Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Chương trình có sử dụng hàm, biến toàn cục, biến cục bộ

Danh sách tham số thực sự bao gồm một hay một số tham số thực sự cách nhau
bởi dấu phẩy. Danh sách tham số thực sự có thể là một hàm, một biến hoặc một
biểu thức. Danh sách tham số thực sự là tuỳ chọn. Số tham số thực sự trong danh
sách tham số thực sự phải bằng số tham số hình thức trong danh sách tham số hình
thức. Kiểu của tham số thực sự phải phù hợp với kiểu của tham số hình thức tương
ứng.
Một lời gọi hàm có thể làm cho 1 hay 2 điều xuất hiện. Nếu hàm đã được khai
báo là inline thì thân của hàm được mở rộng tại điểm gọi nó trong lúc dịch, ngoài ra
hàm sẽ được gọi trong lúc chạy. Một lời gọi hàm làm cho điều khiển của chương
trình được chuyển cho hàm được gọi, việc thực hiện của hàm đang chạy lúc đó bị
tạm ngừng. Khi tính toán của hàm được gọi đã hoàn tất thì hàm bị ngừng sẽ lấy lại
hoạt động tại điểm sau lời gọi. Việc gọi hàm được quản lý trong chồng khi chạy
của chương trình. Nếu một hàm không được khai báo trong chương trình trước khi
dùng nó thì sẽ có lỗi khi dịch.
Hàm chỉ được định nghĩa một lần trong chương trình. Về cơ bản định nghĩa hàm
trong tệp văn bản riêng của nó hay trong tệp văn bản có chứa nó và các hàm có liên
quan khác. Một hàm thường được dùng trong các tệp khác tệp chứa định nghĩa của
nó. Do đó cần có phương pháp phụ để khai báo hàm.
Khai báo hàm bao gồm kiểu cho lại của hàm, tên hàm và danh sách đối.
III.Truyền tham số cho hàm.

Khi gặp lời gọi hàm trong chương trình chính thì quá trình thực hiện hàm bắt
đầu. Quá trình này gồm các công việc sau:
- Máy tạm thời rời khỏi chương trình chính, cấp phát bộ nhớ cho các tham số
hình thức và các biến cục bộ.
- Gán các giá trị của tham số thực sự cho các tham số hình thức tương ứng.
- Lần lượt thực hiện các câu lệnh trong thân hàm. Nếu gặp câu lệnh return hoặc
gặp dấu “}” thì máy sẽ xoá các tham số hình thức hoặc các biến cục bộ quay về
chương trình chính ở chỗ có lời gọi hàm. Nếu thoát khỏi hàm bằng câu lệnh Return
thì giá trị biểu thức có trong câu lệnh này sẽ được gán cho tên hàm.
Khi gặp lời gọi hàm thì giá trị tham số thực sự sẽ được gán cho tham số hình
thức tương ứng, mọi tính toán trong thân hàm sẽ được thực hiện trên các tham số
hình thức. Khi thoát khỏi hàm máy sẽ xoá các tham số hình thức và các biến cục
bộ, như vậy những thay đổi đối với các tham số hình thức không thể được truyền
về chương trình chính thông qua tham số thực sự tương ứng.
Vậy làm thế nào để trong chương trình con có thể thay đổi giá trị các biến có
trong chương trình chính?
Người ta dùng con trỏ làm tham số hình thức để giải quyết vấn đề này. Khi đó
người ta truyền cho chương trình con địa chỉ của biến trước và sau lời gọi hàm( tức
5
là trước và sau khi thực hiện hàm địa chỉ này không thay đổi, hoàn toàn phù hợp
với các giả định của C
++
. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hàm thì giá trị chứa
trong địa chỉ đó có thể bị thay đổi, giá trị này được giữ nguyên khi thoát khỏi hàm.
Đây là phương pháp truyền giá trị từ chương trình con về chương trình chính.
VD: Truyền giá trị từ chương trình con về chương trình chính.
// Chuong trinh co ham tinh tong n so.
#include<iostream.h>
#include<conio.h>
float TONG(float *vecto, int n)
{
int i;
float s=0;
for(i=0; i<n;i++)
s=s+ *(vecto+i);
return (s);
}
main()
{
int i;
float a[4]={1,2,3,4};
float b[6]={5,1,2,3,1,4};
clrscr();
cout<<"\n tong vecto a="<<TONG(a,4);//in so 10
cout<<"\n tong vecto b="<<TONG(&b[0],6); //in ra so 10
getch();
}
IV. Sử dụng hàm trong nhiều chương trình khác.
Giả sử có một tệp gọi là: DVVECTERE.CPP
Chứa các hàm sau:
Float TONG VTF( float * vecter, int n);
Float TICH VTF ( float * vecter, int n);
Void NHAP VTF ( float * vecter, int n);
Void IN VTF ( float * vecter, int n);
// Chương trình hàm định nghĩa trong chương trình khác
#include<iostream.h>
#include<conio.h>
#include "C:\ baitap TC \ dvvecter.CPP"
main( )
{
6
int n=2;
float a[10];
NHAP VTF (a,n);
IN VTF(a,n);
TONG VTF(a,n);
TICH VTF (a,n);
Getch( );
}
V. Danh sách đối của hàm.
Các hàm khác nhau của một chương trình có thể thâm nhập chung vào các giá
trị với nhau theo 2 phương pháp. Một phương pháp là dùng biến toàn cục trong
chương trìnhl; Phương pháp thứ hai là dùng danh sách đối hình thức.
Danh sách đối đưa ra một phương pháp khác để thâm nhập chung vào các giá trị
giữa một hàm và chương trình chung. Danh sách đối cùng với kiểu cho lại của hàm
xác định ra giao diện chung của hàm. Một hàm khép kín có thể được dùng qua
nhiều chương trình, nó không nhất thiết bị giới hạn vào một ứng dụng riêng. Nếu
bỏ bớt đi một đối hay truyền cho một đối kiểu sai sẽ gây ra lỗi. Khả năng lỗi trong
truyền đối tăng lên theo kích cỡ của danh sách đối, dùng tối đa là 8 đối.
*Cú pháp danh sách.
Không được phép bỏ thiếu danh sách đối của hàm. Một hàm không có đối có
thể được biểu thị hoặc bằng danh sách đối rỗng hoặc bằng danh sách đối chỉ chứa
một từ khoá void.
//Khai báo tương đương
int fork();
int fork( void);
Danh sách đối còn được gọi là dấu hiệu của hàm bởi vì nó thường được dùng để
phân biệt một thể nghiệm của hàm này với hàm khác. Tên và dấu hiệu một hàm xác
định duy nhất nó.
Dấu hiệu bao gồm một danh sách các kiểu đối phân cách nhau bởi dấu phẩy.
Không có hai tên đối nào xuất hiện trong dấu hiệu được phép trùng nhau. Tên đối
cho phép đối đó được thâm nhập từ trong thân của hàm. Do đó tên đối không cần
viết trong khai báo hàm.
*Truyền đối.
Danh sách đối của hàm mô tả cho các đối hình thức. Mỗi đối hình thức được
cấp bộ nhớ bên trong vùng nhớ của hàm. Các biểu thức nằm giữa 2 dâu ngoặc tròn
của lời gọi hàm được gọi là các đối thực tại của lời gọi. Việc truyền đối vậy là một
tiến trình khởi đầu cho vùng nhớ của các đối hình thức theo các đối thực tại.
7
Với truyền theo giá trị, hàm không bao giờ thâm nhập vào các đối thực tại của
lời gọi, nội dung của đối thực tại không bị thay đổi. Có 2 phương án truyền theo giá
trị.
Thứ nhất là đối hình thức được khai báo là con trỏ.
Void pswap( int * x, int * y)
{
int tg=* y;
*y=* x;
*x=tg;
}
Thứ 2 để truyền theo giá trị là khai báo đối hình thức có kiểu tham khảo
Void rswap( int &x, int &y)
{
int tg= y;
y= x;
x=tg;
}
VI. Các hàm trong C
++
.
1. Tham chiếu.

Tham chiếu là một bí danh của một vùng nhớ được cấp phát cho một biến nào
đó. Một tham biến có thể là một biến tham số hình thức của hàm hay dùng làm một
giá trị trả về của hàm.
*Tham chiếu tới một biến.
VD: int n;
int &p=n;
Dấu & xác định p là một biến tham chiếu, còn dấu "=" và tên biến n để xác định
vùng nhớ mà p tham chiếu tới.
Về bản chất tham chiêu và tham trỏ giống nhau vì cùng chỉ đến đối tượng có địa
chỉ, cùng được cấp phát địa chỉ khi khai báo, nhưng cách sử dụng chúng thì khác
nhau. Khi nói đến tham chiếu "&p" ta phải gắn nó với một biến nào đó đã khai báo
qua "&p=n", trong khi đó khai báo con trỏ "*p" không nhất thiết phải khởi tạo giá
trị cho nó. Sau khi khởi tạo cho tham chiếu gắn với một biến nào đó rồi thì ta
không thể thay đổi để gắn tham chiếu với một biến khác, do vậy để truy nhập đến
vùng nhớ tương ứng với một biến chúng ta có thể sử dụng hoặc là tên biến hoặc là
tên tham chiếu tương ứng.
VD: #include<iostream.h>
8
Void main( )
{
int x=3, &y=x; // y lúc này là " bí danh" của x
cout<<"x="<<x<<"\n";
cout<<"y="<<y<<"\n";
y=7;
cout<<"x="<<x<<"\n";
<<"y="<<y<<"\n";
}
Không thể gắn một tham chiếu với một hằng số trừ trường hợp có từ khoá const
đứng trước khai báo tham chiếu.
Const int &p=3;
*Hằng tham chiếu.
Hằng tham chiếu được khai báo như sau:
Int n=5;
Const int &x=n;
Cũng giống như biến, hằng tham chiếu đến một biến hoặc một hằng.
Int n=5;
Const int &x=n;
Const int &y=100;
Hằng tham chiếu không được phép thay đổi giá trị của vùng nhớ mà nó tham
chiếu. Hằng tham chiếu thường được sử dụng làm đối của hàm để cho phép hàm sử
dụng giá trị của các tham số trong lời gọi hàm.
*Truyền tham số cho hàm bằng tham chiếu.
Nếu đối là biến hoặc hằng tham chiếu kiểu K thì tham số ( trong lời gọi hàm) phải
là biến hoặc phần tử mảng kiểu K.
VD:
/*swap.cpp*/
#include<iostream.h>
#include<conio.h>
/*Ham swap1 duoc goi voi cac tham so duoc truyen theo tham tri*/
void swap1(int x, int y)
{
int temp=x;
x=y;
y=temp;
}
/*Ham swap2 thuc hien viec truyen tham so bang tham tro*/
9
void swap2(int *x, int *y)
{
int temp=*x;
*x=*y;
*y=temp;
}
/*Ham swap3 thuc hien viec truyen tham so bang tham chieu*/
void swap3(int &x, int &y)
{
int temp=x;
x=y;
y=temp;
}
void main()
{
int a=2, b=3;
clrscr();
cout<<"Truoc khi goi swap1:\n";
cout<<"a = "<<a<<"b = "<<b<<"\n";
swap1(a,b);
cout<<"Sau khi goi ham swap1:\n";
cout<<"a = "<<a<<"b = "<<b<<"\n";
a=2;b=3;
cout<<"Truoc khi goi swap2:\n";
cout<<"a = "<<a<<"b = "<<b<<"\n";
swap2(&a,&b);
cout<<"Sau khi goi ham swap2:\n";
cout<<"a = "<<a<<"b = "<<b<<"\n";
a=2;b=3;
cout<<"Truoc khi goi swap3:\n";
cout<<"a = "<<a<<"b = "<<b<<"\n";
swap3(a,b);
cout<<"Sau khi goi ham swap3:\n";
cout<<"a = "<<a<<"b = "<<b<<"\n";
getch();
}
ket qua se la:
Truoc khi goi swap1:
a=2 b=3
Sau khi goi swap1:
a=2 b=3
Truoc khi goi swap2:
a=2 b=3
Sau khi goi swap2:
a=3 b=2
Truoc khi goi swap3:
a=2 b=3
10
Sau khi goi swap3:
a=3 b=2
Trong chương trình trên ta truyền tham số a,b cho hàm swap1() theo tham trị
nên giá trị của chúng trước và sau khi gọi hàm là không thay đổi. Hàm swap2( )
thay vì truyền trực tiếp giá trị 2 biến a,b người ta truyền địa chỉ của chúng rồi thông
qua các địa chỉ này để xác định giá trị biến, bằng cách đó giá trị của 2 biến a,b sẽ
hoán đổi cho nhau sau lời gọi hàm. Hàm swap3( )đưa ra giải pháp sử dụng tham
chiếu, các tham số hình thức của hàm swap3( ) bây giờ là các tham chiếu đến các
tham số thực được truyền cho hàm. Nhờ vậy mà giá trị của 2 tham số thực a và b có
thể hoán đổi được cho nhau.
*Giá trị trả về của hàm là tham chiếu.
Định nghĩa của hàm có dạng:
<type> & fct(… )
{ …
return< biến có phạm vi toàn cục>;
}
Biểu thức được trả lại trong câu lệnh return phải là tên của một biến xác định từ
bên ngoài hàm. Vì nếu là biến cục bộ thì nó sẽ bị mất đi khi kết thúc thực hiện hàm.
Khi trả về của hàm là tham chiếu ta có thể gặp vế trái là một lời gọi hàm chứ
không phải là tên một biến.
VD:
#include<iostream.h>
#include<conio.h>
struct TS
{
char ht[25];
float dt,dl, dh,td;
};
TS ts;
TS &f()
{
return ts;
}
void main()
{
TS &h=f(); // h tham chieu den bien ts
cout<<"\n Ho ten:";
cin.get(h.ht,25);
cout<<" Cac diem toan, diem ly, diem hoa:";
11
cin>>h.dt>>h.dl>>h.dh;
h.td=h.dt+h.dl+h.dh;
cout<<"\n Ho ten:"<<ts.ht;
cout<<"\n Tong diem:"<<ts.td;
getch();
}
2. Đối có giá trị mặc định.
Thông thường số tham số trong lời gọi hàm sẽ bằng số đối của hàm. Mỗi đối sẽ
được khởi gán giá trị theo tham số tương ứng của nó. C
++
cho phép tạo giá trị mặc
định cho các đối. Các đối này có thể có hoặc không có tham số trong lời gọi hàm.
Khi không có tham số tương ứng đối được khởi gán bởi giá trị mặc định.
Sử dụng hàm có đối mặc định: Lời gọi hàm cần viết theo quy định sau:
Các tham số thiếu vắng trong lời gọi hàm phải tương ứng với các đối mặc định
cuối cùng, nghĩa là đã dùng giá trị mặc định cho một đối thì cũng phải sử dụng giá
trị mặc định cho các đối còn lại.
VD:
Hàm có 3 đối mặc định.
Void h( int d1, float d2, char *d3="VIET NAM", int d4=10, double
d5=3.14);
//lời gọi hàm
h( 3, 3.4, "ABC", 10, 10);
h( 3, 3.4, "ABC");
h( 3, 3.4);
3. Hàm trực tuyến( inline).
Để khắc phục nhược điểm của hàm là làm chậm tốc độ chương trình do phải
thực hiện một số thao tác có tính thủ tục mỗi khi gọi hàm. Người ta dùng hàm trực
tuyến.
Để biến một hàm thành trực tuyến ta viết thêm từ khoá inline vào trước
nguyên mẫu hàm. Nếu không dùng nguyên mẫu thì viết từ khoá này trước dòng đầu
tiên của định nghĩa hàm.
VD:
Inline float f( int n, float x);
Float f(int n, float x)
{
// Các câu lệnh trong thân hàm
}
12
hoặc
inline float f(int n, float x)
{
// Các câu lệnh trong thân hàm
}
Không được đặt inline trước định nghĩa hàm. Nếu không bị quẩn không thoát
được.
VD: Sử dụng hàm trực tuyến.
Chương trình tính chu vi, diện tích của hình chữ nhật( Không khai báo nguyên
mẫu khi đó hàm tính phải đặt trên hàm main).
#include<conio.h>
#include<iostream.h
inline void dtcvhcn(int x, int y, int& dt,int& cv)
{
dt=x*y;
cv=2*(x+y);
}
void main()
{
int x[10],y[10],dt[10],cv[10],;
cout<<"\n So hinh chu nhat:";
cin>>n;
for(int i=1;i<=n;++i)
{
cout<<"\n Nhap 2 canh cua hinh chu nhat thu"<<i<<":";
cin>>x[i]>>y[i];
dtcvhcn(x[i],y[i],dt[i],cv[i]);
}
clrscr();
for(i=1;i<=n;++i)
{
cout<<"\n Hinh chu nhat thu"<<i<<":";
cout<<"\n do dai 2 canh="<<x[i]<<"va"<<y[i];
cout<<"\n Dien tich="<<dt[i];
cout<<"\n Chu vi="<<cv[i];
}
getch();
}
4. Đệ quy.
13
Một đối tượng được gọi là có tính đệ quy nếu trong định nghĩa đối tượng này lại
dùng chính bản thân nó tức là dùng chính đối tượng để định nghĩa đối tượng.
Hàm đệ quy là hàm trong định nghĩa hàm có sử dụng lời gọi hàm. Một định
nghĩa đệ quy có ít nhất 2 điều kiện:
- Điều kiện dừng: Nó không chứa đối tượng đang định nghĩa.
- Thành phần đệ quy: Nó có chứa đối tượng đang định nghĩa.
Nếu không có điều kiện dừng thì hàm sẽ đệ quy “mãi mãi”. Sử dụng kỹ thuật
đệ quy cho phép biến một quá trình gồm vô hạn các thao tác thành một quá trình
gồm một số hữu hạn. Sau đó giao cho máy thực hiện với tốc độ rất cao.
Chương trình con đệ quy là chương trình con có chứa lời gọi đến chính nó. Khi
gặp một lời gọi đến chương trình con máy sẽ tạo ra một tập hợp các biến cục bộ
mới, có bao nhiêu lời gọi đến chương trình con thì có bấy nhiêu lần thoát khỏi nó.
Mỗi khi thoát khỏi chương trình con thì một tập hợp các biến cục bộ được giải
phóng, quá trình giải phóng các biến cục bộ ngược với quá trình tạo ra nó, nghĩa là
tập hợp biến cục bộ nào tạo ra sau thì sẽ được giải phóng trước.
Viết và sử dụng các hàm đệ quy làm cho chương trình ngắn gọn nhưng tốn thời
gian tính toán và tốn bộ nhớ. Bằng phương pháp lập trình thông thường có thể
không cần đến kỹ thuật đệ quy.
VD:
// định nghĩa hàm GIAI_THUA theo kiểu đệ quy.
Int GIAI_THUA( int n)
{
int gt;
if( n==0)
gt=1; // điều kiện dừng
else
gt=*n GIAI_THUA( n-1); //thành phần đệ quy
return( gt);
}
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét