Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các cơng trình cơng ích, hoặc làm cơng cụ điều tiết tiền
tệ.Trái phiếu chính phủ là loại chứng khốn khơng có rủi ro thanh tốn và cũng là loại trái
phiếu có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là
lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các cơng cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.
Trái phiếu chính phủ gồm những loại sau: Cơng tri, TP cơng trình, TP kho bạc di hạn,
TP đảm bảo bằng tài sản thế chấp, TP nghĩa vụ chung, TP thuế hạn chế, TP quốc tế.
- Trái phiếu cơng trình: là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những
mục đích cụ thể, thường là để xây dung những cơng trình cơ sở hạ tầng hay cơng trình phúc lợi
cơng cộng. Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát
hành.
- Trái phiếu cơng ty: là các trái phiếu do các cơng ty phát hành để vay vốn dài hạn.Trái
phiếu cơng ty có đặc điểm chung sau:
Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song khơng được tham dự vào các
quyết định của cơng ty. Nhưng cũng có loại trái phiếu khơng được trả lãi định kỳ, người mua
được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá. Khi cơng ty giải thể hoặc
thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh tốn trước các cổ phiếu. Có những điều kiện cụ thể kèm
theo, hoặc nhiều hình thức đảm bảo cho khoản vay.
Trái phiếu cơng ty bao gồm những loại sau:
+ Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể,
thường là bất động sản và các thiết bị. Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ
cao trong trường hợp cơng ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể.
+ Trái phiếu khơng bảo đảm: Trái phiếu tín chấp khơng được đảm bảo bằng tài sản mà
được đảm bảo bằng tín chấp của cơng ty. Nếu cơng ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu
này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ động. Các trái phiếu
tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu
thường của cơng ty phát hành. Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào
bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định.
Ngồi những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó. Cụ thể là:
+ Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khốn trước khi
đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người
đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng
thời hạn.
+ Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái
phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong trường hợp này
thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu
khác có cùng thời hạn.
+ Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu
thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của
cơng ty. Loại trái phiếu này thuộc vào nhóm hàng hố chứng khốn có thể chuyển đổi được đề
cập tới dưới đây.
3.3. Theo thời gian đáo hạn:
+ Tp ngắn hạn: thời hạn 1 đến 5 năm:
+ TP trung hạn: thời hạn 5 đến 15 năm
+ TP dài hạn: trên 15 năm.
+ TP vơ hạn: khơng ghi ngày đáo hạn
3.4. Căn cứ theo phương thức trả lãi
+ Tp lợi tức
+ Tp chiết khấu
3.5. Căn cứ theo phạm vi lưu thơng
+ Tp quốc nội
+ Tp quốc tế
4. Điều kiện phát hành
Đối với chủ thể phát hành là doanh nghiệp phải hội đủ những điều kiện sau:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Là cơng ty cổ phần, cơng ty TNHH, DNNN có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm
đăng ký phát hành là 10 tỷ đồng VN.
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi, đồng thơi
khơng có lỗ luỹ kết đến năm đăng ký chào bán, khơng có các khoản nợ phải trả q hạn trên 1
năm.
- Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả vốn thu được từ đợt phát hành trái
phiếu.
- Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện
phát hành, thanh tốn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện
khác.
II. Thị trường trái phiếu
1. Khái niệm
Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển
vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài
chính là cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Thị trường trái phiếu là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và
phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến mơi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói
chung.
2. Phân loại thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
2.1. Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các trái phiếu mới phát hành. Trên thị trường
này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thơng qua việc nhà đầu mua các trái
phiếu mới phát hành
Vài trò của thị trường sơ cấp
- Trái phiếu hóa các nguồn vốn cần huy động, vốn của cơng ty được huy động qua việc
phát hành chứng khốn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Thực hiện q trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhà rỗi tạm thời
trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền san dạng vốn dài hạn.
Đặc điểm của thị trường sơ cấp
- Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các trái phiếu đem lại vốn cho người phát hành.
Là trhị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường
giao dịch. Trên bình diện tồn bộ nền kinh tế, thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư.
- Những người bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho bạc,
Ngân hàng Nhà nước, cơng ty phát hành, tập đồn bảo lãnh phát hành,
- Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khốn nhất định, trong
thời gian hạn định.
2.2. Thị trường thứ cấp
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị trường sơ
cấp. Là thị trường chuyển nhượng quyền nhượng quyền sở hữu trái phiếu. Thị trường thứ cấp
đảm bảo tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành.
Đặc điểm thị trường thứ cấp
- Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán trái phiếu thuộc về các
nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ khơng thuộc về nhà phát hành. Nói cách khác,
các luồng vốn khơng chảy vào những người phát hành trái phiếu mà vận chuyển giữa những
người đầu tư trái phiếu trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị
trường trái phiếu, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp.
- Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ảnh ngun tắc cạnh tranh tự do, giá trái phiếu
trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định.
- Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua và
bán các chứng khốn nhiều lần trên thị trường thứ cấp.
2.3. Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường thứ
cấp vì đó là nơi cung cấp hàng hóa trái phiếu trên thị trường thứ cấp. Khơng có thị trườngsơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
cấp thì khơng thể có sự xuất hiện của thị trường thứ cấp. Thị trường thứ cấp là một lọai thị
trường đặc biệt, nó khơng thể ra đời chừng nào vẫn chưa có một thị trường sơ cấp rộng rãi,
vững chắc với nhiều loại trái phiếu đa dạng, phong phú, hấp dẫn nhiều nhà đầu và cơng chúng
đến bỏ vốn ra để đầu tư trái phiếu.
Ngược lại, thị trường thứ cấp đến lượt nó là động lực, là điều kiện cho sự phát triển của
thị trường sơ cấp, vì một khi trái phiếu đã được phát hành ra trên thị trường, nếu khơng có một
thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo ra tính thanh khoản cho trái phiếu thì thật
khó có thể thuyết phục nhà đầu tư bỏ tiền ra mua trái phiếu.
Chính việc mua bán giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp làm cho lưu động hóa
vốn đầu tư, các nhà đầu tư có thể chuyển từ trái phiếu thành tiền mặt.
Vốn khả dụng thanh khoản cao của trái phiếu mà tính chất năng động của thị trường thứ
cấp đã hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ tiền ra mua trái phiếu. Điều này chính là điều kiện cơ bản để
các nhà phát hành trái phiếu có thể bán được trái phiếu trên thị trường sơ cấp và huy động được
nguồn vốn lớn theo nhu cầu.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT
NAM

I. Nhận xét chung về Thị trường trái phiếu VN.
Hiện nay thị trường trái phiếu Việt Nam mới trong giai đoạn đầu phát triển với sự tồn tại
của thị trường trái phiếu Chính phủ. Dư nợ trái phiếu còn rất thấp (khoảng 7% GDP) so với các
thị trường trong khu vực (Trung Quốc 21%, Thái Lan 33%, Malaysia 62%), chủ thể phát hành
khơng đa dạng, chưa có hệ thống các nhà tạo lập thị trường và hệ thống giao dịch, thanh tốn
còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, một thị trường để giúp hai đối tượng rất quan trọng là doanh
nghiệp và chính quyền địa phương huy động vốn lại hầu như chưa tồn tại. Để đạt được mục
tiêu tăng trưởng kinh tế bình qn 7,5%/năm trong giai đoạn 2000 - 2010, nhu cầu vốn đầu tư
của tồn bộ nền kinh tế là rất lớn, khoảng 30 - 35% GDP/năm. Do đó, hiện nay Việt Nam đang
triển khai hàng loạt các biện pháp nhằm phát triển thị trường trái phiếu nội địa, đặc biệt là tạo
kênh huy động vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp và các chính quyền địa phương trong bối
cảnh Việt Nam thực hiện cải cách kinh tế theo hướng xố bỏ bao cấp của nhà nước cho khu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
vực doanh nghiệp và phân cấp ngân sách cho chính quyền địa phương.
II. Thực trạng Thị trường trái phiếu trong nước hiện nay
2.1 Các chủ thể phát hành trái phiếu hiện nay
- Chính phủ: Chính phủ phát hành trái phiếu nhằm thu hút vốn cho đầu tư phát triển, xây
dựng cơ sở hạ tầng, các cơng trình trọng điểm quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế.
- Chính quyền địa phương: Chủ yếu cho các địa phương huy động vốn phục vụ cho việc
xây dựng các cơng trình cơ sở vật chất hạ tầng tại địa phương của mình, chủ yếu phát hành
thơng qua cơng chúng của chính địa phương đó thơng qua KBNN.
- Ngân hàng thương mại: Các ngân hàng thương mại phát hành trái phiếu nhằm huy
động vốn trung dài hạn, đáp ứng nhu cầu kinh doanh, cho vay tín dụng của ngân hàng.
- Doanh nghiệp: Các doanh nghiệp tham gia thị trường vói tư cách là nhà phát hành trái
phiếu trên thị trường sơ cấp, doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhằm huy động vốn, đáp ứng
nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh.
2.2. Phân tích thực trạng thị trường trái phiếu VN hiện nay
- Trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước: Hàng hố giao dịch trên thị
trường trái phiếu chủ yếu là Trái phiếu Chính phủ nên chưa tạo được sức hấp dẫn cho nhà đầu
tư.
Trong khi thị trường CP có nhiều phát triển vượt bậc thì thị trường TP đang "bò đi" từng
bước. Nhiều đợt đấu giá TP CP gần đây mặc dù khối lượng đăng ký đấu thầu tương đối cao,
bình qn gấp 3 lần khối lượng gọi thầu, nhưng tỉ lệ thành cơng lại có xu hướng giảm dần. Cụ
thể, q I/2007 tỉ lệ thành cơng đạt 99%; q II/2007 giảm xuống 82,46% và đến cuối q
III/2007 giảm còn 58,39%. Ngun nhân chủ yếu do việc đưa ra mức lãi suất trần thấp, chỉ
7,05 - 7,8%/năm (có đợt chỉ là 6,5%/năm) đối với TP kỳ hạn 5 năm; 7,95% - 8,6%/năm đối với
TP kỳ hạn 10 năm; 8 - 8,8%/năm đối với TP kỳ hạn 15 năm, trong khi kỳ vọng về lãi suất của
NĐT ngày một cao, xuất phát từ việc tăng dự trữ bắt buộc từ 5% lên 10%.Cùng với sự ra đời
của hai trung tâm giao dịch chứng khốn là tại Tp.HCM và Hà Nội, các trái phiếu chính phủ
phát hành bằng đồng nội tệ cũng bắt đầu được giao dịch một cách rộng rãi hơn so với trước đây
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nhưng vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư có tổ chức, do đó, khối lượng giao
dịch rất ít.Điều này có thể bắt nguồn từ quy mơ của thị trường, cơ sở vừa yếu vừa thiếu của hạ
tầng thanh tốn trong hệ thống tài chính Việt Nam. Cụ thể bao gồm một số điểm sau:Trước hết,
quy mơ của trái phiếu nói chung và trái phiếu chính phủ nói riêng hiện chiếm tỉ lệ rất thấp trong
tổng tài sản tài chính cả nước với chỉ bằng 8% so với GDP, con số này khoảng 5 tỷ USD rất
nhỏ bé nếu so với mức đủ để đạt tính thanh khoản 100-200 tỷ USD.Huy động vốn thơng qua
loại hình trái phiếu hiện chưa phải là kênh phổ biến mà chủ yếu là thơng qua hệ thống ngân
hàng với tổng tài sản chiếm đến 80% cơ cấu tài sản tài chính. Điều này tạo sự bất cân xứng
trong kỳ hạn huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng, thiếu một kênh huy động vốn
dài hạn để phục vụ cho các mục tiêu phát triển lâu dài. Cả hai yếu tố này đều góp phần làm
tăng chi phí vốn cho nền kinh tế.
Mặt khác, lượng trái phiếu phát hành bằng đồng nội tệ hiện chủ yếu được giao dịch hoặc
nắm giữ bởi các ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính tương đương cũng làm cản trở sự phát
triển của thị trường trải phiếu. Điều này tạo sự đơn điệu trong danh mục đầu tư, dẫn đến giá trái
phiếu có mức biến động đáng kể khi các nhà đầu tư này thực hiện bán ra hoặc mua vào.
Khối lượng phát hành mỗi đợt tương đối nhỏ chỉ khoảng 20 - 30 triệu USD/đợt khó thu
hút sự chú ý của các nhà đầu tư có tổ chức và vì vậy cũng làm giảm sức hấp dẫn của trái phiếu
chính phủ.
Thể chế pháp luật còn thiếu các qui định cần thiết nên hạn chế sử dụng các cơng cụ bảo
hiểm rủi ro như hốn đổi lãi suất, mua bán kỳ hạn hay tái mua lại nhằm giúp nhà đầu tư có thể
bảo vệ rủi ro cho mình.
Hệ thống thanh tốn chưa có sự liên thơng giữa các thị trường trong khu vực, dẫn đến
nhà đầu tư gặp khó khăn khi giao dịch xun biên giới và điều này cũng làm cho nhà đầu tư
khơng mặn mà mấy với loại hình chứng khốn này.
Tuy vậy, những đợt phát hành vừa qua cho thấy nhu cầu của nhà đầu tư đang rất quan
tâm đến thị trường trái phiếu chính phủ phát hành bằng đồng nội tệ, khối lượng đặt mua thường
từ 2000 - 3000 tỷ VND, gấp 4 - 5 lần mức phát hành.
Rất may là xu hướng này đang dần được khắc phục (với lãi suất trái phiếu phát hành
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đang giảm dần trong những đợt gần đây, từ 7.9% đợt 1/2007 xuống còn 7.2% trong đợt
5/2007). Điều này có thể thấy rõ qua định mức tín nhiệm quốc gia được các tổ chức trên thế
giới nâng lên cao hơn so với trước.
Tính đến 30-9-2007, đã có hơn 114.809 tỉ đồng trái phiếu được niêm yết giao dịch trên
Sở GDCK TPHCM (HOSE) và Trung tâm GDCK Hà Nội (HASTC), tăng gấp hơn 104 lần so
với giá trị niêm yết năm 2000. Bên cạnh trái phiếu Chính phủ niêm yết với tỷ trọng trên 90%
tổng giá trị trái phiếu niêm yết còn có trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu của các
ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, mức vốn hóa thị trường trái phiếu hiện nay khoảng 8% GDP là khá thấp nếu
như so sánh với thị trường trái phiếu của các nước trong khu vực (bình qn khoảng 50-70%,
trừ Nhật Bản trên 100% GDP ). Điều đó có nghĩa là kênh huy động vốn của Chính phủ thơng
qua thị trường trái phiếu để đáp ứng nhu cầu đầu tư của ngân sách còn hạn chế và vì vậy cần có
sự đầu tư thích đáng hơn cho thị trường này.
Trên thị trường trái phiếu Chính phủ hiện nay, được chào đón và thu hút nhiều nhất các
nhà đầu tư là trái phiếu phát hành bằng ngoại tệ trên thị trường quốc tế.VN đã tăng gấp rưỡi
lượng trái phiếu phát hành, lên 750 triệu USD trị giá trái phiếu thay vì 500 triệu USD như dự
tính ban đầu được giao dịch ở thị trường này. Lãi suất trái phiếu Chính phủ trong đợt phát hành
này đã được điều chỉnh giảm xuống mức 7,125%, thay cho mức dự tính ban đầu là 7,250%. Lãi
suất này cao hơn so với Trái phiếu kho bạc Mỹ là 4,561%/trái phiếu 10 năm.Đây là bước đầu
tiên giúp VN bước chân vào thị trường tài chính quốc tế. Điều đáng mừng là cầu trái phiếu này
cao hơn mong đợi rất nhiều. Các nhà đầu tư quốc tế đã đưa ra các đề nghị đặt mua với tổng số
lên tới 4,5 tỷ USD, cao gấp 6 lần trị giá chào, để dành quyền mua số trái phiếu nói trên.Theo
thống kê ban đầu của Ngân hàng Credit Suisse First Boston, các nhà đầu tư đặt mua lớn trái
phiếu VN chủ yếu đến từ châu Á, châu Âu và tại nước Mỹ. Một nửa trong số đó là các hãng
quản lý tài sản. Các ngân hàng và hãng bảo hiểm cũng chiếm phần lớn.Sự đón nhận nhiệt tình
đến bất ngờ đó được nhận định là do nhiều ngun nhân từ chính VN. Thứ nhất, các nhà đầu tư
quốc tế tin tưởng vào tương lai sáng sủa của nền kinh tế VN sau khi chứng kiến hơn 10 năm
đổi mới vừa qua. Đến nay, hầu như tồn thế giới biết đến cơng cuộc cải cách đổi mới ở VN.
UNDP còn coi VN là một trong những ví dụ thành cơng nhất về chuyển đổi kinh tế trong lịch
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
sử đương đại, đổi mới làm thay đổi gần như tất cả mọi mặt của cuộc sống kinh tế. Thứ hai, các
nhà đầu tư tỏ ra lạc quan với việc VN được coi là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn
định thứ hai châu Á, chỉ sau Trung Quốc. Bên cạnh đó, phải kể đến việc sụt giảm lòng tin của
nhà đầu tư đối với trái phiếu cùng loại của Indonesia và Phillipines do tình hình kinh tế chính
trị các nước này thời gian qua khơng ổn định lắm.Thứ ba, việc các tổ chức định mức tín nhiệm
quốc tế như gần đây liên tiếp nâng mức xếp hạng của VN cũng là một ngun nhân quan trọng.
S&P đã nâng mức tín nhiệm của VN từ BB- lên BB. Moody cũng nâng lên mức Ba3 trong khi
một tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế nổi tiếng khác là Fitch cũng xếp VN hạng BB
Số tiền thu được sẽ được bơm thêm vào nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh với tốc độ
trung bình từ 7 – 8% của Việt Nam, cùng với việc đầu tư nước ngồi đang tăng nhanh tại đây.
- Trái Phiếu chính quyền địa phương: Chủ yếu cho các địa phương huy động vốn
phục vụ cho việc xây dựng các cơng trình cơ sở vật chất hạ tầng tại địa phương của mình, chủ
yếu phát hành thơng qua cơng chúng của chính địa phương đó thơng qua KBNN.
Hiện nay, chỉ có hai địa phương là Hà nội và TP.HCM là thực hiện phát hành trái phiếu
chính quyền địa phương thường xun, với số lượng lớn nhằm huy động vốn đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng, các cơng trình phúc lợi tại địa phương.
- Trái Phiếu doanh nghiệp: Sau khi Chính phủ ban hành nghị định 120/CP ngày
17/9/1994 về phát hành cổ phiếu, trái phiếu của doanh nghiệp nhà nước, thị trường trái phiếu
bắt đầu manh nha hình thành. Tuy nhiên, phải đến năm 1996, thị trường trái phiếu doanh
nghiệp mới có những bước đột phá mới, khởi đầu bằng việc Cơng ty Cổ phần Cơ điện lạnh
(REE) huy động được 5 triệu USD.
Năm 1998, Cơng ty Cổ phần Cơng nghệ thơng tin EIS huy động được 10 tỷ. Năm 2003,
Tổng cơng ty Dầu khí huy động được 300 tỷ; Tổng cơng ty Xi măng được 200 tỷ đồng; EVN
được 300 tỷ. Việc huy động vốn trên thị trường trái phiếu trong giai đoạn này hầu như chưa
phát triển. Các tổ chức phát hành chủ yếu là các tổ chức tín dụng và rất ít các doanh nghiệp
phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Năm 2006 đánh dấu một bước ngoặc mới cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt
Nam khi Nghị định 52/2006/NĐ-CP chính thức được ban hành. Theo đó, chủ thể phát hành trái
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
phiếu khơng chỉ là các doanh nghiệp Nhà nước như trước đây mà còn có các cơng ty TNHH,
cơng ty cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi với một ngun tắc chung là các
doanh nghiệp phải tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm và cơng khai minh bạch thơng tin.
Trong năm 2006, Cơng ty Cơng nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) huy động được
800 tỷ đồng, Tập đồn EVN: 5.000 tỷ đồng. Đến tháng 7/2007, Vinashin phát hành thêm được
3.000 tỷ đồng, Vilexim được 5 tỷ, Tổng cơng ty thép được 400 tỷ đồng, Vinaconex huy động
được 1.000 tỷ đồng.
Đối với DN, việc phát hành TP có nhiều ưu điểm so với phát hành CP. Phát hành TP
được nhiều DN lớn lựa chọn bởi nó giảm áp lực cho ban điều hành. Bên cạnh đó, nó cũng giúp
các DN giảm chi phí lãi so với việc đi vay và phát hành CP. Nếu huy động vốn thơng qua chào
bàn CP, DN thường hứa hẹn phải trả tỉ lệ cổ tức khoảng 15%/năm, thậm chí 20%/năm, muốn
đảm bảo mức cổ tức này thì lợi nhuận sau thuế của DN tối thiểu 20-25% vốn điều lệ.
Nếu chọn phương pháp vay NH, thì Cty sẽ phải chịu mức lãi suất bình qn 11-15% đối
với khoản vay có kỳ hạn trên 1 năm. Trong khi kênh huy động vốn bằng phát hành TP, lãi phải
trả cho trái chủ lớn nhất chỉ khoảng 10,5%/năm đối với TP coupon có kỳ hạn 5 năm. Hơn nữa,
lãi suất trả cho trái chủ hàng năm được tính như một khoản chi phí của DN (trong chi phí thuế),
nên DN sẽ giảm được áp lực về chi phí vốn trong q trình điều hành.
Mặt khác, phát hành CP thường gây hiệu ứng pha lỗng làm giảm thị giá CP, vì vậy huy
động vốn thơng qua phát hành TP sẽ được nhiều Cty lựa chọn như một phương pháp vẹn cả đơi
đường. Khơng chỉ là kênh huy động vốn có chi phí trả lãi thấp, phát hành TP còn đòi hỏi thời
gian ít hơn so với thời gian đi vay hoặc phát hành CP.
Hiện nay Nhà nước rất ưu ái trong việc phát hành TP DN nên chỉ mất khoảng 6 đến 8
tuần DN có thể hồn tất hồ sơ phát hành. Tuy nhiên, nếu đi vay NH hay phát hành CP, DN sẽ
mất nhiều thời gian hơn cho khâu chuẩn bị và xét duyệt hồ sơ. Phát hành TP cho phép DN huy
động được lượng vốn lớn. Nếu DN có nhu cầu trên 1.000 tỉ đồng thì họ có thể tiếp cận nguồn
vốn từ phát hành TP dễ dàng hơn so với việc đi vay hay phát hành CP.
Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện nay, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn được
đánh giá là hầu như chưa phát triển. Các nhà đầu tư chủ yếu “mua” và “giữ” trái phiếu tới khi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét