1.2- Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình
sản xuất. Quan hệ sản xuất tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức của
con người. Để tiến hành sản xuất con người không chỉ có mối quan hệ với tự
nhiên mà phải có mối quan hệ với nhau để trao đổi hoạt động và kết quả của
lao động. Mác viết: “Người ta chỉ có thể tiến hành sản xuất bằng cách hợp tác
với nhau theo một cách nào đó. Để thực hiện quá trình sản xuất con người
phải có những mối liên hệ, quan hệ chặt chẽ với nhau. Chỉ trong phạm vi của
những mối liên hệ, quan hệ đó thì con người mới có mối quan hệ với tự nhiên,
tức là sản xuất. Quan hệ sản xuất bao gồm ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ sở
hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lý, quan hệ phân phối
sản xuất xã hội. Ba mối quan hệ này nằm trong mối liên hệ ràng buộc quy
định lẫn nhau trong đó quan hệ đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quan trọng
nhất, nó quy định các mối quan hệ còn lại. Bản chất của mối quan hệ sản xuất
ra sao thì phụ thuộc vào việc giải quyết mối quan hệ đối với tư liệu sản xuất
chủ yếu của xã hội như thế nào.
Các quan hệ về tổ chức và quản lý, quan hệ về phân phối sản phẩm xã
hội giữ những vai trò hết sức quan trọng chúng có thể góp phần củng cố, phát
triển sản xuất và cũng có thể làm xói mòn quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất
có tính ổn định tương đối so với lực lượng sản xuất. Ở mỗi giao đoạn phát
triển nhất định của lịch sử quan hệ sản xuất tồn tại trong một phương thức sản
xuất nhất định, quan hệ sản xuất thống trị của mỗi xã hội quy định bản chất và
bộ mặt của mỗi hình thái kinh tế - xã hội. Chính vì vậy khi nghiên cứu quá
trình sản xuất không chỉ dừng lại ở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
mà phải xét tới tính chất của quan hệ sản xuất.
5
Bên cạnh đó thì quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là
những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền
kinh tế - xã hội. Mặc dù phụ thuộc vào các quan hệ còn lại song quan hệ phân
phối sản phẩm do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi ích của con người
nó là “ chất xúc tác” của các quá trình kinh tế - xã hội.
Trong lịch sử đã diễn ra sự tác động biện chứng giữa lực lượng sản xuất
& quan hệ sản xuất tạo thành mối quan hệ lặp đi lặp lại mang tính chất ổn
định của nền sản xuất xã hội. Các Mác rút ra kết luận: sản xuất xã hội có quy
luật khách quan vốn có của nó, đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ của lực lượng sản xuất.
1.3- Quy luật về sự phù hợp của lực lượng sản xuất với trình độ phát
triển của quan hệ sản xuất:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức
sản xuất và tác động biện chứng với nhau. Sự liên hệ tác động biện chứng
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hình thành nên quy luật phổ biến
của toàn thể loài người. Đó là quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quy luật sự phù hợp
này là khả năng phối hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất để tạo
ra hiệu quả lao động cao nhất. Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật vào
việc xem xét mối quan hệ này, từ đó từng bước tìm ra được mối quan hệ giữa
sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
1.3.1- Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và biến đổi
quan hệ sản xuất .
Một đặc điểm của nền sản xuất xã hội là luôn luôn biến đổi và phát triển.
Muốn tồn tại duy trì cuộc sống của mình con người phải lao động; phải tham
gia vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất tự nuôi
sống mình. Muốn vậy quá trình sản xuất phải không ngừng; nó phải diễn ra
6
liên tục; quá trình sản xuất và tái sản xuất phải không bị gián đoạn. Trong
quá trình lao động ấy kinh nghiệm sản xuất của con người ngày càng phát
triển; năng lực chế tạo và cải tiến công cụ lao động cũng phát triển; thúc đẩy
năng suất lao động tăng lên. Nếu như thời kỳ nguyên thuỷ công cụ lao động
được chế tạo chủ yếu bằng đá rồi trải qua quá trình đồ đồng, đồ sắt và ngày
nay con người đã đạt đến trình độ công cụ sản xuất hiện đại với các thiết bị
máy móc tự động Công cụ sản xuất thay đổi, khả năng tư duy, trí tuệ của
con người sản xuất ra công cụ, của cải cũng thay đổi và theo tiến trình phát
triển của lịch sử nó sẽ làm cho quan hệ sản xuất giữa người & người cũng
thay đổi theo. Hay nói một cách khác phương thức sản xuất đã thay đổi cho
phù hợp với lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất quyết định sự hình
thành ,phát triển & biến đổi của quan hệ sản xuất .
Vai trò quyết định cuả lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất thể
hiện ở những nội dung sau:
• Lực lượng sản xuất quyết định tính chất của quan hệ sản xuất. Lực lượng
sản xuất ở trình độ nào thì quan hệ sản xuất cũng phải ở trình độ ấy.
• Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành & biến đổi của quan hệ sản
xuất từ quan hệ sở hữu, quản lý đến quan hệ phân phối.
• Quyết định các hình thức kinh tế của quan hệ sản xuất.
Ngày nay, dưới sự tác động của cuộc công nghiệp khoa học công nghệ
trực tiếp trong lực lượng sản xuất thì nó lại càng làm cho biến đổi nhanh
chóng & toàn diện. Sự biến đổi đó trong giới hạn nhất định thì chưa dẫn đến
sự thay đổi của quan hệ sản xuất nhưng khi nó biến đổi đến một giai đoạn
nhất định thì nó dẫn tới mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có. Những quan
hệ đó từ chỗ là hình thức cần thiết để bảo tồn & phát triển lực lượng sản xuất
thì đã trở thành hình thức kìm hãm sự phát triển đó. Và do đó dẫn đến nhu cầu
khách quan tất yếu phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất
7
mới để phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển. Yêu cầu khách quan đặt
ra trong thực tiễn quản lý kinh tế xã hội là việc xác lập & hoàn thiện các quan
hệ sản xuất nhất định phải căn cứ vào trình độ của lực lượng sản xuất.
1.3.2- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất:
Mặc dù bị chi phối bởi lực lượng sản xuất song với tính cách là hình
thức, quan hệ sản xuất cũng có những tác động nhất định trở lại đối với lực
lượng sản xuất. Nếu như lực lượng sản xuất là thường xuyên biến đổi thì quan
hệ sản xuất lại có tính ổn định hơn, có như vậy nó mới trở thành hình thức
kinh tế của lực lượng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có tính ổn định bởi nó
gắn liền với lợi ích giữa người với người. Nó muốn thay đổi cũng phải trải
qua một thời gian dài đấu tranh & cải biến xã hội.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất là
do quan hệ sản xuất có tác động tới:
• Việc kết hợp các yếu tố của lực lượng sản xuất trong quá trình sản xuất ra
của cải vật chất cho xã hội.
• Việc phân công lao động xã hội.
• Việc phát triển, ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất.
Như vậy rõ ràng quan hệ sản xuất đã tác động tới trình độ của lực lượng
sản xuất & do đó nó tác động tới lực lượng sản xuất.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất chủ
yếu ở hai khuynh hướng:
- Quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, nó
sẽ thúc đẩy, định hướng & tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển.
8
- Quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất,
nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên tác dụng kìm
hãm đó chỉ là tạm thời so với tất yếu khách quan của lịch sử, cuối cùng nó sẽ
bị thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản
xuất.Quan hệ sản xuất lạc hậu lỗi thời hay có những tất yếu vượt trước tiên
tiến hơn một cách không đồng bộ cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất.
Như vậy quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất
(phù hợp). Nhưng do tính năng động của lực lượng sản xuất mâu thuẫn với
tính ổn định tương đối của quan hệ sản xuất nên quan hệ sản xuất từ chỗ phù
hợp với lực lượng sản xuất lại trở nên không phù hợp kìm hãm sự phát triển
của lực lượng sản xuất. Đó chính là biểu hiện của mâu thuẫn biện chứng giữa
lực lượng sản xuất & quan hệ sản xuất. Các Mác viết: “tới một giai đoạn phát
triển nào đó lực lượng sản xuất vật chất xã hội sẽ mâu thuẫn với quan hệ sản
xuất hiện có mà trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phải
phát triển. Từ chỗ là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất những lực
lượng sản xuất ấy trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất, khi đó bắt đầu
thời đại của một cuộc cách mạnh xã hội. (Tập bài giảng triết học Mác -Lênin,
tập2, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2000).
2- Công nghiệp hoá hiện đại hoá - Bước phát triển tất yếu thời đại:
Công nghiệp hoá là bước đi tất yếu mà các quốc gia sớm muộn cũng
phải vượt qua. Trong thời đại ngày nay, dưới tác động của các cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ, việc tiến hành công nghiệp hoá là một việc làm
tất yếu. Nội dung chủ yếu của công nghiệp hoá là trang bị kỹ thuật mới hiện
đại, là xây dựng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với việc tổ chức phân
công lại lao động và đôỉ mới chính sách đầu tư đưa nước nhà từ kém phát
triển thành quốc gia có nền kinh tế phát triển.
9
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta, chủ nghĩa Mác
- Lê Nin đóng vai trò hết sức quan trọng, là cơ sở để chúng ta tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Một trong những nhân tố không thể thiếu trong quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác (đã
được nêu trên), đóng vai trò là cơ sở lí luận.
Trên thế giới cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại đang phát triển
với tốc độ vũ bảo. Đặc trưng của cuộc cách mạng này là sự gắn bó chặt chẽ
giữa khoa học với sản xuất, sự bùng nổ của phát minh thông tin.
Quá trình quốc tế hoá đồi sống kinh tế chính trị xã hội diễn ra nhanh
chóng và trở thành xu thế phát triển của thế giới. Mỗi quốc gia trở thành bộ
phận hữu cơ của nền kinh tế tế thế giới .
Hiện nay Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lí vĩ mô của nhà nước với mục tiêu là đảm
bảo cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, an ninh
quốc phòng và sự bền vững của môi trường. Nền kinh tế Việt Nam chỉ đạt tốc
độ tăng nhanh, hiệu quả kinh tế cao khi nền kinh tế ấy thực dựa trên cở sở
công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế là việc đòi hỏi tất yếu của
mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Điều này khẳng định công nghiệp hoá- hiện đại hoá là một vấn đề quan trọng
đặc biệt, là bước phát triển tất yếu đối với nước ta. Đặc biệt trong thời kì hiện
nay nền kinh tế vẫn mang tính chất đặc thù lạc hậu, công nghiệp còn nhỏ bé,
kết cấu hạ tầng kinh tế kém phát triển, cơ sở kĩ thuật chưa xây dựng là bao
nhiêu, kinh tế phát triển khá nhưng năng suất thấp, chất lượng thấp khả năng
cạnh tranh với các nước kém. Cho nên chỉ có con đường công nghiệp hoá -
hiện đại hoá mới là con đường cơ bản khắc phục được yếu kém của nền kinh
tế nước ta, giữ vững ổn định chính trị xã hội.
10
Dựa vào học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác. Đảng ta tiếp tục
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện hoá đất nước. Từ đó có khả năng
phát triển lực lượng sản xuất và cơ sở hạ tầng cho phù hợp với quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa. Lực lượng sản xuất nứơc ta hiện nay tuy đã phát triển
nhưng chưa phù hợp quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới, công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đang được coi là phương hướng chủ đạo, phải qua các nước đang phát triển.
Đối với nước ta khi những tư tưởng cơ bản học thuyết Mác về hình thái kinh
tế - xã hội được nhận thức lại một cách khoa học và sâu sắc với tư cách là cơ
sở lí luận của công nghiệp hoá - hiện đạt hoá đất nước thì một mặt chúng ta
phải đẩy nhanh sự nghiệp này trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
nhanh chóng tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại cho chế độ xã hội mới - xã hội
chủ nghĩa. Mặt khác chúng ta phải chú trọng xây dựng, phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự đIều tiết của
nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ được thực
hiện đồng thời, chúng luôn thúc đẩy và hỗ trợ nhau cùng phát triển.
11
CHƯƠNG II
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Ảnh hưởng tích cực của công nghiệp hoá hiện đại hoá đối với nền kinh
tế nước ta
Quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá, trong đó nó bao hàm sự phát
triển nền kinh tế chung của đất nước ta, khi tiến hành công nghiệp hoá - hiện
đại hóa tiến lên xã hội chủ nghĩa
Trong quá trình đổi mới đất nước, công nghiệp hoá- hiện đại hoá có vai
trò cực kì quan trọng trong sự đổi mới của nước ta. Nó thúc đẩy cho sự phát
triển của mọi mặt của xã hội. Ở trong điều kiện nước ta hiện nay, cùng với
quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá với việc phân công lao động xã hội, là một tất yếu khách quan. Đẩy mạnh
phân công lao động xã hội trong điều kiện hiện nay không chỉ xuất phát từ
yêu cầu phát triẻn kinh tế, văn hoá, xã hội mà còn đáp ứng nhu cầu hợp tác
quốc tế, chủ động tham gia và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới nhằm xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc.
Để đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước, nhân tố con người
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng được thúc đẩy một cách
12
nhanh chóng, chúng ta trở lại với phương pháp luận của hồ chí minh về vấn
đề này:
Trong hệ thống các biện pháp tác động vào tính tích cực xã hội của con
người, Hồ Chí Minh chủ trọng trước hết là công tác giáo dục chủ nghĩa yêu
nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và đạo đức cách mạng. Chúng ta tiến hành
CNH, HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa lầ nhằm cơ sở vật chất - kỹ
thuật để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng thành công xã hội chủ
nghĩa theo mục tiêu "dân giaù nước mạnh xã hội công bằng văn minh". Lòng
yêu nước tinh thần tự hào dân tộc, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công,
vô tư phải luôn được khơi dậy như là động lực hàng đầu. Dân chủ hoá triệt để
đời sống xã hội là bản chất, là quy luật phát triển củachủ nghĩa xã hội. Hoàn
thiện cơ cấu dân chủ, khắc phục những thiếu sót nghiêm trọng trong quá trình
vận hành các thiết chế dân chủ XHCN mà Hồ Chí Minh đã lưu ý. Vai trò
không ngừng tăng lên của con người gắn liền với việc thúc đẩy nhanh tiến bộ
khoa học- kĩ thuật, với việc đổi mới cải cách giáo dục - đào tạo. Nhân loại
đang bước vào nền văn minh mới - văn minh trí tuệ, một nền văn minh mới
kinh tế kiến thức, một xã hội mới xã hội thông tin.
Về mô hình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nước ta, đang chủ trương
không lặp lại hoá cổ điển, mà tự tìm lấy một mô hình phù hợp với hoàn cảnh
đất nước và điều kiện thế giới ngày nay. Để làm được việc đó giáo dục và
khoa học phải tạo ra những con người có đủ kiến thức, năng lực lựa chon,
phát huy sáng tạo, công nghệ mới; từ đó làm chủ công nghệ nhập biến chúng
ta thành công nghệ của mình và tạo ra công nghệ mới và hiện đại hoá công
nghiệp truyền thống, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, làm ra nhiều
sản phẩm với năng xuất cao, chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu
trong nước và xuất khẩu .
Việc tìm kiếm mô hình đã khó, nhưng việc giải quyết những vấn đề
chung cho quá trình công nghiệp hoá lại càng khó hơn. Để Việt Nam trở
13
thành một nước công nghiệp hoá vào khoảng năm 2020
thì tốc độ tăng trưởng
trung bình từ nay tới đó là 10%năm. Năm 1998 trước những biến động lớn về
kinh tế trong khu vực, Việt Nam đã phải đièu chỉnh xuống mức 7%. Đến năm
1998 chúng ta phải cố gắng đạt tới 10%, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Đảng cộng sản Việt Nam xác định rõ chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm là:
nhịp độ tăng GDP là 7,5%năm. Quả thật, để đạt được mục tiêu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá như đã đặt ra là một thử thách không nhỏ đối với Đảng và
nhân dân ta nói chung, đối với đội ngủ trí thức nói riêng. Việc để đạt được
mục tiêu đề ra là một thách thức lớn, xong nó đã kéo theo sự tăng trưởng
GDP ngày lớn, trình độ văn hoá ngày càng cao, hơn thế nữa mà trình độ văn
hoá văn minh hơn. Đội ngũ trí thức Việt Nam sẽ gánh vác trọng trách này .
Thực hiện công tác đổi mới, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,
nhiều chủ trương, chính sách đối với miền núi được thực thi, cùng với sự nỗ
lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền nhân dân các dân tộc kinh tế ở một số
tỉnh miền núi được quan tâm chú trọng nhiều hơn, như tỉnh Lai Châu gần đây
đã có nhiều khởi sắc tiến bộ. Trong những năm gần đây nền kinh tế tăng
trưởng khá nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển đổi rõ rệt, các chính sách xã hội
được thực hiện tốt hơn, đời sống đồng bào các dân tộc được nâng lên, an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Trong những năm gần đây Lai Châu liên tiếp chịu sự thiệt hại nặng nề do
thiên tai gây ra (lũ quét, mưa đá, mưa đất ), nền kinh tế đã khó khăn càng
thêm khó khăn. Đế từng bước ổn định cho nhân dân, thúc đẩy nền kinh tế
ngày càng tăng trưởng, Lai Châu đã dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá hiện đại hoá .
Việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH ở Tỉnh Lai
Châu sẽ làm thay đổi về cơ bản phương thức sản xuất manh mún, tự cung tự
cấp hiện nay, tạo ra nền kinh tế nông -lâm - công nghiệp - chế biến - dịch vụ
ổn định, từng bước phá thế độc canh, phát huy tiềm năng, nội lực,nâng cao
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét