Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Xí nghiệp xây dựng số 2

1.4.1.Vốn cố định:
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền giá trị tài sản cố định ,sự vận động của nó
luôn gắn liền với sự vận hành và chu chuyển của tài sản cố định ,chính vì vậy để
có thể nghiên cứu sâu hơn vốn cố định trớc hết ta phải tìm hiểu những đặc điểm tài
sản cố định .
Tài sản cố định là những t liệu lao động chủ yếu của doanh nghiệp mà theo
quy định của nhà nớc nó phải thỏa mãn hai điều kiện :
-Thời gian sử dụng tối thiểu phải một năm trở lên
-Phải có giá trị đủ lớn theo quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng
thời kỳ (hiện nay là từ 5 triệu đồng trở lên)
Khi tham gia vào quá trình sản xuất tài sản cố bị hao mòn dần và giá trị của
nó (vốn cố định ) đợc dịch chuyển từng phần vào chi phí kinh doanh.Khác với đối
tợng lao động, tài sản cố định tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh vẫn giữ nguyên
hình thái vật chất ban đầu đến lúc hỏng.Tuỳ từng khu vực, từng quốc gia mà quy
định tài sản khác nhau và cũng nh vậy thì có nhiều tài sản cố định. Theo quy định
hiện hành của Việt Nam tài sản cố định bao gồm hai loại:
-Tài sản cố định hữu hình: Tài sản cố định hữu hình là t liệu lao động chủ
yếu, có hình thái vật chất , có giá trị lớn thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào
nhiều chu kỳ kinh doanh nhng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu.
Ví dụ: nhà cửa , thiết bị, máy móc,phơng tiện vận tải truyền dẫn
Tiêu chuẩn nhất định nhận biết tài sản cố định hữu hình: mọi t liệu lao động
là tài sản cố định có kết cấu độc lập hoặc là hệ thống bao gồm nhiều bộ phận tài
sản riêng lẻ liên kết với nhau, để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất
định mà nếu thiếu bất cứ bộ phận nào thì cả hệ thống không hoạt động đợc, nếu
đồng thời thoả mãn cả hai nhu cầu sau:
-Có thời gian sử dụng từ năm năm trở lên.
-Có giá trị từ năm triệu đồng trở lên.
Trờng hợp có một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết với nhau
trong mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ
phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện đợc chức năng hoạt động chính của nó,
5
mà yêu cầu quản lý đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản đó đợc coi là
một tài sản cố định hữu hình độc lập. Ví dụ nh khung và động cơ trong một máy
bay.
-Tài sản cố định vô hình:là những tài sản cố định không có hình thái vật chất
thể hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp.Ví dụ nh: chi phí sử dụng đất, Chi phí bằng phát minh
sáng chế
Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định vô hình:mọi khoản chi phí thực tế
doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nếu đồng thời thoả mãn cả hai điều kiện trên mà không thành tài sản
cố định hữu hình thì coi nh là tài sản cố định vô hình.
Theo chế độ hiện hành doanh nghiệp phân loại tài sản cố định theo tính chất
của tài sản cố định cụ thể là:
Tài sản cố định dùng cho mục đích sản xuất kinh doanh gồm:
+ Tài sản cố định hữu hình.
+Tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng.
Tài sản cố định doanh nghiệp bảo quản giữ hộ cho đơn vị khác hoặc giữ hộ
nhà nớc theo quyết định của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền.
Tuy nhiên tại quyết định1062 TC/QĐ/CSTC/ ngày 14/11/1996 của Bộ tài
chính về việc ban hành chế độ quản lý, sử dụng và khấu hao tài sản cố định cũng
có quy định riêng nh sau:
Tuỳ theo yêu cầu quản lý doanh nghiệp tự phân loại chi tiết các tài sản cố
định theo từng nhóm cho phù hợp.
Việc nghiên cứu cơ cấu vốn cố định có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá
trình quản lý và sử dụng vốn cố định. Khi nghiên cứu cơ cấu vốn cố định chúng ta
phải xét trên hai góc độ nội dung kế hoạch và quan hệ của mỗi bộ phận so với toàn
bộ. Vấn đề cơ bản là phải xây dựng một cơ cấu vốn nói chung và cơ cấu vốn cố
định nói riêng cho phù hợp, hợp lý với đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất, phù
hợp với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý để tạo điều kiện
6
tiền đề cho việc sử dụng và quản lý vốn một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
Thông qua quá trình tìm hiểu về tài sản cố định ở trên ta có thể đa ra kết
luận vốn cố định là biểu hiện bằng tiền giá trị của tài sản cố định,sự vận động của
vốn cố định chính là sự vận động giá trị tài sản cố định, trong quá trình sản xuất
kinh doanh nó sẽ luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và
hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Vốn cố
định là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong vốn kinh doanh của doanh
nghiệp .Vì vậy doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tr-
ớc hết doanh nghiệp phải làm tốt công quản lý , tổ chức phân bổ và sử dụng vốn cố
định.
1.4.2.Vốn lu động:
Nếu mỗi doanh nghiệp chỉ có vốn cố định điều đó sẽ không đảm bảo chu kỳ
sản xuất kinh doanh đợc bình thờng, nh vậy phải có vốn lu động, đó là nguồn vốn
hình thành trên tài sản lu động, là lợng tiền ứng trớc để có tài sản lu động. Khác
với tài sản cố định, tài sản lu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh
doanh và chuyển dịch một lần toàn bộ giá trị vào sản phẩm tạo nên thực tế sản
phẩm Đặc điểm của tài sản lu động và tài sản cố định lúc nào cũng nhất trí với
nhau do đó phải giảm tối thiểu sự chênh lệch thời gian này để tăng hiệu quả sử
dụng vốn.
Cơ cấu vốn lu động là tỉ lệ giữa các bộ phận cấu thành vốn lu động và mối
quan hệ giữa các loại và của mỗi loại so với tổng số.
Xác định cơ cấu vốn lu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong công tác sử
dụng có hiệu quả vốn lu động.Nó đáp ứng yêu cầu về vốn trong từng khâu,từng bộ
phận ,trên cơ sở đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn.
Để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả thì việc phân loại vốn lu động là rất
cần thiết. Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn lu động đợc chia làm
3 loại:
Vốn dự trữ: là bộ phận vốn dùng để mua nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế
và dự trữ đa vào sản xuất.
7
Vốn trong sản xuất là bộ phận vốn trực tiếp dùng cho giai đoạn sản xuất nh
sản phẩm dở dang, chờ chi phí phân bổ.
Vốn trong lu thông là bộ phận vốn trực tiếp phục vụ cho giai đoạn lu thông
nh: thành phẩm , vốn bằng tiền mặt.
Căn cứ vào việc xác định vốn ngời ta chia vốn lu động thành hai loại:
Vốn định mức:là vốn lu động quy định mức tối thiểu cần thiết cho sản xuất
kinh doanh.Nó bao gồm vốn dự trữ, vốn trong sản xuất , sản phẩm hàng hoá mua
ngoài dùng cho tiêu thụ sản phẩm, vật t thuê ngoài chế biến
Vốn lu động không định mức: là số vốn không phát sinh trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhng không có căn cứ để tính toán định mức
nh: thành phẩm trên đờng gửi đi, vốn kế toán
Căn cứ vào hình thái biểu hiện vốn lu động bao gồm :
+Tiền mặt và chứng khoán có thể bán đợc
+Các khoản phải thu
+Các khoản dự trữ , vật t hàng hoá
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn lu động bao gồm:
Vốn lu động bổ xung là số vốn doanh nghiệp tự bổ xung từ lợi nhuận, các
khoản tiền phải trả nhng cha đến hạn nh tiền lơng, tiền nhà
Vốn lu động do ngân sách cấp: là loại vốn mà doanh nghiệp nhà nớc đợc
nhà nớc giao quyền sử dụng.
Vốn liên doanh liên kết: là vốn do doanh nghiệp nhận liên doanh, liên kết
với các đơn vị khác.
Vốn tín dụng: là vốn mà doanh nghiệp vay ngân hàng và các đối tợng khác
để kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp cần phải xác định cho mình một cơ cấu vốn lu
động hợp lý hiệu quả.Đặc biệt quan hệ giữa các bộ phận trong vốn lu động luôn
thay đổi nên ngời quản lý cần phải nghiên cứu để đa ra một cơ cấu phù hợp với
đơn vị mình trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.
2.Các nguồn vốn của doanh nghiệp :
2.1.Căn cứ vào tính chất sở hữu:
8
2.1.1.Nguồn vốn chủ sở hữu :
Khi doanh nghiệp đợc thành lập bao giờ chủ đầu t của doanh nghiệp cũng
phải bỏ ra một số vốn nhất định . Đối với doanh nghiệp nhà nớc vốn tự có ban đầu
chính là vốn do ngân sách nhà nớc cấp .Đối với doanh nghiệp t nhân vốn tự có là
số vốn pháp định cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp ,tức là số vốn
tối thiểu chủ doanh nghiệp phải bỏ ra để đợc thành lập doanh nghiệp theo quy
định của pháp luật .Với công ty cổ phần nó là nguồn vốn do các cổ đông đóng góp
để thành lập công ty . Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu công ty mà mức độ quyền
hạn tham gia vào công ty căn cứ theo tỉ lệ góp vốn đồng thời chịu trách nhiệm hữu
hạn trên trị giá số cổ phần mà họ nắm giữ .
2.1.2.Nợ phải trả:
Bất cứ doanh nghiệp nào muốn đi vào hoạt động không chỉ dựa vào nguồn
vốn chủ sở hữu mà còn phải tận dụng các mối quan hệ huy động thêm vốn từ bên
ngoài nh :Vay ngân hàng ,vay các tổ chức tín dụng và các đơn vị kinh tế khác
.Thậm chí trong quá trình sản xuất kinh doanh có khả năng doanh nghiệp phải nợ
ngời bán ,nợ lơng công nhân viên để tích luỹ vốn đáp ứng nhu cầu vốn quá lớn ở
một khâu nào đó thì mới có thể duy trì đợc các hoạt động.Tất cả những khoản trên
đợc hạch toán vào khoản mục nợ phải trả của doanh nghiệp nên sau một thời hạn
nhất định theo thỏa thuận doanh nghiệp phải trả cả gốc và lãi cho chủ nợ.Trong tr-
ờng hợp này những ngời tài trợ cho doanh nghiệp không phải là ngời chủ sở hữu
doanh nghiệp vì vậy khi doanh nghiệp huy động vốn từ nguồn này sẽ bị áp lực
phải trả nợ và không tự chủ về mặt tài chính.Mặc dù vậy nguồn tài trợ từ các
khoản vay nợ vẫn là chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp khi cần vốn để duy
trì hoạt động sản xuất kinh doanh hay tích luỹ vốn để tái sản xuất mở rộng qui mô
hoạt động .
Đây là cách phân chia rất cơ bản và phổ biến trong nền kinh tế thị trờng.Dựa
vào cách phân chia này doanh nghiệp có thể thiết lập cơ cấu nguồn tài trợ tối u để
tăng cờng hiệu quả sử dụng vốn của mình
2.2 Căn cứ vào thời gian huy động :
Xét theo thời gian huy động thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp đợc chia
9
làm hai loại:
2.2.1.Nguồn tài trợ dài hạn
Đây là nguồn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng dài hạn
vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nh đầu t mua sắm TSCĐ và một bộ
phận tài sản lu động tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp .Nó có u điểm là giúp cho doanh nghiệp giải quyết đợc nhiều vấn đề
có tính chất dài hạn mà không gặp khó khăn trong vấn đề thanh toán hoàn trả
.Nguồn tài trợ dài hạn có thể nhận đợc dới hình thức vay nợ dài hạn , vốn cổ phần
hoặc mua bán trao đổi các công cụ tài trợ dài hạn trên thị trờng vốn nh :cổ phiếu
,trái phiếu và các hình thức tài trợ tín dụng khác.
Cổ phiếu thờng
Cổ phiếu thờng :là một chứng khoán thể hiện quyền sở hữu vĩnh viễn đối với
công ty bởi không có sự dự kiến trớc thời gian đáo hạn .Giá trị ghi trên bề mặt cổ
phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu (Par Value).Giá cả cổ phiếu trên thị trờng gọi là thị
giá .Trị giá cổ phiếu đợc phản ánh trong sổ sách của công ty cổ phần gọi là giá trị
ghi sổ .Mệnh giá chỉ có ý nghĩa khi mới phát hành cổ phiếu hay trong thời gian
ngắn. Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị trờng , phản ánh lòng tin của nhà đầu t
đối với hoạt động của công ty.Thị giá thay đổi xung quanh giá trị cổ phiếu tuỳ
thuộc quan hệ cung cầu trên thị trờng . Số lợng cổ phần tối đa mà công ty đợc
quyền huy động đợc gọi là vốn pháp định .Số lợng cổ phiếu tơng ứng với số vốn
pháp định đợc ghi trong điều lệ của doanh nghiệp gọi là vốn điều lệ . Những cổ
phần sẽ đợc đa ra bán cho dân chúng đầu t gọi là cổ phần dự kiến phát hành và số
lợng phát hành thờng thấp hơn số lợng ghi trong điều lệ .Tổng số lợng cổ phần tối
đa mà công ty đợc phép phát hành gọi là vốn cổ phần và :
Vốn cổ phần =Tổng giá trị tài sản - các khoản nợ.
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thờng chính là những ngời sở hữu công ty ,
có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc của công ty tuỳ theo tỉ lệ
cổ phần mà họ nắm giữ.
Tuy nhiên trong mọi trờng hợp phát hành cổ phiếu để huy động vốn công ty
cần phải lu ý đến vấn đề bảo vệ công ty trớc sự thôn tính bằng cổ phiếu của các
10
công ty khác điều đó có nghĩa là công ty phải tính đến tỉ lệ cổ phần tối thiểu mà
mỗi cổ đông đợc phép nắm giữ để duy trì tỉ lệ cân đối về sở hữu công ty.
Cổ phiếu u tiên:Là loại cổ phiếu có tỉ lệ cổ tức cố định . Ngời chủ của cổ
phiếu u tiên có quyền đợc thanh toán lãi trớc các cổ đông thờng .Nếu số lợi nhuận
ròng chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông u tiên thì các cổ đông thờng sẽ không đ-
ợc nhận cổ tức của kỳ đó.Thông thờng trong tổng số vốn huy động thì cổ phiếu u
tiên chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ .Nhng trong trờng hợp công ty muốn tăng vốn
chủ sở hữu chống lại sự phá sản của công ty nhng không muốn san sẻ quyền lãnh
đạo thì cổ phiếu u tiên lại là công cụ hữu hiệu nhất do đặc điểm của cổ phiếu u
tiên là các cổ đông u tiên rất hiếm khi có quyền bỏ phiếu đầy đủ nh cổ đông cổ
phiếu thờng .Chỉ trong trờng hợp các cổ phiếu u tiên không đợc trả cổ tức thì các
cổ đông u tiên mới có thể đợc quyền bỏ phiếu.v.v
Trái phiếu công ty:
Trái phiếu công ty là các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn do công ty phát
hành.Tuỳ theo tập quán từng nớc các công ty phát hành trái phiếu với những kỳ
hạn khác nhau .Trên thực tế trái phiếu công ty có rất nhiều loại mỗi loại lại có
những đặc điểm khác nhau nh chi phí trả lãi , cách thức trả lãi , khả năng lu hành
và tính hấp dẫn của trái phiếu .Vì vậy trớc khi phát hành nhà phát hành cần phải
hiểu rõ đặc điểm và u nhợc điểm của mỗi loại trái phiếu .
Trái phiếu có bảo đảm :
Đây là loại trái phiếu đợc bảo đảm bằng những tài sản của công ty.Những tài
sản để đảm bảo cho các trái phiếu phát hành thờng là các bất động sản của doanh
nghiệp , trong một số trờng hợp vật bảo đảm cũng có thể là nhà xởng hay những
thiết bị đắt tiền .Đồng thời một tài sản nào đó cũng có thể làm vật bảo đảm cho
nhiều lần phát hành trái phiếu nhng phải thoả mãn điều kiện tổng giá trị của tất cả
các trái phiếu không đợc lớn hơn giá trị của tài sản thế chấp .
Trái phiếu không có bảo đảm :
Ngợc lại với trái phiếu có bảo đảm , trái phiếu không có bảo đảm là trái
phiếu không có một tài sản cụ thể nào cụ thể nào để đảm bảo cho khả năng thanh
11
toán của chúng , nhng chúng vẫn đợc bảo đảm chắc chắn bằng thu nhập tơng lai
và giá trị thanh lý của các tài sản của doanh nghiệp theo thứ tự u tiên của luật phá
sản tức là quyền lợi u tiên của các trái phiếu bao giờ cũng đứng trớc cổ phiếu , nh-
ng trong các trái phiếu thì các trái phiếu mới phát hành có thứ tự u tiên cao hơn
những trái phiếu đã phát hành trớc chúng.
Trái phiếu trả lãi theo thu nhập :
Là trái phiếu mà tiền lãi chỉ đợc trả khi ngời vay thu đợc lợi nhuận ,nếu
doanh nghiệp năm đó có thu nhập cao hơn số tiền lãi phải trả theo qui định thì trái
chủ sẽ đợc nhận toàn bộ tiền lãi,ngợc lại khi lợi nhuận mà ngời vay thu đợc nhỏ
hơn số tiền lãi thì trái chủ chỉ đợc nhận tiền trả bằng khoản thu nhập đó số tiền
còn thiếu đợc chuyển sang những năm tiếp theo tuỳ theo qui định trong khế ớc của
hai bên.Loại trái phiếu này có tính linh hoạt cao thích hợp với những doanh nghiệp
đang gặp khó khăn về tài chính.
Trái phiếu có lãi suất cố định:
Lãi suất trái phiếu là số tiền ngời vay phải trả cho trái chủ đợc tính là chi phí
bỏ ra để đợc sử dụng vốn ,số tiền này đợc trả một lần hay nhiều lần tuỳ theo qui
định của ngời phát hành .Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu phổ biến
nhất trong các loại trái phiếu công ty , lãi suất trái phiếu đợc ghi trên mặt trái
phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó.
Trái phiếu có lãi suất thả nổi :
Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát và lãi suất thị trờng không ổn định
dẫn đến lãi suất danh nghĩa của trái phiếu cũng bị ảnh hởng làm cho trái phiếu có
lãi suất cố định không đợc u chuộng chính vì vậy các công ty thờng phát hành trái
phiếu có lãi suất thả nổi ,lãi suất của loại trái phiếu này phụ thuộc vào một số
nguồn lãi suất quan trọng nh lãi suất LIBOR(London Inter bank offered Rate)hoặc
lãi suất cơ bản PR ( Prime Rate).Thông thờng lãi suất trái phiếu này lấy lãi suất
trái phiếu kho bạc làm chuẩn và đợc định kỳ điều chỉnh sau những khoảng thời
gian nhất định theo qui định . Những trái phiếu này sẽ hấp dẫn các nhà đầu t trong
điều kiện nền kinh tế không ổn định , thị trờng tài chính biến động không ngừng
12
nhng có thể gây khó khăn cho công ty trong việc hoạch định ngân quỹ vì công ty
không thể phân biệt chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu đồng thời do lãi
suất trái phiếu thờng xuyên thay đổi đòi hỏi công ty phải tốn nhiều thời gian hơn
cho quá trình quản lý trái phiếu do phải điều chỉnh lãi suất .
Trái phiếu có thể thu hồi sớm :
Ngoài các loại trái phiếu trên , trái phiếu có thể thu hồi sớm cũng là một
hình thức huy động vốn đợc rất nhiều công ty sử dụng ,đặc điểm của loại trái
phiếu này là công ty có thể mua lại và một thời điểm nào đó trớc khi mãn hạn
.Công ty nào phát hành trái phiếu này thì phải qui định rõ về thời hạn và giá cả của
trái phiếu khi công ty chuộc lại để ngời mua trái phiếu đợc biết .Trong trờng hợp
này thì những trái chủ của trái phiếu có thể thu hồi sẽ không kiếm đợc lãi suất mãn
hạn (YTM).
Tín dụng thuê mua :Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng
thông qua các loại tài sản , máy móc thiết bị giúp cho các doanh nghiệp thiếu
vốn vẫn có đợc tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động kinh doanh của mình .Đây
là phơng thức tài trợ thông qua hợp đồng thuê mua giữa ngời thuê và ngời cho thuê
.Ngời thuê đợc sử dụng tài sản và phải trả tiền thuê cho ngời cho thuê theo thời
hạn mà hai bên thoả thuận , ngời cho thuê là ngời sở hữu tài sản và nhận đợc tiền
cho thuê tài sản.
Tín dụng thuê mua có hai hình thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và
thuê tài chính:
Thuê vận hành :Đây là một hình thức thuê ngắn hạn tài sản ,có thời gian
thuê thờng rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tài sản ,điều kiện
chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trớc trong một thời gian ngắn .Đối với ngời thuê
thì chỉ phải trả tiền thuê theo thoả thuận , ngời cho thuê phải chịu mọi chi phí vận
hành tài sản nh chi phí bảo trì , bảo hiểm , thuế tài sản cùng mọi rủi ro về hao
mòn vô hình của tài sản .Từ những đặc điểm trên cho thấy thuê vận hành hoàn
toàn phù hợp với những hoạt động có tính chất thời vụ ,sử dụng tài sản trong thời
gian ngắn , ngoài ra nó còn có u điểm là không cần phải phản ánh tài sản thuê và
sổ sách kế toán , không gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý và sử dụng .
13
Thuê tài chính: là phơng thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn theo hợp đồng
.Theo phơng thức này ngời cho thuê thờng mua tài sản , thiết bị mà ngời thuê cần
và đã thơng lợng từ trớc các điều kiện mua lại tài sản từ ngời cho thuê .Trong hợp
đồng thuê tài chính thì thời hạn thuê tài sản của bên thuê phải chiếm phần lớn đời
sống hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộ các khoản tiền thuê phải đủ
để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng .
2.2.2. Nguồn tài trợ ngắn hạn :
Là nguồn tài trợ mà sau khi huy động thời gian sử dụng vốn ngắn (dới 1
năm) ,doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng vốn huy động từ những nguồn này để đáp
ứng nhu cầu tạm thời về vốn phát sinh bất thờng trong quá trình hoạt động kinh
doanh.Nguồn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín
dụng ,các khoản nợ ngời cung cấp, nợ tiền lơng và bảo hiểm của ngời lao động
Tín dụng nhà cung cấp (tín dụng thơng mại):
Tín dụng thơng mại là các khoản mua chịu từ ngời cung cấp hoặc ứng trớc
của khách hàng mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng . Tín dụng thơng mại luôn
gắn với một luồng hàng hoá dịch vụ cụ thể , gắn với một quan hệ thanh toán cụ thể
nên nó chịu sự tác động của cơ chế thanh toán của chính sách tín dụng khách hàng
mà doanh nghiệp đợc hởng .Công cụ để thực hiện loại tín dụng này phổ biến là
dùng kỳ phiếu và hối phiếu .Với sự phát triển của hệ thống ngân hàng những ngời
cho vayhoàn toàn có thể dễ dàng chiết khấu các thơng phiếu để lấy tiền phục vụ
cho những nhu cầu riêng khi thơng phiếu cha đến hạn thanh toán .
Đây là phơng thức tài trợ linh hoạt trong kinh doanh và nó còn có khả năng
mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền . Tuy nhiên các khoản tín
dụng thơng mại thờng có thời hạn ngắn nhng nếu doanh nghiệp biết quản lý một
cách khoa học thì có thể đáp ứng đợc phần nào nhu cầu vốn lu động cho doanh
nghiệp .
Vay theo hạn mức tín dụng:
Hạn mức tín dụng là một hạn mức vay do ngân hàng và khách hàng thoả
thuận trớc với nhau mà khi khách hàng có nhu cầu vay nằm trong hạn mức này thì
ngân hàng không cần phải thẩm định , khách hàng cũng không phải thế chấp .Và
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét