Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đói với doanh nghiệp nhà nước tại Agribank Nam Hà Nội

Chuyên Đề thực tập
sở hối phiếu (Nhờ thu trơn-Clean Collection) hoặc bộ chứng từ (Nhờ thu kèm chứng
từ-Documentary Collection).
Giống như phương thức chuyển tiền, do chỉ đóng vai trò trung gian nên ngân
hàng có thể gặp phải rủi ro khi không thực hiện đúng chỉ dẫn của các bên liên quan.
Ngân hàng gửi nhờ thu (Remitting Bank) khi nhận chứng từ nhờ thu của nhà xuất khẩu
có trách nhiệm kiểm tra kỹ chỉ dẫn nhờ thu: D/P – trả ngay hay D/A - trả chậm, người
trả tiền, ngân hàng nhờ thu… Nếu thực hiện sai chỉ dẫn của khách hàng, gửi bộ chứng
từ không đúng địa chỉ, không đòi được tiền, hoặc làm thất lạc chứng từ của khách hàng
trong quá trình xử lý nghiệp vụ, ngân hàng nhờ thu phải chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại cho người xuất khẩu.
Trong phương thức nhờ thu, khách hàng muốn thông qua ngân hàng để ràng
buộc việc nhận hàng với nghĩa vụ thanh toán của người nhập khẩu. Ngân hàng nhờ thu
được chỉ dẫn trả chứng từ nếu người nhập khẩu thanh toán bộ chứng từ D/P hoặc chấp
nhận thanh toán bộ chứng từ D/A. Ngân hàng nhờ thu có thể gặp rủi ro nếu không đọc
kỹ chỉ dẫn của bộ chứng từ nhờ thu, trả chứng từ khi chưa yêu cầu nhà nhập khẩu nộp
tiền để thanh toán bộ chứng từ D/P, hoặc thực hiện thanh toán không đúng chỉ dẫn
thanh toán (Payment Instruction) của ngân hàng nhờ thu, dẫn đến thất lạc hoặc chậm
trễ trong việc chuyển trả tiền.
c.Phương thức bảo lãnh
Thường được thực hiện dưới hai hình thức: thư bảo lãnh của ngân hàng (Letter
of Guarantee) và thư tín dụng dự phòng (Standby L/C).Trong phương thức này, ngân
hàng là người bảo lãnh, cam kết thanh toán cho người thụ hưởng một số tiền nhất định
nếu người được bảo lãnh vi phạm những nghĩa vụ đã quy định trong thư bảo lãnh hoặc
tín dụng dự phòng. Ngân hàng chỉ thực hiện cam kết của mình khi người được bảo
lãnh vi phạm nghĩa vụ của mình. Do đó không phải trong mọi trường hợp bảo lãnh,
ngân hàng đều phải thanh toán cho người thụ hưởng.
Có rất nhiều hình thức bảo lãnh quốc tế như Bảo lãnh tiền đặt cọc, bảo lãnh
thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán… Yêu cầu phát hành bảo
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
5
Chuyên Đề thực tập
lãnh có thể xuất phát từ chính khách hàng, người được bảo lãnh hoặc từ một ngân
hàng. Trong trường hợp nhận được đề nghị bảo lãnh từ khách hàng, ngân hàng phải
xem xét, đánh giá năng lực tài chính, uy tín kinh doanh của khách hàng, tính khả thi
của dự án mà khách hàng để nghị bảo lãnh. Đồng thời phải có các biện pháp đảm bảo
khả năng thanh toán như ký quỹ, thế chấp bằng tài sản đảm bảo…
d.Phương thức tín dụng chứng từ
Là sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với
người thụ hưởng thư tín dụng (nhà xuất khẩu) sẽ trả tiền (L/C trả ngay) hoặc trả vào
một thời điểm xác định trong tương lai (L/C trả chậm) tối đa tới một số tiền nếu người
thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với quy định của L/C. Trong
phương thức này, ngân hàng phát hành đóng vai trò là người cam kết trả tiền cho người
hưởng lợi của L/C.
Ngoài nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, trong phương thức tín dụng chứng từ
còn có vai trò của các ngân hàng gồm ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo, ngân
hàng chiết khấu và ngân hàng xác nhận Mỗi ngân hàng liên quan có những trách
nhiệm nhất định (được quy định trong Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng
từ UCP 600 do ICC ban hành)
Đối với ngân hàng phát hành L/C. Ngân hàng phát hành L/C đóng vai trò quan
trọng nhất, là chủ thể đưa ra cam kết đồng thời chịu trách nhiệm (hoặc uỷ quyền cho
ngân hàng khác) thực hiện cam kết đó, thể hiện trong nội dung của L/C.
Về bản chất, hợp đồng ngoại thương là văn bản pháp lý ràng buộc trách nhiệm
của nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu; đơn đề nghị mở L/C là văn bản pháp lý ràng buộc
trách nhiệm giữa người đề nghị mở L/C (nhà nhập khẩu) và ngân hàng phát hành, còn
L/C là văn bản pháp lý ràng buộc trách nhiệm giữa ngân hàng phát hành với người thụ
hưởng (nhà xuất khẩu). Mặc dù L/C do ngân hàng phát hành nhưng nội dung của nó về
cơ bản là do nhà nhập khẩu đưa ra trong đơn đề nghị phát hành L/C. Do vậy, trách
nhiệm của ngân hàng phát hành là phải chuyển tải chính xác các yêu cầu của đơn đề
nghị mở L/C vào nội dung L/C, để đảm bảo bộ chứng từ xuất trình phù hợp với L/C thì
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
6
Chuyên Đề thực tập
cũng đồng thời phù hợp với yêu cầu của nhà nhập khẩu. Có như vậy ngân hàng mới có
thể đòi bồi hoàn từ nhà nhập khẩu. Cũng vì vấn đề này, UCP đã khuyến cáo các nhà
nhập khẩu và các ngân hàng không nên đưa quá nhiều chi tiết mô tả hàng hoá vào L/C.
Việc đưa quá nhiều chi tiết kỹ thuật vào L/C một mặt không thể giúp cho ngân hàng và
nhà nhập khẩu kiểm soát được chất lượng hàng hoá thực tế, mặt khác lại dễ gây nhầm
lẫn, sai sót trong khi phát hành L/C, kiểm tra chứng từ, dẫn đến tranh chấp giữa các
bên.
Khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tới ngân hàng phát hành, ngân hàng
phát hành có trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ để quyết định trả tiền nếu bộ chứng từ
hoàn hảo hay từ chối nếu bộ chứng từ có bất đồng. Khi kiểm tra chứng từ, ngân hàng
phát hành có thể rơi vào những tình huống sau:

- Tình huống thứ nhất: Ngân hàng phát hành trả tiền bộ chứng từ hoàn hảo
- Tình huống thứ hai: Ngân hàng phát hành từ chối trả tiền bộ chứng từ bất đồng
- Tình huống thứ ba: Ngân hàng phát hành trả tiền bộ chứng từ bất đồng
- Tình huống thứ tư: Ngân hàng phát hành từ chối trả tiền bộ chứng từ hoàn hảo.
Tình huống thứ nhất và thứ hai là hai tình huống phù hợp với quyền và trách
nhiệm của ngân hàng phát hành, do vậy không có vấn đề tranh cãi xảy ra. Tình huống
thứ ba và thứ tư là những sai sót của ngân hàng phát hành trong quá trình tác nghiệp,
dẫn đến rủi ro. Ở tình huống thứ ba, nhà nhập khẩu từ chối trả tiền cho ngân hàng phát
hành, trong khi ngân hàng phát hành đã thanh toán cho người thụ hưởng. Trong tình
huống thứ tư, người thụ hưởng sẽ kiện ngân hàng phát hành vì không thực hiện cam kết,
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài chính và uy tín của ngân hàng phát hành. Việc xác
định tình trạng bộ chứng từ là vấn đề khó khăn và phức tạp, đòi hỏi cán bộ tác nghiệp
phải có trình độ chuyên môn cao, am hiểu nghiệp vụ và thông lệ quốc tế
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
7
Chuyên Đề thực tập
Đối với ngân hàng thông báo L/C: Ngân hàng thông báo L/C có trách nhiệm
kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C trước khi thông báo cho người thụ hưởng
không chậm trễ theo chỉ dẫn của ngân hàng phát hành. Trong trường hợp quyết định
không thông báo L/C thì phải có ý kiến phản hồi cho ngân hàng phát hành không chậm
trễ.
Thư tín dụng là cam kết trả tiền của ngân hàng phát hành. Dựa trên cam kết đó,
nhà xuất khẩu tin tưởng giao hàng cho nhà nhập khẩu và lập bộ chứng từ đòi tiền ngân
hàng phát hành. Nếu thư tín dụng là giả mạo, thì ngân hàng phát hành hoàn toàn không
bị ràng buộc vào cam kết này và nhà xuất khẩu không thể đòi tiền từ ngân hàng phát
hành.
Có 3 hình thức giả mạo thư tín dụng: (i) ngân hàng phát hành không có thực,
(ii) Ngân hàng phát hành có thực nhưng thư tín dụng giả mạo, (iii) Thư tín dụng là có
thực nhưng sửa đổi giả mạo. Chính vì vậy, bằng các nghiệp vụ của mình, ngân hàng
thông báo phải có trách nhiệm kiểm tra tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng để
tránh sự giả mạo. Ngân hàng có thể kiểm tra tính chân thật thông qua chữ ký trên thư
tín dụng (kiểm tra chữ ký uỷ quyền nếu phát hành bằng thư), bằng mã khoá (test key
nếu phát hành bằng telex…) hoặc bằng các mẫu điện đảm bảo tính xác thực (nếu phát
hành bằng Swift với các mẫu điện 700, 710, 720…).
Nếu ngân hàng đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng không thể xác định
được tính chân thật bề ngoài của L/C thì phải có ý kiến phản hồi cho ngân hàng phát
hành và từ chối thông báo cho người thụ hưởng. Nếu ngân hàng không kiểm tra tính
xác thực của L/C đã thông báo cho nhà xuất khẩu để nhà xuất khẩu giao hàng nhưng
không đòi được tiền do L/C bị giả mạo, nhà xuất khẩu có quyền yêu cầu ngân hàng
thông báo phải bồi thường.
Đối với ngân hàng chiết khấu/thương lượng:
Ngân hàng chiết khấu/thương lượng là ngân hàng phục vụ người thụ hưởng, có
trách nhiệm chiết khấu hoặc thương lượng bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình.
Ngân hàng chiết khấu/thương lượng có thể được ngân hàng phát hành chỉ định trong L/
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
8
Chuyên Đề thực tập
C hoặc do chính người thụ hưởng lựa chọn. Thông qua nghiệp vụ chiết khấu chứng từ,
ngân hàng đã trả một khoản tiền cho người thụ hưởng với một tỷ lệ nhất định trên cơ
sở trị giá của bộ chứng từ. Đổi lại, ngân hàng được hưởng quyền đòi tiền bộ chứng từ
từ ngân hàng phát hành.
Có hai hình thức chiết khấu là chiết khấu miễn truy đòi và có truy đòi.
Đối với hình thức chiết khấu có truy đòi, ngân hàng chiết khấu nếu không đòi được
tiền từ ngân hàng phát hành thì có quyền đòi hoàn lại số tiền đã chiết khấu từ người thụ
hưởng. Ngược lại, với hình thức chiết khấu miễn truy đòi, trong mọi tình huống, ngân
hàng chiết khấu không được phép đòi lại từ người thụ hưởng. Hình thức chiết khấu
miễn truy đòi tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn cho ngân hàng chiết khấu do vậy tỷ lệ chiết
khấu thường nhỏ hơn hình thức chiết khấu có truy đòi. Để đảm bảo cao nhất khả năng
đòi tiền từ ngân hàng phát hành, điều kiện tiên quyết là bộ chứng từ phải hoàn toàn phù
hợp với quy định của L/C.
Đối với ngân hàng xác nhận:
Ngân hàng xác nhận có trách nhiệm cùng với ngân hàng phát hành cam kết
thanh toán cho nhà xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp. Ngân hàng xác
nhận xuất hiện khi người thụ hưởng của L/C không tin tưởng vào cam kết của ngân
hàng phát hành thư tín dụng, nên đã yêu cầu một ngân hàng có uy tín và đáng tin cậy
đối với mình xác nhận L/C nói trên.
Ngân hàng xác nhận L/C cam kết với người thụ hưởng thư tín dụng về việc sẽ
thanh toán cho họ khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C nếu ngân hàng phát
hành không có khả năng thanh toán. Do vậy, ngân hàng xác nhận có trách nhiệm kiểm
tra và định đoạt tình trạng bộ chứng từ do khách hàng xuất trình, nếu chứng từ phù hợp
thì tiến hành thanh toán cho người thụ hưởng và đòi bồi hoàn từ ngân hàng phát hành.
Ngân hàng xác nhận sẽ gặp rủi ro nếu không phát hiện ra bộ chứng từ có bất
đồng vì đã thanh toán cho người thụ hưởng nhưng không đòi bồi hoàn được từ ngân
hàng phát hành. Việc ngân hàng xác nhận trả tiền cho người thụ hưởng là miễn truy
đòi, do vậy việc xác nhận L/C cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bên cạnh rủi ro do năng lực
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
9
Chuyên Đề thực tập
tài chính và uy tín của ngân hàng phát hành không tốt, ngân hàng xác nhận còn gặp
những rủi ro về nghiệp vụ. L/C do ngân hàng phát hành phát hành và có quyền định
đoạt cuối cùng đối với bộ chứng từ. Để đảm bảo an toàn cho mình, khi tiến hành xác
nhận L/C, ngân hàng xác nhận phải kiểm tra cẩn thận nội dung của L/C để chỉnh sửa
các điều khoản không rõ ràng, mâu thuẫn, bất lợi cho người thụ hưởng trong việc lập
và xuất trình một bộ chứng từ hoàn hảo. Biện pháp an toàn nhất để đảm bảo khả năng
thanh toán của ngân hàng phát hành là yêu cầu ngân hàng phát hành ký quỹ 100% trị
giá L/C. Tuy nhiên, trong điều kiện thương mại quốc tế phát triển như hiện nay, việc
ký quỹ sẽ chiếm dụng vốn của ngân hàng phát hành, do vậy các ngân hàng ít áp dụng.
Qua phân tích cho thấy, những rủi ro kỹ thuật xảy ra tại các ngân hàng phần lớn
là do trình độ của cán bộ tác nghiệp. Hậu quả của rủi ro tác nghiệp rất nghiêm trọng,
ảnh hưởng đến uy tín và tài sản của ngân hàng. Tuy nhiên các rủi ro này hoàn toàn có
khả năng phòng tránh.
2.2.2. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên
liên quan nhưng không có khả năng đòi hoàn trả. Rủi ro tín dụng liên quan trực
tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên. Cụ thể là:
a.Trong phương thức tín dụng chứng từ:
Đối với ngân hàng phát hành: Khi phát hành L/C, ngân hàng phát hành đã
thực hiện việc cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu vì thông thường L/C được phát hành
với mức ký quỹ dưới 100%. Nhà nhập khẩu chưa phải trả tiền nhưng đã được nhà xuất
khẩu giao hàng vì tin tưởng vào cam kết của ngân hàng phát hành. Rủi ro tín dụng đối
với ngân hàng phát hành xảy ra khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán hoặc bị
phá sản: Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho ngưòi thụ hưởng theo quy
định của L/C nhưng không có khả năng đòi hoàn trả từ nhà nhập khẩu.
Đối với ngân hàng chiết khấu: khi thực hiện chiết khấu miễn truy đòi bộ
chứng từ xuất khẩu, ngân hàng chiết khấu đã thực hiện việc mua lại quyền đòi tiền của
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
10
Chuyên Đề thực tập
nhà xuất khẩu từ ngân hàng phát hành L/C. Nếu ngân hàng phát hành mất khả năng
thanh toán hoặc bị phá sản thì rủi ro tín dụng thuộc về ngân hàng chiết khấu.
Đối với ngân hàng xác nhận: Khi thực hiện việc xác nhận L/C nhưng không
yêu cầu ngân hàng phát hành ký quỹ 100% trị giá L/C, ngân hàng xác nhận có thể phải
đối mặt với rủi ro tín dụng khi ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc bị
phá sản.
Tóm lại, các rủi ro tín dụng là những rủi ro khách quan, do một chủ thể khác
gây ra nên rất khó phòng tránh. Những rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình
tài chính, năng lực kinh doanh của các ngân hàng, các doanh nghiệp. Để phòng tránh
được các rủi ro tín dụng, cần phải xem xét, nắm vững tình hình tài chính cũng như uy
tín, khả năng thanh toán của bên đối tác để có thể ra quyết định đúng đắn. Chính vì
vậy, việc lựa chọn các khách hàng và ngân hàng nước ngoài có quan hệ tín dụng tốt là
điều vô cùng quan trọng trong quan hệ thanh toán quốc tế.
2.2.3. Rủi ro ngoại hối
Trong hoạt động TTQT, người xuất khẩu và người nhập khẩu ở hai nước khác
nhau nên loại tiền tệ sử dụng trong hoạt động TTQT là ngoại tệ đối với ít nhất một bên.
Khi đó sẽ xuất hiện tỷ giá hối đoái quy đổi giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ.Việc lựa
chọn đồng tiền thanh toán trong hợp đồng ngoại thương phụ thuộc vào các yếu tố như
tương quan lực lượng của hai bên mua bán, vị trí của đồng tiền đó trên thị trường quốc
tế, tập quán sử dụng đồng tiền thanh toán trên thế giới…
Rủi ro ngoại hối liên quan đến trạng thái hối đoái mở (open position) và tỷ
giá hối đoái của một đồng tiền nhất định. Nếu như trạng thái hối đoái mở là dương
(Long position) đối với một loại ngoại tệ, mà loại ngoại tệ đó bị giảm giá thì ngân hàng
sẽ gặp rủi ro. Ngược lại, nếu trạng thái hối đoái mở là âm (short position) và loại ngoại tệ
đó lên giá thì ngân hàng cũng gặp rủi ro về tỷ giá. Tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào nhiều
nhân tố khác nhau mà các nhân tố này thường xuyên thay đổi kéo theo sự biến động
không ngừng của tỷ giá hối đoái. Cho dù chỉ với một sự thay đổi nhỏ trong tỷ giá hối
đoái nhưng khối lượng ngoại hối lớn thì cũng sẽ dẫn đến rủi ro rất lớn, thậm chí có thể
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
11
Chuyên Đề thực tập
dẫn đến tình trạng phá sản. Vì vậy các ngân hàng phải luôn tìm cách cân bằng trạng thái
hối đoái thực để hạn chế bớt những thiệt hại của rủi ro này.
2.2.4. Rủi ro ngân hàng đại lý:
Khi triển khai hoạt động TTQT, các ngân hàng đều coi nhiệm vụ phát triển quan
hệ đại lý ra nước ngoài là một nhiệm vụ trọng tâm, mang tính quyết định cho việc mở
cửa hoạt động của ngân hàng. Việc thiết lập và phát triển rộng rãi hệ thống ngân hàng
đại lý tạo lòng tin lẫn nhau, giúp cho các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ TTQT được
thuận tiện, nhanh chóng, giảm chi phí trung gian.
Quan hệ đại lý thường được thiết lập trong các lĩnh vực sau:
Quan hệ tài khoản: Đây là yêu cầu tất yếu nếu một ngân hàng muốn tham gia
vào hoạt động TTQT. Để có thể thanh toán, giữa các ngân hàng phải có quan hệ tài
khoản. Tuy nhiên một ngân hàng không thể mở tài khoản tại tất cả các ngân hàng mà
mình có quan hệ thanh toán. Đứng trên góc độ một ngân hàng A, những tài khoản mà
ngân hàng đó mở tại một ngân hàng khác được gọi là tài khoản Nostro, ngược lại,
những tài khoản mà ngân hàng khác mở tại ngân hàng A được gọi là tài khoản Vostro.
Về nguyên tắc, các loại tiền tệ lưu thông trên thế giới đều được tiến hành thanh toán bù
trừ tại trung tâm thanh toán của từng loại tiền tệ đặt tại từng quốc gia. Do vậy, mỗi
ngân hàng khi tham gia hoạt động TTQT đều chọn cho mình một số ngân hàng trung
gian có uy tín của một số loại tiền tệ giao dịch chính để mở tài khoản
Quan hệ ngân hàng đại lý: Bên cạnh việc thiết lập quan hệ tài khoản, một yêu
cầu quan trọng khác đối với các ngân hàng là thiết lập một mạng lưới quan hệ đại lý
rộng khắp trên toàn thế giới. Ngân hàng đại lý thường là những ngân hàng phục vụ
người thụ hưởng của L/C, người trả tiền bộ chứng từ nhờ thu… Quan hệ đại lý cũng
được thể hiện thông qua việc các ngân hàng thiết lập quan hệ Swift key, Testkey, trao
đổi chữ ký uỷ quyền…. Trong mối quan hệ chặt chẽ đó, nếu một ngân hàng không
thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng thông lệ quốc tế, hoặc bị phá sản thì có thể làm
ảnh hưởng đến các ngân hàng đại lý của mình.
2.2.5 Rủi ro pháp lý:
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
12
Chuyên Đề thực tập
Rủi ro pháp lý là những rủi ro liên quan đến luật điều chỉnh các hoạt động
TTQT, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, luật giải quyết tranh chấp khi có vấn
đề khiếu kiện phát sinh. Vấn đề pháp lý trong hoạt động TTQT cũng là một nội dung
quan trọng và rất phức tạp, do các bên liên quan trong hoạt động TTQT ở các quốc gia
khác nhau, trong điều kiện môi trường pháp lý và hệ thống luật pháp. Trong hệ thống
luật pháp điều chỉnh các hoạt động ngoại thương nói chung, hoạt động TTQT nói riêng
gồm có luật quốc tế và luật quốc gia.
Để điều chỉnh các phương tiện thanh toán đang được sử dụng rộng rãi trong
hoạt động TTQT hiện nay, luật thống nhất về Hối phiếu, Kỳ phiếu và Séc đã được ban
hành và áp dụng rộng rãi ở nhiều nước.
Luật quốc tế điều chỉnh hối phiếu và kỳ phiếu
Hối phiếu và kỳ phiếu là những công cụ TTQT được sử dụng rộng rãi, đặc biệt
là hối phiếu. Hối phiếu là tờ mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho
người khác, yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày cụ thể nhất
định, hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định
cho một người nào đó hoặc theo lệnh của người này trả cho một người khác hoặc
người cầm phiếu. Ngược lại với hối phiếu, kỳ phiếu do con nợ viết ra để cam kết trả
tiền cho người hưởng lợi. Kỳ phiếu là một tờ giấy hứa cam kết trả tiền vô điều kiện do
người lập phiếu phát ra hứa trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc theo
lệnh của người này trả cho người khác quy định trong kỳ phiếu.
Để thống nhất giải thích về hối phiếu và kỳ phiếu, Ủy ban Luật thương mại quốc
tế của Liên hiệp quốc kỳ họp thứ 15, New York đã ban hành Luật kỳ phiếu và hối phiếu
quốc tế (International Bills of Exchange and Promissory Note) số A/CN, 9/11 ngày
18/02/1982. Bên cạnh đó, trong một công ước quốc tế được ký tại Genever năm 1930
trong đó ban hành một luật điều chỉnh về hối phiếu là “Luật điều chỉnh về hối phiếu”
(Uniform Law for Bills of Exchange – ULB). Công ước này quy định rõ về hình thức và
nội dung lập hối phiếu, quyền lợi và nghĩa vụ của những người có liên quan đến hối
phiếu (người ký phát, người trả tiền, người hưởng lợi, người chuyển nhượng, người cầm
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
13
Chuyên Đề thực tập
hối phiếu) và các vấn đề về chấp nhận, ký hậu, bảo lãnh hối phiếu và mang tính chất khu
vực Châu Âu.
Bên cạnh việc ban hành luật Hối phiếu và kỳ phiếu quốc tế, Ủy ban luật thương
mại quốc tế của Liên Hiệp quốc cũng đồng thời ban hành Luật về Séc quốc tế, tài liệu
số A/CN. 9/212 ngày 18/02/1982. Luật về Séc quốc tế nhằm điều chỉnh các hoạt động
liên quan đến Séc quốc tế, quyền hạn và trách nhiệm của các bên liên quan đến Séc,
việc ký phát, ký hậu, chấp nhận, bảo lãnh, thanh toán séc quốc tế.
Đối với các phương thức thanh toán quốc tế hiện nay chưa có luật quốc tế mà
mới chỉ có các tập quán quốc tế, cụ thể là:
Quy tắc thống nhất về thanh toán chứng từ nhờ thu (URC 522 Revision
1995): được Phòng thương mại Quốc tế ban hành đầu tiên năm 1956 và sửa đổi năm
1995.URC 522 bao gồm 26 điều khoản quy định rõ về các thức và cấu trúc nhờ thu,
các nghĩa vụ và trách nhiệm trong nhờ thu, thanh toán nhờ thu, lãi suất, chi phí cho
thanh toán nhờ thu.
Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (Uniform Custom
and Practice for documentary credit) do phòng thương mại quốc tế ban hành năm 1933,
đã qua 6 lần sửa đổi và bản sửa đổi mới nhất năm 2007 (UCP 600-Revision 2007).Đây
là cẩm nang lớn nhất cho giới kinh doanh ngoại thương trên toàn thế giới. Mục tiêu cốt
yếu của UCP là hỗ trợ thương mại quốc tế phát triển hơn, tăng cường tính hiệu quả của
phương thức tín dụng chứng từ, tránh hiểu nhầm về định nghĩa và các cách thức tiến
hành gây ra những tranh cãi và rủi ro đáng tiếc. Nội dung của UCP 600 gồm 39 điều
quy định quyền lợi và nghĩa vụ, điều chỉnh quan hệ của các bên tham gia vào hoạt
động tín dụng chứng từ, quy tắc kiểm tra chứng từ và các quy định khác.
Trong quá trình thực hiện TTQT, rất nhiều ngân hàng và khách hàng có những
cách giải thích trái ngược nhau về quy định của UCP nên năm 2002, Phòng thương mại
quốc tế lại tiếp tục cho ra đời ấn phẩm International Standard Banking Practice –
ISBP (Tiêu chuẩn quốc tế về kiểm tra chứng từ). ISBP là một bộ phận đính kèm của
UCP nhằm đưa ra những cách giải thích thống nhất trong việc kiểm tra chứng từ cho
Phạm Anh Dũng - TTQTA_K7
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét