Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Công tác chuẩn bị đầu tư của dự án FDI tại Việt nam Thực trạng và giải pháp

Luận văn tốt nghiệp
2. Dự án FDI:
2.1. Khái niệm dự án FDI:
Để có thể tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các tổ chức kinh tế
hay cá nhân nước ngoài cần phải tìm hiểu về các yếu tố của nước mà mình dự định
bỏ vốn: môi trường đầu tư, thị trường… để có quyết định đầu tư. Muốn vậy, họ phải
có chương trình, kế hoạch cụ thể cho hoạt động của mình trong một thời gian nhất
định. Điều này được thể hiện thông qua việc các nhà đầu tư nước ngoài soạn thảo dự
án đầu tư và tiến hành theo các thủ tục pháp lý nhất định của nước nhận đầu tư để
được cấp giấy chứng nhận đầu tư hay các nhà đầu tư nước ngoài phải tiến hành đầu
tư thông qua các dự án, gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (dự án FDI). Có
nhiều cách định nghĩa khác nhau về dự án FDI tùy theo góc độ tiếp cận.
Nếu xét về mặt hình thức, dự án FDI là một tập hồ sơ, tài liệu do nhà đầu tư
nước ngoài trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các kế hoạch hoạt động của nhà
đầu tư nước ngoài tại nước nhận đầu tư trong tương lai nhằm đạt được một mục tiêu
nhất định.
Nếu xét về mặt nội dung, dự án FDI bao gồm toàn bộ các hoạt động có liên
quan tới nhau, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ về thời gian, địa điểm tiến
hành thông qua việc sử dụng các nguồn lực hiện có để tạo ra các kết quả nhất định
trong tương lai đi kèm với thực hiện được các mục tiêu đã định của dự án.
Như vậy, một cách chung nhất, có thể hiểu dự án FDI là dự án đầu tư do các
tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước ngoài tự mình hoặc cùng các tổ chức kinh tế hay
cá nhân ở nước tiếp nhận đầu tư bỏ vốn đầu tư và trực tiếp quản lý, điều hành để thu
lợi nhuận trong kinh doanh.
2.2. Vai trò của dự án FDI:
Các dự án FDI được tiến hành tại nước nhận đầu tư tạo ra các tác động to lớn
đối với cả nhà đầu tư nước ngoài lẫn nước tiếp nhận đầu tư
- Kinh tế đầu tư 46B -
5
Luận văn tốt nghiệp
2.2.1. Với nhà đầu tư nước ngoài:
Xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tập đoàn kinh tế trên thế giới đòi
hỏi họ phải luôn tìm cách đổi mới công nghệ và mục tiêu quan trọng nhất đối với họ
là giảm tối đa giá thành cũng như mở rộng thị trường sản phẩm. Thực hiện dự án FDI
tại nước có thị trường rộng lớn, nguồn nguyên liệu đầu vào dồi dào, chi phí rẻ là
phương tiện hữu hiệu đối với họ để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đồng thời, thông
qua thực hiện dự án FDI, nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội để mở rộng thị trường sản
phẩm của mình, được hưởng các ưu đãi của nước nhận đầu tư về thuế thu nhập
doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu… của nước nhận đầu tư nhằm làm giảm giá thành
sản xuất, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, từ đó làm tăng lợi nhuận.
Bên cạnh đó, thực hiện dự án FDI tại nước tiếp nhận đầu tư cũng giúp cho nhà
đầu tư nước ngoài tránh hàng rào thuế quan khi xuất khẩu trực tiếp sản phẩm sang
nước nhận đầu tư, đồng thời tiết kiệm chi phí vận chuyển sản phẩm tới thị trường
tiêu thụ. Ngoài ra, thông qua chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI họ có thể kéo
dài chu kì sống của các công nghệ đã cũ đối với họ nhưng với nước nhận đầu tư, đó
vẫn là công nghệ mới, tạo ra năng suất lao động cao hơn.
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm tới
việc đưa ra một dự án khả thi, đây là căn cứ để họ quyết định bỏ vốn đầu tư cũng như
là cơ sở để họ trình lên cơ quan có thẩm quyền tại nước tiếp nhận đầu tư để xin cấp
giấy chứng nhận đầu tư, được hưởng các ưu đãi, được cấp đất, cấp phép xây dựng
trong giai đoạn thực hiện dự án…Ngoài ra, đây cũng là căn cứ để họ thuyết phục các
tổ chức tín dụng tài trợ vốn cho dự án của mình thông qua chứng minh tính khả thi
của dự án về mặt tài chính.
2.2.2. Với nước nhận đầu tư:
Thông qua tiếp nhận các dự án FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có thể gia tăng
tổng sản phẩm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra điều kiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại, đồng thời nâng cao trình độ công nghệ, tạo việc làm…
Bên cạnh đó, việc thực hiện các dự án FDI cũng tạo ra tác động tràn đối với các khu
- Kinh tế đầu tư 46B -
6
Luận văn tốt nghiệp
vực kinh tế trong nước. Thông qua liên doanh, liên kết, hợp tác trong cung cấp đầu
vào cho các dự án FDI, các doanh nghiệp trong nước có thể học hỏi được kinh
nghiệm quản lý, mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình, các tổ chức tín
dụng trong nước: ngân hàng, bảo hiểm…cũng có thể tham gia tài trợ vốn hay cung
cấp dịch vụ của mình cho dự án FDI. Thực tế hiện nay cho thấy, các nước đang phát
triển đang cạnh tranh với nhau trong thu hút nguồn vốn FDI vào nước mình thông
qua những chính sách ưu đãi, xúc tiến đầu tư từ chính phủ các nước này, điều đó
khẳng định vai trò quan trọng của nguồn vốn FDI nói chung cũng như việc thực hiện
các dự án FDI nói riêng trong nền kinh tế của mỗi nước.
Để có thể tiến hành đầu tư vào nước sở tại, nhà đầu tư nước ngoài phải qua
bước nghiên cứu tìm hiểu cơ hội đầu tư: nghiên cứu thị trường, chính sách pháp
luật…để từ đó lập ra báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi
trình lên cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư để xin giấy chứng nhận đầu
tư. Đây cũng là căn cứ để nước nhận đầu tư xem xét tính khả thi của dự án. Nếu một
dự án đầu tư gây ô nhiễm môi trường nhưng lại chọn vị trí đặt ở khu đông dân cư thì
cũng không được chính quyền nước tiếp nhận đầu tư chấp nhận hay một dự án có thể
thực hiện được tại thời điểm hiện tại nhưng chính quyền nước nhận đầu tư xét thấy
ảnh hưởng nếu thực hiện dự án trong tương lai thì có thể họ cũng từ chối cấp giấy
chứng nhận đầu tư.
2.3. Đặc trưng của dự án FDI:
Với đặc thù là có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài nên dù có những
điểm giống so với các dự án trong nước ở tính mục tiêu của dự án, việc huy động và
sử dụng các nguồn lực ở hiện tại, tiến hành theo một chu trình cụ thể từ chuẩn bị đầu
tư đến thực hiện dự án và kết thúc dự án, các dự án FDI cũng có những đặc trưng
riêng, chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp hơn:
Một là, sự tham gia và trực tiếp quản lý và điều hành của nhà đầu tư nước
ngoài. Tùy theo hình thức đầu tư mà mức độ tham gia từ phía nhà đầu tư nước ngoài
cũng khác nhau. Đối với hình thức dự án 100% vốn nước ngoài, chủ đầu tư nước
- Kinh tế đầu tư 46B -
7
Luận văn tốt nghiệp
ngoài sẽ trực tiếp điều hành, quản lý đối với vốn đầu tư của mình. Trong hình thức
liên doanh, sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài tùy thuộc vào mức đô góp vốn của
hai bên. Do có sự tham gia quản lý, điều hành của nhà đầu tư nước ngoài với quan
điểm về quản lý, điều hành cũng như ngôn ngữ, phong tục tập quán khác nhau nên sự
thống nhất giữa các bên trong quản lý (đặc biệt trong hình thức liên doanh) là rất khó
khăn. Bên cạnh đó, với sự tham gia của yếu tố nước ngoài, bên cạnh động cơ lợi
nhuận cũng cần chú ý đến các động cơ chính trị xã hội có thể bị che đậy bởi các hoạt
động kinh tế đòi hỏi các cơ quan quản lý cấp giấy chứng nhận đầu tư phải xem xét
tới động cơ của nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, cũng do có yếu tố nước ngoài nên
việc xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư gặp nhiều khó khăn hơn do thiếu thông tin
về năng lực tài chính, quản lý của nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt đối với nhà đầu tư
nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam.
Hai là, dự án FDI chịu sự chi phối đồng thời của nhiều hệ thống pháp luật
khác nhau của cả nước đi đầu tư cũng như nước nhận đầu tư cũng như các thông lệ
quốc tế, mối quan hệ về hợp tác về kinh tế giữa các quốc gia. Do đó, để tiến hành các
hoạt động đầu tư tại nước nhận đầu tư đòi hỏi nhà đầu tư nước ngoài phải tìm hiểu và
thích nghi với hệ thống pháp luật tại nước sở tại trong quá trình thực hiện dự án của
mình. Ở đa phần các nước đang phát triển, trong giai đoạn đầu thu hút FDI, để bảo vệ
các ngành sản xuất trong nước nên vẫn có những phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư
trong nước và nhà đầu tư nước ngoài về thủ tục pháp lý cũng như giá cả dịch vụ…
đòi hỏi nhà đầu tư nước ngoài cần tìm hiểu kĩ về các quy định đối với mình khi tiến
hành chuẩn bị đầu tư.
Ba là, dự án FDI được tiến hành gắn liền với hoạt động chuyển giao công
nghệ. Bên cạnh một lượng vốn lớn được đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến
hành đầu tư cũng đưa vào nước nhận đầu tư các công nghệ hiện đại so với nước nhận
đầu tư, kinh nghiệm quản lý tiên tiến… mà nước nhận đầu tư có thể học hỏi, tạo ra
“tác động tràn” đối với nước tiếp nhận đầu tư. Bên cạnh đó, các dự án FDI thường
hướng về xuất khẩu nên thông qua các dự án FDI, nước tiếp nhận đầu tư có thể học
hỏi được phía nước ngoài về cách thức tiếp cận thị trường cũng như mở rộng thị
- Kinh tế đầu tư 46B -
8
Luận văn tốt nghiệp
trường xuất khẩu. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp công nghệ được chuyển giao
thường không phải là công nghệ hiện đại, giá trị không đúng như trong khai báo của
nhà đầu tư nước ngoài nên nếu trình độ công nghệ của nước nhận đầu tư chưa cao sẽ
chấp nhận công nghệ lạc hậu được đưa vào nước mình. Đây cũng là thực trạng chung
với các nước đang phát triển trong thu hút vốn FDI. Điều này cũng tạo ra khó khăn
cho các cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư khi thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư
cho các dự án FDI.
Bốn là, dự án FDI chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, tính phức tạp. Các dự án FDI
thường được tiến hành ở những thị trường mới so với nhà đầu tư nước ngoài. Họ lựa
chọn nơi này để đầu tư chủ yếu vì sức hấp dẫn của thị trường, nguồn cung các
nguyên liệu đầu vào… nhằm giảm giá thành sản xuất. Do đây là thị trường mới nên
đòi hỏi nhà đầu tư nước ngoài cần có thời gian tìm hiểu nhiều hơn trước khi tiến hành
đầu tư.
2.4. Phân loại dự án FDI:
Có nhiều cách khác nhau để phân loại dự án FDI tùy theo mục đích quản lý
hay đánh giá dự án. Theo đó, người ta có thể phân loại dự án FDI theo một số tiêu
thức như:
Theo hình thức đầu tư, dự án FDI được chia thành: dự án đầu tư theo hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC, dự án liên doanh, dự án 100% vốn nước
ngoài, dự án theo hình thức BOT. Mỗi hình thức đầu tư này lại gắn liền với một cơ
cấu tổ chức, quản lý khác nhau. Thông qua việc phân chia dự án theo từng hình thức
đầu tư này, các cơ quan quản lý đầu tư có thể đánh giá, xem xét tình hình, sự phát
triển cũng như xu hướng chuyển đổi của từng hình thức đầu tư theo thời kì, giai
đoạn. Ví dụ như ở Việt Nam trước đây, hình thức đầu tư liên doanh chiếm đa số thì
hiện nay hình thức 100% vốn nước ngoài với những ưu thế nhà đầu tư nước ngoài có
thể hoàn toàn trực tiếp quản lý với dự án chiếm đa số trong các loại hình đầu tư.
Theo lĩnh vực đầu tư, dự án FDI có thể được chia thành dự án FDI đầu tư vào
lĩnh vực công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp và dịch vụ. Sự phân chia theo tiêu thức
- Kinh tế đầu tư 46B -
9
Luận văn tốt nghiệp
này gắn liền với cơ cấu ngành của nền kinh tế. Từ đó có thể đánh giá được tác động
của các dự án FDI đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung cũng như vai trò
của khu vực FDI với sự phát triển của từng ngành nói riêng để có những biện pháp
điều chỉnh hay những biện pháp khuyến khích kịp thời.
Theo địa giới hành chính, có thể phân chia dự án FDI theo các địa phương và
vùng lãnh thổ. Việc so sánh cũng như đánh giá số lượng dự án FDI tại các địa
phương khác nhau cho phép tìm ra các nguyên nhân giải thích tại sao có địa phương
dù ở vị trí thuận lợi nhưng vẫn chưa thu hút được nhiều dự án FDI tương xứng với
tiềm năng của mình để từng địa phương có thể nhìn nhận, xem xét, dựa trên mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm
thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành đầu tư tại tỉnh mình.
Bên cạnh các tiêu thức trên, các dự án FDI có thể được phân chia theo một số
tiêu thức khác như: dựa vào mức độ tập trung của các dự án FDI có thể chia thành dự
án FDI đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các dự
án FDI độc lập nằm ngoài khu công nghiệp; dựa vào đối tác đầu tư nước ngoài có thể
phân chia dự án FDI theo từng đối tác riêng để có những biện pháp riêng nhằm đánh
giá cũng như đưa ra các biện pháp nhằm thu hút FDI theo từng đối tác riêng.
Như vậy, có nhiều cách phân loại dự án FDI khác nhau tùy theo mục đích
quản lý cũng như đánh giá về tình hình thu hút FDI theo từng giai đoạn, thời kì nhằm
đưa ra các biện pháp phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2.5. Chu kì của một dự án FDI:
Cũng giống như các dự án khác, dự án FDI được tiến hành trong một khoảng
thời gian cụ thể và được tiến hành theo một chu trình nhất định từ khi chỉ còn là ý
tưởng của nhà đầu tư cho đến khi dự án kết thúc gọi là chu kì của dự án đầu tư. Chu
kì của một dự án FDI có thể được hiểu là các thời kì, giai đoạn mà dự án FDI trải
qua, bắt đầu từ khi có ý tưởng đầu tư cho đến khi kết thúc dự án. Các thời kì, giai
đoạn này được đánh dấu bằng các sự kiện hay điểm mốc để chuyển sang giai đoạn
tiếp theo.
- Kinh tế đầu tư 46B -
10
Luận văn tốt nghiệp
Nếu xét một cách tổng quát, một dự án nói chung hay một dự án FDI nói riêng
trải qua ba giai đoạn lớn theo chu trình sau:
Hình 1.1 – Chu trình của một dự án FDI
Theo như hình trên, chu trình của một dự án FDI được bắt đầu từ giai đoạn
chuẩn bị đầu tư với việc bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu cho dự án đến khi được nước
tiếp nhận đầu tư chấp thuận, cấp giấy phép đầu tư. Giai đoạn thực hiện dự án bắt đầu
từ khi dự án được hình thành về mặt pháp lý tức là được cấp giấy chứng nhận đầu tư
cho đến khi dự án ngừng hoạt động. Giai đoạn kết thúc dự án tiến hành đánh giá,
thanh lý tài sản cũng như giải quyết công ăn việc làm cho công nhân. Như vậy, ba
giai đoạn này nối tiếp nhau và được bắt đầu bằng các mốc thời gian như: bắt đầu tìm
hiểu, nghiên cứu cơ hội đầu tư, dự án FDI được cơ quan có thẩm quyền nước tiếp
nhận đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư, dự án ngừng hoạt động. Các điểm mốc này
được thể hiện cụ thể hơn trong sơ đồ sau:
- Kinh tế đầu tư 46B -
11
Chuẩn bị dự án
FDI
Thực hiện dự án
FDI
Kết thúc dự án
FDI
Luận văn tốt nghiệp
Hình 1.2 - Các điểm mốc trong thực hiện dự án FDI
Trong mỗi giai đoạn của dự án FDI lại bao gồm nhiều công việc khác nhau,
do tính chất phức tạp của dự án FDI nên so với các dự án thông thường, số lượng các
công việc cần thực hiện cũng nhiều hơn. Cụ thể:
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: trong giai đoạn này, chủ đầu tư phải thực hiện các
công việc như nghiên cứu tìm hiểu cơ hội đầu tư thông qua các bước tìm hiểu thị
trường, môi trường đầu tư, điều kiện kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư, sau đó là
lập dự án tiền khả thi và khả thi, tìm kiếm lựa chọn đối tác trong trường hợp đầu tư
theo hình thức liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC, hoàn thiện hồ sơ dự án
để cơ quan có thẩm quyền nước tiếp nhận đầu tư xem xét cấp giấy chứng nhận đầu
tư, sau giai đoạn này dự án FDI đã hình thành về mặt pháp lý. Số lượng công việc mà
nhà đầu tư cần thực hiện trong giai đoạn này có thể khác nhau tùy theo hình thức đầu
tư mà họ lựa chọn, có thể có hình thức đầu tư cần thực hiện công việc này nhưng ở
hình thức đầu tư khác không cần thực hiện công việc đó. Đối với các dự án liên
doanh, nhà đầu tư nước ngoài cần có thêm bước lựa chọn đối tác phía Việt Nam,
đồng thời hồ sơ dự án cũng cần phải có thêm nhiều tài liệu hơn như đàm phán, thỏa
thuận điều lệ, hợp đồng liên doanh. Còn trong hình thức đầu tư là 100% vốn nước
- Kinh tế đầu tư 46B -
12
NHÀ ĐẦU TƯ
Hình thành
dự án
Triển khai,
thực hiện dự án
Vận hành
dự án
Kết thúc
dự án
Hình thành
ý tưởng
Được cấp giấy
chứng nhận
đầu tư
Đi vào
sản xuất
kinh doanh
Kết thúc
sản xuất
kinh doanh
Thanh lý
dựán
Luận văn tốt nghiệp
ngoài, nhà đầu tư nước ngoài không phải thực hiện bước công việc này. Cũng tương
tự, trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài có dự án đầu tư chỉ cần phải đăng kí ( dự
án FDI có vốn dưới 300 tỉ đồng) thủ tục đầu tư cũng đơn giản hơn so với khi nhà đầu
tư nước ngoài có dự án đầu tư thuộc diện thẩm tra với các yêu cầu về thẩm tra hồ sơ,
năng lực của chủ đầu tư. Khi dự án FDI đã được cơ quan có thẩm quyền của nước
nhận đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng tức là dự án đã được hình thành trên cơ
sở pháp lý, nhà đầu tư sẽ triển khai thực hiện dự án trong giai đoạn tiếp theo. Đây là
giai đoạn có vai trò quan trọng, tạo tiền đề cho việc triển khai thực hiện dự án trong
các giai đoạn tiếp theo và nhất là với sự thành công của toàn bộ dự án, đặc biệt trong
giai đoạn này, khâu lập dự án đóng vai trò quan trọng.
Giai đoạn thực hiện dự án FDI: trong giai đoạn này có thể chia ra thành hai
giai đoạn nhỏ hơn là giai đoạn triển khai thực hiện dự án và vận hành dự án. Trong
giai đoạn triển khai thực hiện dự án nhà đầu tư nước ngoài tiến hành các công việc
như thiết lập bộ máy quản lý, thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình, thực
hiện các thủ tục hành chính về thuê đất, giao đất, góp vốn, thi công xây lắp công
trình, nghiệm thu công trình và tuyển dụng lao động. Đây có thể coi là giai đoạn biến
dự án mới được hình thành trên giấy tờ trở thành hiện thực để chuẩn bị bắt đầu đi vào
sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm thực hiện mục tiêu của dự án. Tiếp sau giai đoạn
này, dự án sẽ chuyển sang giai đoạn vận hành. Giai đoạn này được bắt đầu kể từ khi
dự án đi vào sản xuất, kinh doanh với công suất vận hành tăng dần ở thời điểm ban
đầu, đạt tối đa và giảm dần khi dự án kết thúc.
Giai đoạn kết thúc dự án FDI: dự án sẽ được tổng kết, đánh giá đồng thời với
việc giải quyết các vấn đề về thanh lý tài sản, chuyển vốn về nước hay giải quyết
công ăn việc làm cho công nhân.
Như vậy, qua quy trình của một dự án FDI, ta có thể thấy được trong quá trình
tiến hành hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, giai đoạn chuẩn bị đầu tư là
giai đoạn đầu tiên trong hình thành một dự án và đóng vai trò hết sức quan trọng, dự
án FDI có được triển khai thuận lợi trong các giai đoạn tiếp theo hay không là tùy
- Kinh tế đầu tư 46B -
13
Luận văn tốt nghiệp
thuộc vào khâu chuẩn bị có tốt hay không. Trong giai đoạn này, việc soạn thảo ra
được dự án có tính khả thi đóng vai trò quan trọng không chỉ với nhà đầu tư để ra
quyết định đầu tư mà còn với cơ quan quản lý nước nhận đầu tư để cấp giấy chứng
nhận đầu tư.
II. Chuẩn bị đầu tư của dự án FDI
1. Tổng quan về chuẩn bị đầu tư của dự án FDI
Chuẩn bị đầu tư là một giai đoạn trong chu kì dự án đầu tư, được bắt đầu từ
khi có ý tưởng đầu tư cho đến khi dự án được cấp phép. Trong toàn bộ chu kì của dự
án đầu tư, chuẩn bị đầu tư đóng vai trò tiền đề và quyết định sự thành công hay thất
bại ở hai giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Chuẩn
bị đầu tư của dự án FDI có thể được hiểu là quá trình mà nhà đầu tư nước ngoài đưa
ý tưởng đầu tư của mình trở thành dự án có tính khả thi hay hình thành dự án trên cơ
sở pháp lý.
Trong giai đoạn này, chất lượng và tính chính xác của các kết quả nghiên cứu,
tính toán và các dự đoán chính xác là quan trọng nhất. Chẳng hạn như khi nhà đầu tư
nước ngoài muốn đầu tư vào lĩnh vực da giày tại Việt nam, nếu không làm tốt bước
nghiên cứu thị trường thì sẽ không dự đoán được thị trường tiềm năng cho sản phẩm
của họ để từ đó lựa chọn quy mô cũng như công nghệ thích hợp. Đồng thời nếu
không dự đoán được các đối thủ cạnh tranh trong sản xuất ra các sản phẩm của dự án
thì sẽ không có những biện pháp phù hợp để chiếm lĩnh thị trường, từ đó dẫn đến khi
dự án đi vào vận hành sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, thậm chí phải giải thể trước
thời hạn.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn này, sự am hiểu, thích nghi với môi trường luật
pháp đầu tư nước tiếp nhận đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài cũng đóng vai trò quan
trọng. Ở các nước phát triển, những quy định về đầu tư là rõ ràng, tạo thuận lợi cho
nhà đầu tư nhưng ở các nước đang phát triển, những quy định về đầu tư phức tạp
hơn, đòi hỏi nhà đầu tư nước ngoài phải tìm hiểu kĩ để dự án có thể nhanh chóng
được cấp phép.
- Kinh tế đầu tư 46B -
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét