địa phương thoái hóa biến chất, phẩm chất sa sút gây nhiều phiền hà cho chủ
đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư…
Thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản thường xảy ra trong những
trường hợp sau:
- Vi phạm thủ tục đầu tư.
Điều kiện cơ bản có tính nguyên tắc để được ghi kế hoạch vốn đầu tư
hàng năm là các dự án phải có đầy đủ thủ tục đầu tư theo quy định của Quy
chế quản lý đầu tư và xây dựng. Tất cả các hiện tượng lỏng lẻo, tùy tiện,
không tuân thủ thủ tục đầu tư đều được coi là các nguyên nhân dẫn tới thất
thoát, lãng phí như: thi công chưa có thiết kế, dự toán chưa phê duyệt…
- Bố trí vốn đầu tư phân tán, dàn trải.
Việc bố trí vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn ngân sách nhà
nước phát tán, dàn trải, thiếu tập trung. Việc bố trí vốn phân tán, dàn trải sẽ
dẫn tới lãng phí lớn vì khối lượng thi công dở dang lớn, công trình chậm đưa
vào sử dụng.
-Thiếu vốn đối ứng nên gây khó khăn cho việc giải ngân các dự án
ODA.
Việc không giải ngân kịp tiến độ không còn là điều lạ ở Việt Nam.
Hiệu quả giải ngân thấp, đây là điều làm cho tăng trưởng kinh tế bị hạn chế.
- Tình hình nợ xây dựng cơ bản và hoàn trả tạm ứng đang trở nên gay gắt.
Nợ khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành do chưa có vốn thanh toán
diễn ra ở một số Bộ. Các khoản nợ xây dựng cơ bản vượt quá khả năng cân
đối của Ngân sách nhà nước, dẫn đến việc chiếm dụng vốn lẫn nhau, nợ quá
hạn Ngân hàng tăng…
Do nhiều nguyên nhân, trước hết là do ý thức của những người quản lý và
sử dụng tài sản nhà nước yếu kém, tài sản nhà nước không được khai thác tốt,
ít sinh lời, thậm chí bị thất thoát.
Lãng phí lớn nhất là sự kém hiệu quả của việc khai thác tài sản (các
khoản đầu tư không phát huy tác dụng, quy hoạch sai…), tình trạng “rút ruột”
công trình… Đây là vấn đề chính mà nhà nước cần ưu tiên xử lý.
Trong các thành phần kinh tế nhà nước, cổ phần hóa là trường hợp đặc
biệt của tư nhân hóa, bán một phần hay toàn bộ một doanh nghiệp nhà nước
cho nhiều người hay tổ chức. Nó không làm mất đi tài sản nhà nước nếu bán
đúng giá. Tuy nhiên, tình trạng thất thoát và lãng phí trong cổ phần giá vẫn
diễn ra nghiêm trọng.
Hai kiểu thất thoát tài sản nhà nước điển hình trong cổ phần hóa là: cổ
phần hóa cho không và để những người tay trong chiếm đoạt. Đối với một số
nước xã hội chủ nghĩa, “cho không” được hiểu như chia đều tài sản doanh
nghiệp cho mọi công dân.
Hình thức thất thoát đầu tiên tuy ở Việt Nam không xảy ra, nhưng
chúng ta lại đang đối mặt với kiểu thất thoát thứ hai. Tài sản nhà nước lọt vào
tay những người “tay trong” với giá rất bèo.
Những người “tay trong” chính là những người có quyền cho phép cổ
phần hóa, những người biết rõ tình hình doanh nghiệp. Họ dựa vào hiểu biết
của mình để đánh giá thấp giá trị thực của doanh nghiệp, nhằm thúc đẩy việc
cổ phần hóa thành công và họ có cơ hội mua rẻ.
Tại Việt Nam, cổ phần hóa không thu gì cho ngân sách nhà nước. Số
tiền cổ phần hóa được dùng cho tăng vốn doanh nghiệp. Nếu nhà nước thu về
thì lại để thành lập quỹ hỗ trợ cổ phần hóa. Vòng luẩn quẩn đó cần phải được
Nhà nước xem xét lại.
II. Nguyên nhân thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng chung
cư ở Việt Nam nói riêng:
1. Trình độ năng lực yếu kém và sự thoái hoá về đạo đức của
không ít các chủ dựa án và ban quản lý dự án
2.Trách nhiệm của chủ đầu tư từ chủ đầu tư cao nhất là Nhà Nước
đến cac bộ ngành chính quyền các cấp chưa được thực thi đúng mức thể hiện
thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thực hiện không đầy đủ và
chơa nghiêm túc, lề lối làm việc trong nhiều dự án thiếu khoa học.
3. Cơ chế phân công, phân cấp, phối hợp nhiều chồng chéo, không rõ
trách nhiệm, tạo môi trường cho sự phát sinh tình trạng cục bộ, bản vị và
khép kín
4. Chính sách về tài chính thiếu ổn định, chính sách đền bù giải
phóng mặt bằng, tái định cư không thống nhất thiếu sự nhất quán.
5. Hệ thống văn bản pháp luật từ quy hoạch, quản lý đầu tư xây
dựng cơ bản đến đấu thầu, giải phóng mặt bằng, nghiệm thu, quyết
toán chưa đầy đủ, nhiều nội dung không còn phù hợp với thực tế, thiếu cụ
thể, không đồng bộ, hay thay đổi và thiếu chế tài nghiêm minh
6. Đầu tư dàn trải, kéo dài, kém hiêụ quả.
7. báo cáo thiếu trung thực, chưa công khai các dự án ra đấu thầu
8. Thiếu vốn, vốn phân giải chậm
9. Chủ thầu và chủ đầu tư cấu kết với nhau
10. Các cơ quan bô, ngành, địa phương vẫn nặng nề về thành tích
11. Quyết định đầu tư sai
12. Thói quen chạy chọt thì mới cấp thêm vốn
13. Những dự án đã hoàn tất nhưng không được đưa vào sử dụng
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG
XÂY DỰNG CHUNG CƯ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 - 2009.
I. Thất thoát lãng phí trong xây dựng cơ bản nói chung 2005 –
2009 :
Công bố danh sách “đen” trong xây dựng Tập hợp từ những bài báo
phát hành năm 2005 và nửa đầu 2006, Tổng hội Xây dựng Việt Nam đã đưa
ra danh sách 43 dự án đầu tư xây dựng có thất thoát, lãng phí.
1. Trường THPT năng khiếu Nguyễn Thị Định (TP.HCM).
2. Nhà máy chế biến cà chua công suất 200 tấn/ngày (Hải Phòng).
3. Nhà máy xử lý bùn phốt (Hải Phòng).
4. Khách sạn du lịch và công viên của TP Hải Phòng.
5. Trung tâm thương mại huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh).
6. Nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu (Thái Bình).
7. Nhà máy chế biến gạo sau thu hoạch (Đông Hưng, Thái Bình).
8. Nhà máy nước Chi Nê (Lạc Thủy, Hòa Bình).
9. Công viên nước TP Đà Nẵng.
10. Bốn chung cư cao năm tầng tại phường Quang Trung (Hà Giang).
11. Nhà máy granit Thiên Thạch (Nam Định).
12. Nhà máy ximăng Hồng Phong (Lạng Sơn).
13. Một số dự án xây dựng công viên ở Hà Nội.
14. Các dự án nhà ở và khu đô thị tại Hải Phòng.
15. Cụm tuyến dân cư vượt lũ đồng bằng sông Cửu Long.
16. Chương trình kiên cố hóa kênh mương tại Ninh Thuận.
17. Dự án sửa chữa, nâng cấp cụm công trình thủy lợi của Nông trường Sao
Vàng (Thọ Xuân, Thanh Hóa).
18. Công viên văn hóa An Hòa (Rạch Giá, Kiên Giang).
19. Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải TP Huế.
20. Nhà máy nước Cao Xá (Lâm Thao, Phú Thọ).
21. Hồ chứa nước Nam Du (đảo Nam Du, Kiên Giang).
22. Kênh tưới nước Dốc Lời và kênh tưới nước Dương Hà (Gia Lâm, Hà
Nội).
23. Nhà thi đấu đa năng tỉnh Bắc Ninh.
24. Một số dự án xây dựng của tỉnh Cà Mau (thư viện tỉnh, chi cục thuế, câu
lạc bộ thiếu nhi, trụ sở UBND TP, kho bạc nhà nước, Trường THCS Nguyễn
Đình Chiểu, tượng đài Cà Mau).
25. Nhà văn hóa tỉnh Đồng Tháp.
26. 670 dự án với tổng vốn trên 1.416 tỉ đồng của tỉnh Vĩnh Phúc.
27. Dự án Nhà máy nước Cầu Đỏ (Đà Nẵng).
28. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau.
29. Đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ tỉnh Tây Ninh.
30. Chương trình kiên cố hóa trường học, lớp học tại tỉnh Bình Định.
31. Hồ bơi thiếu nhi tỉnh Sóc Trăng.
32. Hồ chứa nước Cửa Đạt (Thanh Hóa).
33. 11 dự án của tỉnh Lâm Đồng.
34. 120 dự án xây dựng trường học ở các địa phương với tổng vốn đầu tư
684 tỉ đồng.
35. Các dự án của Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (cải tạo khách sạn Đồng
Khởi, cải tạo khách sạn Edenrok).
36. Dự án cải tạo hồ Phú Lão (Lạc Thủy, Hòa Bình).
37. Dự án thoát nước đường Hoàng Hoa Thám (TP.HCM).
38. Cầu Bản Phiệt (Lào Cai).
39. 10 dự án trọng điểm của tỉnh Phú Yên.
40. Dự án chỉnh trị cửa sông Đà Nông (Phú Yên).
41. Dự án xây dựng Trường THPT Nguyễn Hữu Huân (TP.HCM).
42. Chương trình kiên cố hóa trường học tại các địa phương.
43. Bảy cụm tuyến dân cư sống chung với lũ của bảy tỉnh Long An, Đồng
Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long.
Không chỉ góp phần “góp lửa” cho cuộc chiến chống thất thoát - lãng
phí trong đầu tư xây dựng cơ bản,mà danh sách những dự án có lãng phí, thất
thoát, các dự án, dạng sai phạm trong quản lý, sử dụng đất đai cũng đã được
điểm tên.
Bản danh sách “đen” đã gây được sự quan tâm rộng rãi. Ðiều này đã
được minh chứng bởi danh sách 59 công trình có lãng phí, thất thoát do Tổng
hội xây dựng Việt Nam tổng hợp và tung ra năm 2005.
Thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản là vấn đề luôn được dư luận xã
hội đặc biệt quan tâm. Có ý kiến cho rằng, số tiền thất thoát trong lĩnh vực
đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm đủ để trả lương cho toàn bộ khu vực hành
chính nhà nước. Tỷ lệ thất thoát lớn và hầu như chỉ có những công trình do
Nhà nước đầu tư mới xẩy ra thất thoát là vấn đề nhức nhối từ khá lâu và đến
nay vẫn chưa “cũ”.
Phần lớn đó là dự án thuộc các địa phương làm chủ đầu tư, bằng nguồn
vốn ngân sách của địa phương. Trong đó có một số dự án do trung ương đầu
tư nhưng địa phương quản lý.
II.Thất thoát lãng phí ngay từ giai đoạn lập dự án.
Thậm chí, thực tế cho thấy, thất thoát lớn nhất xuất hiện ngay trong giai
đoạn lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, chiếm trên 70% tổng số thất thoát,
lãng phí. Theo Tổng hội Xây dựng Việt Nam, tình trạng thất thoát trong các
công trình xây dựng hiện nay không chỉ là những hành vi rút ruột, ăn bớt,
khai khống mà xuất hiện ngay từ khâu đầu tiên của một đời dự án là lập dự án
đầu tư, khảo sát, thiết kế.
Về thất thoát trong lập dự án đầu tư có hai dạng phổ biến. Thứ nhất, ở
nhiều địa phương, bí thư hay chủ tịch làm chủ đề tài để ghi dấu ấn của mình
trong thời gian đương chức và dẫn đến hàng loạt công trình “đắp chiếu”, thiệt
hại hàng trăm tỉ đồng như các khu chung cư – đô thị
Thứ hai là hiện tượng đơn vị tư vấn lấn át, dẫn dắt, bẻ ghi khiến chủ
đầu tư phải làm theo ý mình trong khi chất lượng khảo sát, thiết kế, tư vấn
không hoàn chỉnh. Chất lượng tư vấn đang là vấn đề lớn của ngành xây dựng
nói chung và các khu chung cư – đô thị nói riêng. Không ít các công ty tư
vấn, thiết kế yếu về trình độ, năng lực và kinh nghiệm nhưng lại đảm nhiệm
các công trình có giá trị lớn.
Trong khi đó, công đoạn thẩm định dự án cũng chưa đáp ứng yêu cầu,
dẫn đến nhiều quyết định đầu tư sai lầm, kém hiệu quả gây nên tình trạng thất
thoát và lãng phí trong xây dựng cơ bản.
2.1 Những dự án cụ thể gây thất thoát lãng phí ngay từ khâu chuẩn
bị, lập dự án.
• Thành phố Hải Phòng, nhiều dự án nhà ở và khu đô thị được đầu tư
theo kiểu phong trào rồi bỏ dở, gồm 129 dự án nhà, trong đó có 108 dự án
phát triển khu đô thị mới. Nhiều dự án đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng, để rồi
vẫn chỉ là bãi đất, vừa lãng phí tiền đầu tư vừa lãng phí đất sản xuất nông
nghiệp. Ðiển hình như khu nhà ở Cựu Viên, đầu tư trên 155 tỷ đồng đã hơn 5
năm, khu đô thị mới ngã năm sân bay Cát Bi đầu tư trên 100 tỷ đồng, từ năm
1997 hiện chỉ có bãi đất trống bỏ hoang.
Nguyên nhân chính dẫn tới tiến độ của nhiều dự án, công trình trọng
điểm này chậm là do khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng.
Dự án khu đô thị mới Ngã năm sân bay Cát Bi, hầu hết các điểm nút
quan trọng cần giải phóng mặt bằng bị kéo dài do còn nhiều tổ chức, hộ dân
không chịu nhận tiền bồi thường, hoặc đã nhận nhưng chưa bàn giao mặt
bằng đã làm chậm tiến độ thi công của dự án.
Trong khi đó, có nhiều phương án đền bù, giải phóng mặt bằng được
thông qua từ năm 2004, 2006 đến nay vẫn chưa xong nên phát sinh thêm
nhiều vấn đề cần giải quyết, càng làm công tác giải phóng mặt bằng thêm
chậm trễ.
Một số dự án thứ phát chậm triển khai có tác động không nhỏ tới công
tác giải phóng mặt bằng. Lãnh đạo các ngành, các địa phương đều cho rằng đã
nỗ lực, cố gắng nhưng cơ chế, chính sách có nhiều thay đổi nên mất thời gian
làm lại.
Cưỡng chế giải phóng mặt bằng ở khu đô thị mới Ngã năm - sân bay Cát Bi, Hải
Phòng. (Ảnh: anhp.vn).
• Nhiều dự án đã dành phần lớn diện tích để “ưu tiên” cho cán bộ địa
phương bán lại thu lợi. Ðiển hình nhất là dự án xây dựng nhà ở tại phường Dư
Hàng Kênh, An Hải, Hải Phòng. Chỉ có 168 suất đất giao cho dân xây nhà ở,
còn 680 suất đất được cấp cho “các quan”, trong đó có 420 suất dành cho cán
bộ thành phố Hải Phòng.
Những lô đất chia nhau nay đã biến thành nhà mặt phố.
Từ dự án cho dân nghèo
Ý tưởng ban đầu rất tốt đẹp là biến khu đất ven đô hơn 10 ha ở cánh
đồng Quán Nam, xã Dư Hàng Kênh, huyện An Hải (nay là phường Dư Hàng
Kênh, quận Lê Chân) thành khu dân cư cho dân nghèo thiếu chỗ ở. Cái ý
tưởng đó bỗng tan thành mây khói khi khu đất Quán Nam từ đất quê chuẩn
bị thành đất nội thành (tức là xã Dư Hàng Kênh sẽ lên thành phường Dư Hàng
Kênh thuộc quận Lê Chân).
Nhận thấy khu đất trở nên đắc địa, UBND huyện An Hải (sau này tách
thành huyện An Dương và quận Hải An) đề xuất làm dự án nhà ở cho dân
một cách chóng vánh kèm theo là danh sách các cán bộ huyện và xã nấp sau
dự án để dễ bề chia đất.
Khi “dự án” được đề xuất lên cấp sở và UBND thành phố, một số quan
chức thành phố thấy khu đất quá đẹp bèn “giao kèo” với huyện phải chia cho
thành phố 455 lô.
Việc chia chác đất công bắt đầu từ Công văn số 259 của Viện Quy
hoạch Hải Phòng, ký ngày 5/7/2001 về việc xây dựng khu nhà ở đồng Quán
Nam, xã Dư Hàng Kênh, huyện An Hải cho một số cơ quan thành phố như
Ban Tuyên giáo Thành ủy, ủy ban Kiểm tra Thành ủy, Sở Địa chính-Nhà đất
(nay là Sở Tài nguyên & Môi trường) và nhân dân phường Dư Hàng Kênh
thành đất của quan chức
Tuy nhiên, ngày 10/5/2002, Thành ủy Hải Phòng có Nghị quyết 06
không đồng ý chia lô để xây dựng nhà ống mà khuyến khích xây dựng nhà
biệt thự, nhà vườn, nhà hợp khối liền kề phù hợp kiến trúc hiện đại.
Sau đó, UBND TP Hải Phòng có Quyết định số 2892 (ngày
25/11/2002) duyệt kế hoạch giao đất cho công dân làm nhà ở. Theo đó thu hồi
gần 120.000 m2 đất để giao cho 374 hộ.
“Phớt lờ” ý kiến chỉ đạo của Thành ủy và UBND TP Hải Phòng kể
trên, UBND huyện An Hải cấp tốc ban hành liền 6 quyết định kèm theo là
danh sách 848 hộ được giao đất. Trong đó, 168 lô được giao cho các hộ dân
xã Dư Hàng Kênh bằng QĐ số 12b, ký ngày 6/1/2003. Đồng thời ký hàng loạt
quyết định cấp 680 lô đất đắc địa cho nhiều quan chức của thành phố, của
huyện và của xã
Kèm theo đó, UBND huyện còn cấp 848 Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho 168 hộ dân và 680 hộ “quan”. 680 lô đất ở Quán Nam (Dư Hàng Kênh)
được các quan chức chia chác như sau: 420 lô chia cho các cơ quan trực thuộc
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét