
Tính bay hơi theo hơi nước của tinh dầu ở các điều kiện nhiệt độ thích hợp.
Tính hòa tan trong dung môi hữu cơ bay hơi và không bay hơi của tinh dầu.
Dễ bị hấp thu ngay ở thể khí.
Sản phẩm tinh dầu thu được phải đạt một số yêu cầu sau:
Tinh dầu thu được có hương vị tự nhiên của nguyên liệu ban đầu.
Quy trình kỹ thuật và phương pháp ly trích tinh dầu nhằm khai thác hết tinh dầu
trong nguyên liệu với chi phí đầu tư thấp nhất [5].
2.4.1. Phƣơng pháp ly trích tinh dầu bằng dung môi dễ bay hơi
Dung môi dùng trong phương pháp này đạt được những yêu cầu sau:
Hòa tan hoàn toàn và nhanh chóng các cấu phần có mùi thơm trong nhiên liệu.
Hòa tan kém các hợp chất khác như sáp, nhựa dầu có trong nguyên liệu.
Không có tác dụng hóa học với tinh dầu.
Không biến chất khi sử dụng lại nhiều lần.
Hoàn toàn tinh khiết, không có mùi lạ, không độc, không ăn mòn thiết bị,
không tạo hỗn hợp nổ với không khí và có độ nhớt kém.
Điểm sôi của dung môi thấp hơn điểm sôi của cấu tử dễ bay hơi nhất trong tinh
dầu.
Thông thường không có loại dung môi nào phù hợp với tất cả các yêu cầu trên,
người ta sử dụng dung môi không tan trong nước như petroleum ether, diethyl ether,…
hay dung môi tan trong nước như ethanol, aceton,…[5].
Nguyên liệu được ngâm vào dung môi trong bình chứa và được xáo trộn đều
trong suốt thời gian ly trích. Giữ cho hoa chìm trong dung môi từ 12 – 48 giờ, ngâm
như vậy từ 10 – 15 đợt hoa cho một lượt dung môi. Sau khi quá trình tẩm trích kết
thúc, dung dịch ly trích sẽ được tách nước ra khỏi dung dịch rồi làm khan bằng
Na
2
SO
4
và lọc. Loại bỏ dung môi ra khỏi sản phẩm bằng phương pháp chưng cất dưới
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét